Mắt phố – Truyện & tạp văn Nguyễn Kim Huy

Mắt phố - Truyện & tạp văn Nguyễn Kim Huy

MẮT PHỐ

Nguyễn Kim Huy

 

TRIỀN SÔNG THƠ ẤU

Bao nhiêu năm rồi Hanh mới có dịp trở về bên bờ con sông Trầu thân thương ngày thơ ấu.
Chưa bao giờ một bước xa quê mãi đến năm mười tám tuổi khi được gọi vào đại học, Hanh những tưởng rằng mình sẽ không bao giờ xa cách được cái xóm nhỏ chôn nhau cắt rốn nằm bên con sông Trầu đầy kỷ niệm vui buồn thời niên thiếu của mình. Không ngờ một bước ra đi là ra đi biền biệt. Tốt nghiệp đại học rồi về một làm việc ở thành phố, rồi xây dựng gia đình và có hai con nhỏ, cuộc sống và công việc đã cuốn hút Hanh vào giòng xoáy liên tục của nó, không thể nào dứt ra được. Mẹ già vẫn sống ở quê, thui thủi có một mình, mà họa hoằn lắm anh mới về thăm được. Mỗi lần về cũng chỉ trong chốc lát, khi thì tranh thủ một chuyến công tác, khi thì tận dụng mấy ngày lễ tết, vội vội vàng vàng chưa kịp chào hỏi thăm viếng ai đã phải quay trở lại thành phố luôn ngập đầu công việc.
Hanh cảm thấy mình có lỗi với ngay cả dòng sông.
Những lúc như thế này, được thảnh thơi đi dạo dọc triền con sông quê hương khi chiều đã tắt nắng, thoải mái nhìn ngắm bụi bờ lau lách và dòng nước xanh biếc bình yên êm đềm xuôi chảy, Hanh mới thực sự cảm thấy mình đang sống, đang được hít thở, tận hưởng làn không khí tinh khiết và cái hương vị ngọt ngào của cuộc sống. Sự ồn ào, xô bồ, bụi bặm của phố phường đã bị ngọn gió đồng quê trong lành, mát rượi, vô nhiễm đánh bạt đi.
Ngọn gió triền sông đưa Hanh trở lại thời thơ ấu.
Ngày ấy, mẹ vẫn thường mắng yêu Hanh:
– Người ta hanh thì thông. Còn mầy, chỉ thấy Hanh thì thêm hao thôi.
Mẹ nói chữ đấy. Mà quả thật, từ khi Hanh lên mười, mẹ nhờ đâu không thấy, chỉ thấy toàn hao tốn thêm. Quần áo, sách vở, chắt bóp mấy mỗi năm cũng phải một lần sắm vào năm học mới. Mà mỗi lần sắm, ghè lúa vơi đi quá nửa trong tiếng thở dài âm thầm của mẹ , đàn gà nhép năm bảy con rơi vào cảnh ly biệt thảm thiết, con lợn nhỡ trong chuồng mấy đêm liền cứ giật mình thảng thốt kêu lên eng éc trong cơn mơ ngủ vì nhớ đến tiếng chân thình thịch và cái liếc xéo đầy sự coi thường của bác Bảy Đóp. Lòng tự trọng của chú heo bị tổn thương nghiêm trọng sau mỗi cái trề nhún của bác.
Lòng tự trọng của Hanh cũng tổn thương quá sau mỗi lần mắng yêu của mẹ.
Mẹ có biết đâu, Hanh cũng tủi lắm chứ. Trong xóm, bạn bè lứa tuổi Hanh, có khi còn nhỏ hơn cả Hanh, đều luôn luôn bận rộn công việc. Đứa phụ cha mẹ cày cuốc gặt hái, đứa chăn giữ đàn bò năm bảy con, đứa lên núi cắt lá kiếm củi. Sau giờ học, đứa nào cũng tất bật công này việc kia. Đứa nào cũng giỏi giang chăm chỉ. Chỉ mỗi Hanh là vô tích sự. Hanh lẻo khẻo, ốm yếu, nhà một mẹ một con nên mẹ chẳng dám giao cho Hanh việc gì, ngoài việc học.
Mẹ cứ bảo là Hanh hậu đậu, chẳng làm việc gì cho ra hồn.
Một lần, trước buổi cấy ở đồng Mù U, mẹ dặn:
– Mẹ đi cấy đây. Con ở nhà trông nhà. Coi chừng bầy gà vô nhà bươi phá tùm lum đó.
Hanh dạ. Tối mịt mẹ về, í ới gọi từ ngoài ngõ:
– Hanh ơi Hanh! Ra mẹ cho con châu chấu nướng ăn nè.
Im thin thít. Mẹ đi thẳng ra giếng vừa múc nước dội chân ào ào, vừa lầm bầm:
– Ủa, cái thằng đâu rồi cà. Hanh ơi.
Vẫn lặng thinh. Mẹ đi vội vào nhà, dớn dác:
– Con đâu rồi, Hanh?
Có tiếng dạ rất khẽ từ trong góc nhà tối om:
– Con ở đây.
Hanh lò dò chui ra từ trong một… chiếc ghè mẹ dùng để rấm chuối. Chờ mãi không thấy mẹ về, đói bụng, cu cậu mò vào nơi mẹ rấm buồng chuối mới chặt, chén một bụng no căng rồi cuộn tròn, đánh một giấc luôn trong đó.
Buồng chuối lùn mẹ chờ đến ngày giỗ cha đem ra chợ thế là đi tong. Trong ghè tối om, cu cậu quơ được trái nào nắn nghe mềm mềm êm êm là vặt ngay. Cả buồng chuối nần nẫn trở thành xù xì thảm hại, lỗ chỗ xơ xác chẳng còn nải nào nguyên vẹn. Mẹ chỉ còn biết kêu trời.
Lần khác, mẹ bảo Hanh đi trông chừng đám đậu sắp nhổ được. Hanh xăng xái đi. Đám đậu nhà Hanh trên vườn Duối cách nhà hơi xa, đàn gà trong xóm chừng cũng coi thường cảnh mẹ goá con côi nhà Hanh không ai coi trông, cứ chực lúc vắng người là táo tác gọi nhau kéo lên bới tung. Phen này Hanh sẽ cho bọn gà tinh quái biết tay!
Thật lạ, bầy gà hôm nay vắng bặt. Mấy con chim cút thoáng thấy bóng Hanh, lủi ngay vào bụi. Khu vườn yên tĩnh chìm trong sương sớm. Ngó quanh quất, Hanh phát hiện ra cây duối trái chín vàng rực trĩu cành bên một góc vườn. Cu cậu tót ngay lên cây. Những trái duối chín mọng ứa mật làm Hanh quên phứt đám đậu, chừng nghe tiếng lục cục ngó xuống thì ôi thôi, bầy gà đang ầm ĩ làm bữa tiệc sáng ở đó. Cuống quít lao xuống đuổi bầy gà chạy tán loạn, Hanh nhìn thấy một góc đám đậu bị bới tanh banh. Cậu ngồi xổm xuống săm soi mấy gốc đậu bị gà mổ xơ xác, bắt đầu bứt vài trái cho vào miệng nhấm nháp…

Trưa, đi làm về ghé vô, mẹ nhìn một góc đám đậu phộng xơ xác và thằng con miệng mồm đất cát lem luốc, la bai bải:
– Thôi, ngày mai con khỏi đi coi đậu nữa. Để gà bươi có khi còn… đỡ hao hơn. Một bụng đậu sống đó, tối nay về rồi biết thân con ơi!
Sau hai lần ấy, mẹ chẳng còn tín nhiệm Hanh trong việc gì nữa.

Hanh đang ngồi buồn thiu hóng nắng trước sân thì ông Sáu đi ngang, gọi:
– Ê nhỏ, làm gì mà ngồi thiền đó mầy?
– Dạ…
Hanh ngắc ngứ chẳng biết trả lời sao cho thuận thì ông Sáu đã tiếp:
– Không có việc chi làm thì đi cắm câu với tao đi.
Hanh mừng rơn:
– Thiệt hông, ông Sáu?
– Cái thằng, có chi mà không thiệt. Đi với tao, kiếm vài con cá tràu mẹ mày nấu canh chua cho mà ăn. Tuyệt cú mèo.
Rồi ông nghêu ngao hát: Chiều nay em đi câu cá – Về cho má nấu canh chua…
Ông Sáu vốn vui tính. Nhà cách nhà Hanh một hàng rào chè tàu. Từ hồi nào giờ ông ở vậy, chẳng thấy vợ con anh em gì, một thân một mình trong cái chái tranh mục nát tơi tả mà lúc nào cũng thấy ông vui như tết, hát hò luôn miệng.
Được đi cắm câu với ông thì còn gì bằng.
Nhưng mà Hanh tiu nghỉu:
– Con chẳng có cái cần câu nào đâu.
Ông khoát tay:
– Khỏi lo, nhỏ. Tao cho mày mượn, muốn mấy có mấy. Sao, có đi với tao không?
Không đợi ông giục thêm lần nữa, Hanh khép cửa, quơ lấy cái nón lá rồi cứ chân không lúc thúc vừa đi vừa chạy theo ông Sáu ra phía đồng Nuộc có con sông Trầu chảy quanh.
Tối hôm ấy, Hanh cứ nằm chong chong đợi sáng, không tài nào ngủ được. Mặc dù bị mẹ mắng cái tội đi không xin phép, người ngợm lấm lem bùn đất từ đầu đến chân khi về nhà vào lúc trời đã tối mịt nhưng Hanh vẫn cứ như mở cờ trong bụng. Cu cậu giấu tịt chuyện đi cắm câu với ông Sáu. Để sáng mai, mẹ sẽ sửng sốt khi thấy Hanh xách về một xâu cá đồng tươi rói. Hanh nằm lơ mơ, tưởng tượng ra những con tràu đen trũi, con trê vàng hườm đang hí hửng tranh nhau bơi về phía những cần câu cặm chắc nịch với những con mồi ngon lành của Hanh. Chà, cắn câu rồi chúng quẫy phải biết! Nhưng mà chạy đâu cho thoát. Câu của ông Sáu nhà nghề chứ có phải tay mơ nào đâu. Những ba mươi cần, Hanh đã chọn cắm toàn những chỗ ngọt nước, lũ cá ngờ nghệch ấy mà không cắn câu mới lạ. Chuyến này, mẹ sẽ hết bảo là thằng Hanh hao nữa.
Gà gáy lần thứ nhất, Hanh đã lồm cồm bò dậy, khẽ khàng mở cửa rồi lẻn nhanh sang nhà ông Sáu, thò đầu vào tấm liếp cửa trống hoác, gọi:
– Ông Sáu! Ông Sáu!
– Tiếng húng hắng ho, rồi tiếng ông Sáu làu bàu:
– Gì đó mầy, nhỏ? Còn sớm hoánh mà!
– Gà gáy rồi ông ơi!
– Mới gáy đầu mà. Thôi, về ngủ đi, chừng gà ra chuồng hẵng đi.
Chưa dứt câu, đã lại nghe tiếng ông Sáu ngáy khò khò ngon lành. Chán quá, Hanh ngồi phịch trước ngõ ông, đợi. Gà gáy lần hai, vẫn không nghe ông Sáu động tĩnh gì. Chờ thêm một lát, nóng ruột, Hanh quyết định ra đồng Nuộc dỡ câu một mình. Đang háo hức, cu cậu quên bẵng nỗi sợ ma cố hữu của mình.
Nhưng sự háo hức của Hanh nhanh chóng nguội đi như mèo gặp mưa. Chui xuống bụi dứa um tùm nín thở dỡ cần đầu tiên, Hanh hụt hẫng nhìn đầu cần câu nhẹ bỗng, trống không. Một ít rơm rác dính vào lưỡi câu bùng nhùng. Cần thứ hai, thứ ba… rồi cần nào cũng nhẹ tênh. Có chỗ, chú rốc non làm mồi còn leo tuốt lên mấy cọng dứa dại, ngọ nguậy ngoe càng trêu ngươi. Hoạ có con cá ngố nào leo lên nổi mấy cây dứa dại mới mắc câu của Hanh!
Ba chục cần câu, Hanh giăng suốt trên một quãng dài dọc bờ sông Trầu vốn có tiếng cá tôm đặc nước giờ chịu chung số phận, dồn lại thành đống bùng nhùng buồn thiu, tiu nghỉu như nỗi thất vọng đang tràn trề trong lòng Hanh lúc này.
Hanh ngao ngán nhìn mớ cần câu sũng nước.
Niềm vui bất ngờ cậu định dành cho mẹ sáng nay thế là tiêu tan. Rốt cuộc lại, cậu vẫn cứ là Hanh hao, Hanh hậu đậu, có lẽ suốt đời chẳng làm được việc gì nên hồn. Mẹ vất vả tất bật suốt ngày, còn cậu chẳng làm được chút việc cỏn con nào giúp mẹ.
Trời vẫn chưa sáng rõ. Bờ sông và cánh đồng vắng ngắt. Những lùm cây ven sông đu đưa trong bóng tối im lìm, tạo nên vô số hình thù kỳ dị đầy vẻ ma quái.
Lúc này Hanh mới thấy sợ. Nhứt chạng vạng nhị rạng đông. Những câu chuyện ma trên đồng Nuôc hiện lên rõ mồn một trong trí óc cậu. Hanh nhắm mắt, tay chân bắt đầu run. Lạy trời cho ông Sáu mau mau ra đây!
Tiếng ông Sáu vang lên làm Hanh giật thót người:
– Sao mà ngồi chù ù đó mầy? Dỡ hết câu chưa? Trúng chứ?
Hanh nói như mếu:
– Chẳng được con nào hết ông Sáu ơi.
Ông Sáu ngạc nhiên:
– Sao kỳ vậy? Hôm nay được nước lắm mà. Thôi, mầy ngồi chờ đó, để tao đi một vòng xem sao.
Nhìn vẻ thất vọng của Hanh, ông Sáu lắc đầu, bỏ đi về phía bờ sông.
Một lúc sau, có tiếng ông Sáu kêu to:
Hanh ơi Hanh! Lại đây mau mà xem nè!
Hanh đâm bổ về chỗ ông Sáu gọi. Trời đất. Một cần câu đang oằn đầu nhấp nhô trên mặt nước, tiếng cá quẫy rần rật, nước sủi bọt bắn tung toé chao đảo đám cỏ lác.
Ông Sáu làu bàu:
– Dỡ câu lên đi. Cẩn thận không nó vuột mất. Quái, cái thằng, làm sao lại bỏ sót đúng cần câu trúng con cá bự chảng thế này. Phải bằng bắp chân là ít.
Không đợi ông Sáu giục thêm, Hanh nhào ngay xuống chỗ con cá đang vùng vẫy. Làm sao mà lúc nãy, Hanh có thể bỏ sót chỗ này được, nhất là khi con cá mắc câu đang vùng quẫy ầm ĩ thế kia? Thật chẳng thể hiểu nổi.
Ông Sáu chẳng được con nào, thế mà trông ông hớn hở còn hơn cả Hanh. Ông nhấc nhấc con cá, nắc nỏm khen Hanh:
– Giỏi. Thằng này thế mà ngon ta. Mới bữa đầu mà được con tràu gộc này là hên hết chỗ chê đó, nhỏ.
Hanh cười tít mắt, nghĩ đến vẻ ngạc nhiên vui mừng của mẹ lúc mình mang cá về.
Trưa, Hanh khệ nệ bưng tô canh cá nóng hôi hổi với nguyên khúc giữa nở căng và bộ lòng cá thơm phức mẹ mới nấu sang cẩn ông Sáu. Ông đang nhắm rượu với chuối xanh, cười khà khà:
– Để đó cho ông. Chà, ngon dữ ta. Sao nhỏ, chiều nay đi nữa chứ ?
Hanh hăm hở:
– Đi chứ, ông Sáu. Ông cho con mượn ba chục cần nữa nghen.
– Chuyện nhỏ, mày.
Ông Sáu cười.

Mới đó mà bao nhiêu năm đã trôi qua.
Trong bữa cơm trưa, mẹ bảo:
– Chiều con qua thăm ông Sáu một chút nhé. Tội nghiệp, lúc này già cả rồi, ổng đau ốm suốt.
Hanh buông đũa nhìn mẹ:
– Vậy hả mẹ. Lâu nay lu bu công việc, con chẳng gặp được ông Sáu nữa, thật tệ quá.
– Ông Sáu nhắc con hoài đó.
Hanh cười:
– Con còn nhớ bữa đi câu đầu tiên với ông. May mà bữa đó được con cá ngon lành, con mới ham đi câu đến vậy…
Mẹ cũng cười mà giọng bùi ngùi:
– Ừ, cũng may cho con thật. Mà này, con có biết vì sao mà hôm đó con được con cá đó không?
– Thì con câu được chứ sao hả mẹ.
– Con câu được? Có mà đợi đến mùng thất. Bữa đó, thấy con thất vọng quá, ông Sáu nhường cho con con cá duy nhất ổng cắm được đó. Ổng lén mang cả cần cả cá của mình cắm vào chỗ cần câu con đã dỡ rồi mới kêu con lại để con tin rằng mình đã cắm được cá… Mãi sau này, đám giỗ rượu ngà ngà ông Sáu mới kể mẹ nghe, nhưng mà mẹ thì đã đoán được từ bữa con mang con cá về kia.

Ông Sáu thật là… Vậy mà bao nhiêu năm nay, mình cứ tưởng, mình đã thực sự là thằng Hanh thông  rồi, từ lúc bắt được con cá tuyệt vời buổi đi cắm câu đầu tiên trong đời ấy.
Dòng sông Trầu vẫn mải miết chảy.

 

MA  ĐỒNG BỘNG

Tôi lầm lũi đi như chạy trên cánh đồng Bộng. Đi một mình, lúc chạng vạng, lại đúng lúc trời mưa âm u xám xịt nữa chứ.

Là vì chiều nay cha tôi đi làm về sớm, ngẫu hứng thế nào ông ghé chợ làm một con mực to tướng tươi rói mang về. Khi mẹ tôi làm xong món mực trộn bắp chuối thơm nứt mũi bày lên mâm chĩnh chiện, ông mới nghiệm ra và tuyên bố rất nghiêm túc rằng cái món này mà không có chai bia con cọp đi kèm thì có khác chi ăn dăm bào mấy nỗi. Mà cái xóm Đông của tôi tịnh không có quán xá gì. Muốn mua chai dầu hỏa hay chút nước mắm đều phải lên xóm Chợ cách độ cây số. Đang đà phấn khởi vì vừa được cha khen “Chà, thằng cu con học giỏi mà đái cũng khá quá hè“ lúc bắt gặp tôi đang gồng mình đái vọt qua hàng rào chè tàu sau vườn mới rồi, tôi hăng hái xung phong đi mua bia, nhân tiện cũng để kiếm chai nước ngọt nên giờ mới lâm vào hoàn cảnh này. Ac nỗi, lúc tôi đi thì ông trời nào đã có dấu hiệu mưa gió gì, ráng chiều còn hừng lên hồng rực mà. Tôi mua một nhoáng đã trở về, tay lỉnh kỉnh nào bia nào nước ngọt nào bánh tráng nướng mệt muốn đứt hơi thì ổng nổi hứng chơi ngay trận mưa tối tăm mặt mũi, mây đen kịt sà sát đất u ám hết chỗ nói.

Tôi vốn rất hãi mỗi khi phải đi một mình qua Đồng Bộng vào lúc chạng vạng tối. Từ xóm Đông lên xóm Chợ phải đi qua cánh đồng này trên những con đường bờ ruộng ngoằn ngoèo nhấp nhô nhỏ như con trùn chỉ, mùa mưa ngập nước trơn nhão nhoẹt, mùa hè bị người ta dọn bờ đắp ruộng khoét còn chỉ đủ lọt bàn chân. Bên trái là vườn Phủ, cây cối rậm rạp um tùm chạy dọc theo con sông nhỏ vắng hoe không một bóng nhà, hơi xa xa bên phải là gò hoang nghĩa địa Cây Da cũng nằm bên một con sông, cũng vắng hoe vắng ngắt

không một bóng nhà, lại thêm vô số mồ mả nằm chen chúc nhau cứ chực lấp loé rợn lên ánh ma trơi mỗi khi trời tối. Đây quả thực là địa điểm lý tưởng cho các loại  ma quỷ đông đúc mà đêm đêm tôi vẫn co ro xanh xám ngồi rúc vào lòng nghe ông nội tôi kể lại trú ngụ hoành hành. Nói đâu xa, mới cách đây mấy ngày, ở Đồng Bộng đã xảy ra trận đánh nhau kịch liệt giữa một con ma le có cái lưỡi dài thòng đỏ như máu với ông cụ Cẩn, ông lão gân guốc có bộ râu trắng cứng như cước nổi tiếng gan dạ và có cái giọng oang oang to nhất xóm tôi. Nửa đêm, ông lụi hụi đi tháo nước cho đám ruộng mới cấy, con ma đón đàng không nói không rằng giơ cái mặt to bằng cái thúng chỉ có mỗi cái mồm ra dòm sát mặt ông, rồi thè cái lưỡi ướt rượt ra, mỗi lúc một dài, dài đến rốn ông Cẩn. Bực mình, sẵn cuốc trên vai, ông hạ xuống bổ ngay một nhát vào đầu con ma. Con ma giận dữ đưa hai cánh tay khẳng khiu chụp lấy ông, kéo ông về phía bờ sông. Ông Cẩn giằng co với con ma, biết mình sẽ nguy nếu lọt xuống bờ sông tối om là nơi hang ổ của nó nên vừa ráng hết sức trụ lại, vừa la lên chói lói. Tiếng ông giữa cánh đồng đêm hôm hoang vắng cách nửa cây số đủ sức làm cả xóm hoảng hốt đồng loạt thức giấc như nghe thanh la báo đập Bà Nang vỡ. Mấy người lớn dạn dĩ xách rựa vội vã chạy lên. Chó thi nhau sủa, lũ gà giật mình cũng cất tiếng gáy vang trời. Giống ma le, nghe gà gáy là sợ hãi biến liền. Nhờ vậy mà ông Cẩn thoát nạn. Mấy người lớn chạy lên đến nơi, thấy ông ngồi bệt bên bờ ruộng thở hổn hển, áo quần xộc xệch tơi tả, bịch thuốc rê văng đâu mất mà cái cuốc vẫn ôm khư khư trong tay. Nghe ông kể lại chuyện đánh nhau với ma le, ai nấy xanh lét mặt mày. Từ đó, không còn ai có gan đi tháo nước ban đêm nữa, ngoài ông Cẩn vẫn đi như không có chuyện gì xảy ra. Nhưng mỗi đêm ông đều không quên mang theo cái mác nhọn hoét, với lời tuyên bố chắc như củi cầy rằng ông sẽ cắt lưỡi con ma cho nó hết đường cựa quậy, nếu nó dám giỡn mặt ông lần nữa. Ông Cẩn gan như thế nhưng vẫn chưa bằng Bảy Lưới. Ông thứ Bảy, quanh năm chèo thuyền thả lưới trên con sông Trầu nên ai cũng gọi Bảy Lưới vừa gọn, vừa tiện phân biệt với ba ông Bảy khác trong xóm. Bảy Lưới từng vật lộn với ma da ngay chính giữa dòng sông Trầu khúc dưới cầu Hào một đoạn. Ông nội tôi từng bảo, ma da nguy hiểm hơn ma le bội phần. Ma le chỉ lè cái lưỡi đáng sợ ra dọa người nhát gan chơi rồi thôi, ít khi hại người, cùng lắm chỉ làm cho người yếu tim ngất xỉu rồi sẽ tỉnh lại chứ không việc gì. Ma da khác, đa số ma da có nguồn gốc từ những người không may chết nước nên hầu hết bọn ma da đều cư ngụ nơi sông nước, chỗ hẻo lánh quạnh hiu. Hễ có dịp là ma da túm lấy người nhận nước kỳ cho tắt thở để có người thay thế cho chúng chuyển qua kiếp khác. Bảy Lưới từng vật nhau với một con ma da kinh khủng như vậy đó. Bảy Lưới kể, nửa đêm ông đang gối đầu lên mạn thuyền – ông hay gọi thuyền cho oai, thật ra là cái ghe tre rộng đâu độ hai sải tay, ngang chưa đến một sải, xem chừng nếu quả thật ông gối đầu được thì ắt hẳn hai chân phải thòng dưới nước – ừ, ông đang gối đầu lên mạn thuyền thiu thiu ngủ sau khi thả hết mấy tay lưới chờ hừng sáng vớt một mẻ thì nghe ục ục dưới lườn ghe. Mới đầu, ông mừng húm vì chắc bắp có con chép cụ đang mắc lưới vùng vẫy. Chừng mở mắt ngó kỹ thì ôi thôi, cái gì trùi trũi như một đầu người lù lù ló ra trên mặt nước, hai cánh tay dài ngoẵng vươn ra sờ soạng chực nắm lấy thành ghe. Biết ngay mình gặp gì rồi, Bảy Lưới choàng dậy vớ lấy mái chèo ráng hết sức bình sinh giáng xuống một cú ngay chính đỉnh đầu lù lù của con ma. Nếu là người, thì cú đập trời giáng bằng mái chèo gỗ kiền kiền của Bảy Lưới đã chẻ đầu làm hai làm ba rồi. Đằng này, chỉ nghe ùm một cái, nước bắn tung toé còn Bảy Lưới mất đà rớt tủm ngay xuống nước. Đang tối tăm mặt mũi thì đã bị con ma ôm cứng lấy người, cố sức ấn đầu ông xuống nước. Bảy Lưới cũng chẳng vừa, trấn tĩnh lại quờ tay túm chặt con ma, cố sức nhấc lên. Một bên ma cố ấn xuống, một bên người cố đẩy lên, cả hai vật lộn nhau có đến hơn mươi phút dưới lòng sông. Bảy Lưới sặc nước phun phì phì, thở hồng hộc, còn con ma trơn tuột cứ lùi lũi ghì siết ông nhận nước. Không hiểu tại làm sao mà Bảy Lưới cũng không hề kêu lên tiếng nào, chỉ ra sức vật lộn với con ma. Chừng thấy không đủ sức làm gì người đàn ông vạm vỡ một đời sống trên sông nước bơi lội còn cừ hơn cả mình này, con ma rùng mình một cái, biến mất tăm. Bảy Lưới sững sờ nhìn khúc sông vắng ngắt, tĩnh mịch như chưa hề có cuộc vật lộn dữ dội một mất một còn vừa rồi, vội vã bơi vào bờ, bỏ lưới bỏ thuyền chạy một hơi về nhà rồi sốt li bì mê man mấy ngày phải rước thầy về cúng mới tỉnh lại được. Lạ một điều là sau cuộc vật lộn kinh hoàng với ma da, khoẻ lại rồi Bảy Lưới vẫn đêm đêm giăng lưới ở khúc sông kia, chẳng bỏ đi nơi khác. Khúc sông lắm cá, lại thêm con ma đáng sợ, chẳng ai dám hó hé đến cắm câu thả lờ sau đận ấy. Cá Bảy Lưới bắt được ngày càng nhiều, đắt hơn tôm tươi.

Hai chuyện trên mới chỉ là ma ta thôi đấy. Ông nội bảo, đất này ngày xưa của Hời, người Hời chạy hết rồi nhưng ma Hời thì còn lại đông vô số kể, tầng tầng lớp lớp. Có điều ma Hời rất hiền, hiền hơn ma ta nhiều. Chỉ những đêm mưa gió ma Hời mới túm tụm lại khóc than nỉ non ai oán nghe rất thảm, chứ tịnh không hề hiện ra đón đường doạ nạt ai. Thảng hoặc mới có người vô tình trong đêm mưa gió trông thấy ma Hời lầm lũi nặng nề mang vác di chuyển chum vại vàng bạc chi đó, có khi giữa trưa hè cũng có người trông thấy chúng treo võng ru con ơi hời kẽo kẹt trên mấy ngọn tre dọc bờ sông, nhưng vừa thoáng thấy bóng người là lũ ma biến mất liền. Nên sợ là sợ ma ta, chứ ma Hời dù đông nhưng chẳng có chi, hiền lắm.

Nhưng một thằng bé bảy tuổi đang run cầm cập đi giữa đồng không mông quạnh trong cơn mưa gió bời bời, làm sao mà phân biệt nổi đâu là ma ta, đâu là ma Hời? Mà ma nào chẳng là ma, ma nào mà chẳng đáng sợ kia chứ? Bọn ma lại rất khoái bắt nạt trẻ con, nhất là những đứa ốm yếu hom hem như tôi. Lạng quạng là chúng sấn đến dỗ ngon dỗ ngọt dụ đi theo đến chỗ bụi rậm liền giấu biến, lại còn tỏ ra tốt bụng bảo ngồi đó chơi, chúng đi kiếm bánh cho mà ăn, ngon lắm. Để mình ngồi đó, chúng đi hốt mấy bãi phân trâu nóng hổi, dùng phép sao đó mà mình cứ thấy là bánh in bánh tổ ngọt lịm, xơi ngon lành một hơi căng bụng còn thòm thèm. Chừng được người lớn tìm ra cứu được về nhà mới biết là phân trâu, nôn ra mật xanh mật vàng rồi ngơ ngơ ngẩn ngẩn dại người ít ra phải mươi ngày nửa tháng nếu không kịp rước thầy cúng vái. Thằng Thành té giếng bên cạnh nhà tôi bị một vố như vậy rồi, giữa trưa đứng bóng mà hắn bị ma dụ giấu vô giữa lùm tre Tạ, khi tìm thấy mấy người lớn phải xúm vào phát hết gai tre mới lôi hắn ra được, hắn còn cố chui vào lại, bảo ở trong đó mát rượi, đã lắm. Từ đó, lũ trẻ gọi thằng Thành là Thành lãng thay cho cái tên Thành té giếng do vụ ngã giếng ghê gớm hồi bốn năm tuổi của hắn.

Không hiểu tại làm sao mà lúc sợ, tôi lại chỉ nghĩ toàn chuyện ma quỷ, y như cái lúc đói lại chỉ nghĩ đến toàn chuyện ăn. Càng nghĩ càng run. Tôi cắm cúi bước thật nhanh, không dám chạy vì sợ rớt các thứ đã mua đang hết sức vướng víu. Trong một lúc nghe như có tiếng chân thình thịch đuổi theo sau, tôi càng bước nhanh thì tiếng thình thịch lại càng gấp gáp. Lấy hết can đảm tôi ngoảnh mặt lại dòm thử thì… Cha mẹ trời đất thần phật ơi! Còn ai vào đó nữa? Lù lù sau lưng tôi mấy bước chân là một con ma lùn tịt, ngang phè, đầy người phủ một lớp lông lá xám xịt đang dềnh dàng bước tới. Ghê nhất là cái mặt con ma, dưới cái nón cời tơi tả là một bộ mặt trống hoác không hề có mắt mũi mồm miệng mà chỉ là những cái hốc đỏ lòm sâu hoắm hiện lên mờ mờ trong mưa gió. Tôi đứng chết trân không nhúc nhích. Trong lúc thất thần vẫn kịp nghĩ ra rằng đây đích thực là một con ma mới toanh tôi chưa hề nghe kể bao giờ. Nên càng sợ hơn. Bỗng, từ cái hốc miệng con ma cất lên một giọng khàn khàn:

– Đi đâu mà về tối quá vậy, con?

Đang muốn đứng tim nhưng tôi vẫn còn nhớ được lời bọn trẻ vẫn dặn nhau khi gặp ma là tuyệt đối không bao giờ trả lời bất cứ điều gì ma hỏi, nếu dại dột mở miệng trả ra là sẽ bị chúng hớp hồn ngay tức khắc. Nên tôi im thin thít, len lén đưa ngón tay cái bấm chặt lấy đốt thứ hai ngón út – đó cũng là phép bắt quyết trị ma rất hiệu nghiệm được bọn trẻ thường xuyên áp dụng. Còn một phép trong lúc cấp bách nữa là đái ra tay một bãi rồi lập tức xoa lên khắp mặt, con ma sẽ ngán ngẩm bỏ đi. Nhưng lúc này thì tôi không thể dùng được phép này nữa rồi, vì… hai ống quần đã ướt nhẹp từ lúc trông thấy con ma còn đâu.

– Ủa, sao bà hỏi mà không nói, con? Tội nghiệp thằng cu, ướt hết người rồi kìa.

Con ma lại cất tiếng thều thào làm ra vẻ rất tội nghiệp thằng cu đang run lên cầm cập trước mặt mình.

Thằng cu vẫn im thin thít. Giọng con ma đầy vẻ ngạc nhiên:

– Con cái nhà ai lạ vậy cà. Mặt mũi trông cũng sáng láng mà hỏi không biết trả lời. Hay là bị câm… Cu, lại đây bà biểu con!

“Lại đây bà biểu con!“, nghe cái câu đáng sợ đó, thằng cu điếng hồn, quăng ngay các thứ tung toé xuống ruộng, cắm đầu chạy.

Tim đập loạn xạ muốn vỡ lồng ngực, thở hổn hển ra cả đằng miệng đằng tai, tôi hớt hải chạy, chạy một hơi không hề ngoái đầu lại, mấy lần vấp ngã chúi lúi vẫn gượng dậy chạy. Cuối cùng rồi cũng chạy được về đến nhà. Tôi phóng ào vào nhà như một chú cún con lần đầu tiên nghe tiếng sấm, lập cập nói không ra hơi:

– Đóng cửa lại, đóng hết cửa lại mẹ ơi!

Cả nhà hoảng hốt xúm vào ôm giữ thằng cu lại. Tôi giằng ra, nhảy phóc lên chiếc phản gỗ, quơ chăn mền trùm kín mít mặc cho khắp người bùn đất lấm lem ướt như chuột lột.

Mẹ tôi hớt hải đến giở mền kéo tôi dậy:

– Có chuyện gì vậy con, nói mẹ nghe coi.

Tôi giằng mền phủ lại kín đầu, vẫn còn run:

– Con ma… con gặp ma ở Đồng Bộng.

Cha tôi bình tĩnh hơn:

– Tầm bậy tầm bạ. Bây giờ làm gì có ma cỏ nữa mà gặp với thấy. Nghe ông mầy kể chuyện ma riết rồi nhập tâm. Mà con có mua được thứ gì không, đâu hết  cả rồi?

Một giọng ồm ồm từ ngoài hiên trả lời cha tôi:

– Đây này, tôi lượm các thứ nó vứt lại đem trả  đây này.

Cha tôi, mẹ tôi cùng nhìn ra hiên một lượt, cùng kêu lên:

– Dì hai Thời! Mưa gió này mà dì đi đâu cho cực vậy?

Dì hai Thời cởi tấm áo tơi sột soạt, vừa bước vào nhà, vừa trả lời:

– Đi thăm bây chứ đi đâu. Mồ tổ bây, con cháu chi gặp bà không chào hỏi, không hé răng nói một lời, lại cắm đầu chạy trối chết. Tao theo dấu nó về đến nhà bây mới biết. Thằng cu trốn đâu rồi?

Tôi giở mền he hé mắt nhìn ra. Bây giờ tôi mới nhớ ra là tôi có một bà dì ở  Bầu Dưng – bà dì hai Thời – mà tôi chưa bao giờ gặp mặt. Người ta bảo bà bị bệnh giời ăn, không có tiền chữa chạy để lâu ngày, giời ăn hết mắt mũi miệng tai, chỉ còn lại những cái hốc sâu hoắm trông rất đáng sợ, thế mà bà vẫn cứ bình thản sống hết ngày này qua ngày khác, xem như chẳng bệnh tật gì, đi núi lội ruộng còn siêng hơn cả người khoẻ mạnh. Người bà như thế, lại khoác áo tơi chằm bằng lá nón sùm sụp đi lù lù trong cơn mưa gió thì đến Già Cẩn Bảy Lưới cũng phải bỏ chạy chứ đừng nói đến thằng bé con bảy tuổi đầu óc rặt những chuyện ma như tôi…

Dì hai Thời bỏ các thứ ra. Bia, nước ngọt còn nguyên cả. Nhưng mấy cái bánh tráng nướng nát vụn ướt nhẹp đã nhão nhoẹt ra rồi.

 

LÃO SẦM

Ngay lần gặp đầu tiên lão Sầm đã để lại trong tôi một ấn tượng khó quên. Trưa hôm ấy, trời nắng gắt, chúng tôi đang kéo lê những chiếc cặp la hét đuổi nhau tung bụi đất mù mịt trên con đường đi học về thì đâm sầm ngay vào lão. Lão đứng dạng chân giữa ngã tư đường, mặt đỏ gay, áo quần xộc xệch, mồ hôi nhễ nhại. Hơi rượu phả ra từ người lão nồng nặc. Lão trừng trừng nhìn chúng tôi, rồi đột ngột quát to:

– Nhà ông ấy đâu hả, chúng bay?

Chúng tôi sựng cả lại, trố mắt ngơ ngác nhìn lão. Cả bọn đứng im thin thít, không đứa nào dám lên tiếng trước câu hỏi lạ lùng trên. Nom điệu bộ và hình thù lão, đứa nào cũng sợ. Là đứa dạn dĩ nhất trong bọn, tôi tiến lên, khoanh tay lễ phép:

– Dạ thưa chú, chú hỏi nhà ai ạ?

Lão sừng sộ:

– Hả? Ông ấy mà chúng bay không biết à? Nhà ông ấy ở đâu, hả?

Mắt lão long lên sòng sọc.

Chúng tôi ù té chạy.

Về nhà, nghe tôi hớt hải kể chuyện, mẹ tôi ngậm ngùi bảo: “À, lão Sầm xóm Cát”. Một lúc, mẹ nói thêm: “Còn ông ấy là ông Nghiễm, đồn trưởng đồn 76 ở đồi Dương. Lão Sầm đáng thương lắm con ạ”.

Mãi về sau này tôi mới hiểu được những điều mẹ tôi nói.

Lão Sầm đã từng có một thời kì là anh Sầm. Anh Sầm đậm người, ít nói, hiền lành. Mồ côi cha mẹ, anh em bà con cũng chẳng có ai, hồi nhỏ anh ở đợ bồng em xay lúa rồi chăn trâu hết nhà này đến nhà khác trong làng. Lớn lên, anh đổi sang nghề chăn vịt thuê, sống trong một cái chòi rách nát anh tự dựng lên ven sông chỗ bến Dũi cuối xóm Cát cùng bầy vịt. Cưới cô Hiền về, anh bỏ ra mấy ngày quây thêm bốn bức vách bằng tre, trát phân trâu đất sét. Cái chòi trở thành căn lều hạnh phúc. Cô Hiền da đen giòn, mặt trái xoan, mũi hếch, con bà Ngoan quanh năm mò cua bắt ốc mà người cứ tươi hơn hớn, lại dịu dàng dễ thương đúng như cái tên của cô, dù có hơi gầy một chút nên trông dáng người dong dỏng, nhìn xa có vẻ cao hơn anh Sầm. Lấy chồng một thời gian, cô Hiền trở nên tròn trĩnh, mắt long lanh, má hây hây ra, phơn phớt hồng. Ky cóp tằn tiện mãi, hai vợ chồng cũng mua được chục vịt, thả lẫn vào đàn vịt có đến ngàn con anh được thuê trông coi. Những buổi chiều, khi đã lùa vịt về chuồng, anh Sầm ngồi nhắm rượu trước căn lều, chị Hiền loay hoay lo bữa cơm chiều ở phía sau. Thỉnh thoảng chị chạy ra tiếp cho chồng món nhắm, anh chị lại nhìn nhau tủm tỉm cười. Khói ngoằn ngoèo bay lên từ mái lều, lẫn vào không gian xanh vời vợi.

Một buổi chiều, anh Sầm đang ngồi nhắm rượu như vậy thì Nghiễm đến. Nghiễm là chủ bầy vịt anh Sầm đang chăn, trước làm ấp trưởng, bây giờ chuyển sang làm trung đội trưởng Nghĩa quân kiêm đồn trưởng đồn 76 đóng ở đồi Dương, cách bến Dũi ba xóm phía đầu sông. Anh vội vã đứng dậy chào Nghiễm, vào lều lấy chiếu ra trải và hối vợ bắt con vịt anh nuôi riêng sắp đẻ được làm đĩa tiết canh. Rượu được vài ly, Nghiễm bỗng hỏi:

– Chú Sầm này, lượng trứng vịt lúc này sao sút quá vậy? Số vịt đẻ giảm đi à?

Anh Sầm lúng túng, nghĩ đàn vịt vẫn đẻ bình thường, không hiểu sao tự dưng Nghiễm lại hỏi mình như vậy. Anh chưa kịp trả lời thì Nghiễm cười khà, tiếp:

– Hỏi vậy thôi, chứ tôi rõ rồi. Chắc là vì chú chăn thả chu đáo quá, vịt ăn nhiều, mập quá nên đẻ  ít đi đấy mà. Không sao, không sao. Hôm nay tôi đến anh là vì việc khác.

Sầm đặt ly xuống, tỏ ý chăm chú nghe. Nghiễm nhìn thẳng Sầm, giọng thân tình:

– Tôi đã quyết định bán bầy vịt đi, chú Sầm à.

Sầm tái mặt. Chị Hiền đang đứng chôn chân trong lều chăm chú theo dõi câu chuyện cũng tái mặt. Sầm lắp bắp:

– Thế còn… thế còn tôi thì sao, anh Nghiễm? Bán bầy vịt đi, vợ chồng tôi làm gì để sống bây giờ?

Nghiễm ngửa cổ trút một hơi cạn ly rượu, bưng đĩa tiết canh lên húp soạt, quẹt miệng rồi chậm rãi:

– Tôi bán bầy vịt đi cũng là vì thương vợ chồng chú vất vả. Tôi sẽ lo cho chú việc khác, nhàn nhã, lại oai mà có nhiều tiền, vợ chú sẽ ăn trắng mặc trơn, cô chú có nhà cửa đàng hoàng. Mai chú lên đồn gặp tôi…

Đứng dậy, Nghiễm vỗ vai Sầm lần nữa, nháy mắt:

– Lâu nay chú vẫn là người thân thiết của tôi. Yên tâm đi, tôi sẽ lo cho cô chú chu đáo. Thôi, chào cô Hiền, tôi về.

Một tháng sau, anh Sầm từ anh chăn vịt trở thành anh lính nghĩa quân quốc gia, khoác bộ áo lính  sáu túi rộng thùng thình, vai đeo chếch khẩu AR15 nòng quệt đất. Người khác hẳn sẽ  rất oai vệ, nhưng trông anh Sầm lại thấy lúng túng, khổ sở tội nghiệp thế nào. Anh đi giữa đám lính, lạc loài cứ như chú vịt lẫn giữa đám gà chọi. Chiều chiều, anh cũng không còn được cái thú ngồi nhắm rượu và ngắm vợ nữa, vì phải lo ăn vội vàng cho xong bữa rồi đóng bộ vào vác súng lên đồn gác. Anh khoác súng đi, mặt buồn thiu, lòng lo sợ cho cô vợ trẻ phải ở lại một mình trong đêm với căn lều hoang vắng cách xa chòm xóm. Chị Hiền đứng nhìn theo, mắt đỏ hoe. Anh Sầm vắng nhà, chị không ngủ được. Nằm mở mắt chong chong, nghe tiếng gió rít quanh căn lều, chị giật nẩy mình mỗi lần nghe tiếng súng cối ì ùng từ đồn 76 vọng lại. Đêm nào có thêm tiếng tiểu liên, lựu đạn hai bên chạm trán nhau nổ vang trời, chị lại lồm cồm ngồi dậy, quỳ xuống trong đêm, chắp tay khấn trời phật phù hộ độ trì cho anh Sâmn. Sáng, anh Sầm từ đồn trở về, người hốc hác bơ phờ, lặng thinh quẳng xuống chiếc chõng tre một ba lô lính đầy ắp những thịt hộp, lon trái cây, kẹo bánh, gạo sấy… lẫn trong những hộp đạn sáng lóe. Khi chị Hiền đã thu dọn những thức ấy cho vào cái thúng con mang ra chợ, anh Sầm vác chõng tre ra bờ sông, nằm dài vừa hút thuốc vừa nhìn trời nhìn đất, lâu lâu lại thở ra. Có lẽ anh nhớ đến tiếng oàm oạp của bầy vịt vẫn chen chúc quanh anh những buổi sáng như thế này. Nhưng bầy vịt, Nghiễm đã bán cả rồi còn đâu. Chục vịt của riêng anh để lại nuôi cũng đã gần hết. Cứ đôi ngày, Nghiễm lại đến anh, dắt theo đám lính lố nhố. Nghiễm cười hà hà, bảo:

– Chú Sầm mà không có anh thì giờ đã mục thây ở Quế Sơn, Thượng Đức rồi đấy nhé. Chú thấy không, trai tráng làng này thằng nào không vào được nghĩa quân đều đã bị bắt lính ráo trọi, nếu không nhảy núi theo Việt Cộng. Đố chú nằm yên được ở nhà mà chăn vịt. Hà hà, làm thằng nghĩa quân, dù sao cũng còn được gần vợ để mà hú hí… Hà hà…

Tiếng “hà hà” vừa dứt, Sầm đã ra sân đuổi vịt. Chị Hiền vội vã chạy lên đầu xóm kiếm nguyên canh năm lít rượu đế, với một lô lốc chuối chát, đậu phộng, ớt tỏi… Đám lính nói cười rôm rả, vô tư nhậu, khen thịt vịt béo mềm, tiết canh đông đúng kiểu, khen anh Sầm tốt phúc, chị Hiền khéo tay. Bầy vịt chục con giờ chỉ còn một cứ thảng thốt kêu lên “cạp, cạp” mỗi khi thấy bóng Sầm.

Anh Sầm dần dần quen với đời lính. Anh đã thành thạo dạn dĩ với súng đạn, sau vài sự cố nhớ đời. Một lần, giữa trưa vắng, anh lấy súng ra lau, rồi mân mê hí hoáy đến mấy quả lựu đạn. Một quả bỗng xịt khói trên tay. Nhanh trí, anh quăng ngay quả đạn vào bụi tre ở bờ sông. Tiếng nổ “ầm” vang dậy một vùng, nước tung trắng xóa. Chị Hiền hớt hải chạy ra, đứng chết trân nhìn một góc bờ sông sụp lở, tre cháy đen sạm. Lần khác, cũng lau súng, anh cướp cò bắn tơi tả mấy tấm rạ trên mái lều vốn đã xơ xác, loạt đạn nổ đanh giòn chát chúa. May không cháy nhà, cũng không ai việc gì. Đêm, anh vẫn vắng nhà, lên đồn trực. Đêm, chị Hiền lại nằm khóc một mình, vì bây giờ anh đã bắt đầu bén hơi, mon men vào các cuộc đỏ đen sát phạt và nhậu nhẹt vào các buổi tối trên đồn. Chị không biết rằng, trên đồn anh Sầm cũng đang gặp vài vụ rắc rối. Một lần, đám bài các tê phân công cho anh xuống xóm lo bữa nhậu khuya thường lệ. Không biết nghĩ thế nào, anh mò ngay vào nhà Nghiễm, vặn cổ ả gà mái ghẹ đang nằm ổ. Sáng hôm sau, vợ Nghiễm làm một vòng từ đầu xóm đến cuối làng chửi bay lá trốc cây. Nghiễm nạt vợ im, nhưng lúc lên đồn đã quát anh một trận, bắt anh ra đứng vọng gác một đêm trắng. Lần khác, đám lính phát hiện ra số lựu đạn giao cho anh cài quanh các con đường lên đồn đều bị tháo kíp nổ, chỉ còn trơ khấc quả lựu vô dụng. Lại hai đêm gác. Những chuyện ấy, anh không nói với chị. Nhưng chị vẫn mơ hồ cảm thấy một mối nguy hiểm đang hiển hiện, một tai họa lớn lắm đang lởn vởn vây quanh người chồng chất phác của mình. Nhất là lúc này, các trận đụng nhau giữa hai bên liên tiếp xảy ra. Lúc xóm Cát, lúc thôn Thượng, lúc cầu Đá. Đêm nào cũng có tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng la hét rồi tiếng trực thăng lạch phạch quần đảo. Những tiếng súng xé trời dội thẳng vào con tim nhỏ bé run sợ của chị. Chị tưởng chừng trông thấy anh gục ngã, giãy giụa, đẫm máu sau mỗi loạt đạn, và chỉ biết thổn thức quỳ xuống cầu trời khấn phật.

Nhưng anh Sầm vẫn bình an, yên ổn.

Tai họa lại rơi đúng vào chính chị. Vào một ngày yên lành. Một cách quái ác như trò đánh tráo của số phận.

Sáng hôm ấy, sau một đêm đứng gác vô sự, Sầm khoác ba lô, ôm súng trở về. Anh vừa ra đến cổng đồn, bỗng nghe “cắc” một tiếng khô khốc. Biết là tiếng đề của cây cối 81 đặt trên đồn vẫn quen lệ nhả đạn mỗi sáng sớm, anh thản nhiên bước tiếp. Tiếng đạn xé gió. Rồi tiếng “ầm” dữ dội dội lên, rền vang. Anh Sầm khựng lại, chết điếng người: cột khói cuồn cuộn bốc lên ngay chính bến Dũi, nơi có căn lều vợ chồng anh. Từ đỉnh đồi nhìn xuống rõ mồn một. Sau cuộn khói, ngọn lửa hung hãn bùng lên. Anh Sầm vứt súng, quăng ba lô, chạy bay xuống đồi, vừa chạy vừa hét lên hoảng loạn:

– Hiền ơi! Hiền ơi!

Dân làng từ các xóm, các thôn đổ ra, chạy ào ào như rừng động về phía căn lều anh chị Sầm.

Khi anh lảo đảo chạy vượt qua ba xóm về được đến nơi thì căn lều cũ chỉ còn là một cái hố sâu hoắm, lửa rừng rực cháy, thiêu hủy nốt những gì còn lại. Người ta không thể nào tìm thấy chị Hiền. Cả chú vịt duy nhất còn lại cũng biến mất. Một người đàn bà nức nở khóc:

– Tội nghiệp quá, chị ấy vừa đậu thai…

Ngày hôm sau, một chú bé chăn trâu nhìn thấy một mảng tóc chị Hiền vướng trên bụi tre phía bờ sông. Người ta bỏ mảng tóc ấy vào chiếc quách nhỏ đã gom góp nhặt nhạnh được một phần nhỏ thi thể chị Hiền, đưa tang chị. Cả làng Đồng Cát tiễn chị về nơi yên nghỉ. Anh Sầm lầm lũi theo sau cỗ quan tài vợ, câm lặng.

Mọi người bàn tán xôn xao về quả đạn cối tàn ác nọ. Người thì bảo, căn lều vợ chồng anh Sầm là nơi tập kết, trú chân thường xuyên của du kích mỗi khi về làng lấy gạo, tập kích đồn. Chị Hiền là cơ sở mật của cách mạng từ lâu. Người thì bảo, Nghiễm giúp vợ chồng anh Sầm, ra chỗ thân tình, là vì đã có ý dòm ngó chị Hiền từ lâu. Thi ân, ve vãn, đe dọa mãi không được, hắn rắp tâm trả thù một cách man rợ. Đám lính trên đồn có người còn đoan chắc chính Nghiễm đã ra lệnh điểm hỏa quả đạn cối kinh hoàng ấy.

Mở cửa mả chị Hiền xong, anh Sầm xách súng lên đồn tìm Nghiễm. Không ai rõ sự việc xảy ra như thế nào, chỉ biết sau vài loạt súng chát chúa, sự im lặng bao trùm đồn 76. Rồi một chiếc trực thăng từ phía quận lỵ lạch phạch bay lên, đưa người đi cấp cứu. Người bị  cấp cứu không phải là Nghiễm, mà là anh Sầm. Nghiễm bị quân cảnh đưa đi, nhưng một tuần sau đã thấy trở về, lại làm đồn trưởng như không có việc gì xảy ra. Trái với lệ thường, đám lính không hề hé răng một lời về việc gì đã xảy ra trên đồn hôm ấy. Chỉ biết anh Sầm bị thương rất nặng, phải chuyển ra Đà Nẵng mổ não.

Gần nửa năm nằm viện trở về, anh Sầm đã biến thành lão Sầm tàng tàng. Suốt ngày, lão dìm mình vào rượu. Khi say, lão nghiêng ngửa đi tìm Nghiễm để đòi vợ. Lão lang thang nay đây mai đó, không còn căn lều, không còn vợ, không còn bầy vịt và cũng không còn súng, còn đạn, chỉ còn mỗi đôi mắt lạc thần và cái miệng luôn lảm nhảm trong cơn say:

– Hiền ơi! Mang con về cho anh…

Gặp ai, lão cũng dừng lại, trợn mắt quát hỏi:

– Hắn ở đâu? Nhà hắn ở đâu, hả?

Ai cũng thương xót lão, nhưng không giúp gì được lão. Phần cũng vì sợ Nghiễm và đám lính.

Sau lần ấy, tôi còn gặp lão Sầm nhiều lần. Bây giờ khi say, lão chỉ lầm lũi, lảo đảo đi, không la hét nữa. Vẫn đôi mắt lạc thần sục sạo khắp nơi tìm kiếm. Chạy theo lão luôn có một đám trẻ con vây quanh, thi nhau hò hét:

– Nhà ông ấy ở đâu? Hả? Hả?

Lão ngơ ngác nhìn lũ trẻ, không hề nạt nộ xua đuổi chúng.

Tôi không nhập theo đám trẻ. Tôi cũng không còn sợ lão Sầm nữa. Tôi đứng chôn chân nhìn theo lão.

Ba mươi năm trôi qua. Chiến tranh đã kết thúc. Tôi đã trở thành một người lớn. Lão Sầm đã bỏ làng đi biệt từ lâu. Nhưng mỗi khi nghe một tiếng nổ, dù là trên ti vi, tôi lại giật mình thảng thốt nhớ đến lão Sầm. Không biết bây giờ lão đã được tái hợp với chị Hiền và đứa con chưa một ngày chào đời hay chưa, hay vẫn còn đang trong cuộc lang thang tìm kiếm vô vọng với đôi mắt thất thần và tiếng nổ quả đạn cối ác nghiệt không bao giờ dừng lại trong tâm tưởng lão?

 

MÂY BAY VỀ PHÍA  HÒN RƠM

Nghĩ mãi mà lão Nhàn vẫn không hiểu nổi thằng con giận lão vì cơn cớ gì.

Từ thành phố Đà Nẵng về làng Đông Mỹ có đến hơn trăm cây số, vậy mà hắn phóng xe một lèo chỉ tiếng rưỡi đồng hồ đã đến nhà. Về, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, chưa kịp uống miếng nước cho hạ hỏa, hắn đã nhớn nhác đi luôn ra vườn nhìn quanh quất. Rồi quay vô nhà, gặp lão cũng vừa vác cuốc đi thăm ruộng về, hắn hỏi ngay:

– Cha, cây khế nhà mình đâu rồi?

– Cây khế nào?

Lão sửng sốt hỏi, không để ý thằng con chẳng kịp chào hỏi gì mình cả.

– Thì cây khế ngọt cổ thụ sau vườn chứ cây khế nào nữa?

– À… ừ…

Lão Nhàn ậm ừ. Mãi lão mới buông gọn lỏn   một câu:

– Tao bán rồi.

– Cha bán? Sao lại bán? Bán lúc nào? Bán cho ai? Họ trả được bao nhiêu mà cha bán?

Nhân tái mét mặt hỏi dồn. Lão cáu tiết phát bẳn:

– Mày tra hỏi cha mày đấy à? Bán chứ để làm gì. Mấy năm trái rụng thúi vườn có ai thèm hỏi đến đâu. Để chỉ chật sân, rợp vườn. May hôm qua có bọn săn cây cảnh đến gạ, trả hai triệu, tao bán luôn. Bọn nó mới đào lên chở đi đó. Mà cả làng bán, chứ riêng gì tao. Khế, mù u, sanh, dừng, duối, quăn, sộp… bất kể loại nào làm cây cảnh cổ thụ được, có người trả được giá là họ đào lên bán tất.

– Trời đất!

Thằng con thở dài đánh thượt, rồi lẳng lặng quay vô bộ phản nằm thừ ra, chẳng nói thêm với lão một lời nào nữa.

Lão cũng chẳng thèm hỏi han gì, mặc thằng con nằm đấy, lão lui cui xuống bếp nấu cơm. Hôm nay có con về, chứ mọi hôm, đến cữ trưa, lão ghé quán mì Quảng bà Tư góa ở ngã ba đầu làng, làm một hơi ly cối rượu trắng, cuộn vài ba cuốn mì với rau sống là xong bữa, chẳng bày vẽ lôi thôi cơm nước làm gì. Lão sống có một thân một mình.

Nhưng Nhân đã trở dậy, xuống dưới bếp gàn lão:

– Thôi khỏi cơm nước gì, con có mua đồ ăn về đây.

– Thế à.

Lão bắc ấm nước, rồi trở lên nhà trên. Nhân đã bày ra bộ phản mấy lon bia và hai đĩa bò tái rau sống tú hụ anh mua ở quán dưới thị trấn trên đường về. Hai cha con ngồi lặng lẽ ăn.

Mọi lần, mỗi khi về đến, bao giờ Nhân cũng rảo quanh xóm một vòng, í ới mời gọi mấy người hàng xóm tụ tập lại nhà lão làm một cuộc nhậu tưng bừng kéo dài đến xế chiều. Hôm nay chỉ có mỗi hai cha con lão ngồi với nhau, không khí trầm lắng ngột ngạt đến nỗi lão cứ chỉ chực phun ra mỗi tợp bia hớp vào. Cái thứ rượu bia chi mà nhạt thếch, ngai ngái, khai như nước đái bò, chả bù với loại rượu gạo chính gốc nhà mụ Tư, nóng rãy cổ, uống vào đến đâu ruột gan biết đến đấy.

Lão đột ngột dừng mạch suy tưởng lại khi Nhân lên tiếng. Không biết có phải do uống khan mấy ly bia không đá không mà lão nghe giọng thằng con trai nghẹn nghẹn:

– Hồi con còn nhỏ, cha vẫn kể chuyện cây khế nhà mình do cụ cố trồng, đến đời cha là ba đời rồi mới sum suê già cỗi như vậy. Quãng đời tuổi thơ của anh em chúng con gắn bó mỗi ngày với cây khế, có biết bao nhiêu kỷ niệm ngọt bùi, làm sao có thể quên được. Cả mẹ nữa. Mỗi lần đi làm về, bao giờ mẹ cũng ra ngồi dưới gốc khế ăn trầu, hóng mát, chuyện trò… Bây giờ mẹ không còn nữa. Làm sao mà cha có thể bán đi cây khế như vậy? Con nghe phong thanh bọn buôn cây cảnh cổ thụ đang săn lùng tại làng mình, nghĩ đến cây khế nóng ruột quá, vội vã bỏ công việc chạy về ngay. Vậy mà cũng không kịp .

Lão nghe cổ họng mình cay xé, uống liền mấy hớp bia vẫn không dịu lại được.

Lão định trả lời thằng con, nào lão có nghĩ ngợi sâu xa gì. Lý do bán cây khế lão đã bảo thằng con từ lúc nó mới về rồi đấy thôi. Không còn cây khế, hết bóng rợp che phủ khu vườn, lão định bụng sẽ trồng thay vào vài chục cây xoài lùn giống miệt trong lão mới xin được. Loại này nhanh ra trái, chẳng mấy chốc lão sẽ có cái lai rai đưa cay mà mấy đứa cháu mỗi dịp về quê cũng sẽ thích mê loại trái chua chua chấm muối ớt này… Lão tính kỹ rồi đó chứ.

Ai dè sự đời tréo ngoe, lão suýt soát bảy mươi lại tính toán thực tế sát nút, còn thằng con trai chưa đến bốn mươi bỗng dưng đâm ra hoài cổ, than thở tiếc nuối cái gốc cây già nua vô tích sự…

Nhưng lão không nói gì. Tránh ánh mắt trách móc của thằng con, lão nhìn bâng quơ ra vườn, chỗ hôm qua vẫn còn cây khế. Bây giờ là một khoảng trống mênh mông nhìn rõ đến tận trời xanh.

Lão chợt nhận ra, trên khoảng trống hun hút ấy, những đám mây trắng tinh khôi đang điềm nhiên bay về phía núi.

Những lời của thằng con làm lão Nhàn đâm ra nghĩ ngợi. Nghĩ ngợi riết, lại thêm cái khoảng không cây khế để lại cứ hiển hiện trước mắt lão, rồi thì trong cả lòng lão những lúc đêm hôm, lão sinh ra ốm. Mà ốm nặng.

Ba hôm liền, bà Tư không thấy lão xuất hiện ở quán vào cữ trưa, sinh nghi. Bà sai Út Hiên chạy qua nhà lão xem sao, thì thấy lão đang nằm chèo queo đắp chăn rên hừ hừ. Tô mì ăn liền để chỏng chơ dưới gậm giường nguội ngắt. Út  Hiên hoảng hốt chạy về báo bà Tư. Bà Tư tất tưởi chạy sang. Lão vẫn nằm im lìm, bà ghé sát thì nghe tiếng lão thều thào:

– Mây… Mây bay về phía núi…

Bà Tư tá hoả tam tinh. Đích thị lão sốt cao quá, mê sảng rồi đây. Mê ra thơ nữa mới hãi chứ. Nhưng không thể bỏ lão lúc này được, dù bà đang run. Bà sè sẹ đến, tốc mền lên, thấy một cái đầu hói nhăn nheo đang há hốc miệng thở phì phì. Ráng hết sức bình sinh, bà Tư cúi xuống nâng đầu lão, vừa lay vừa gọi tha thiết:

– Ông Tư. Tỉnh dậy ông Tư…

Lão hé mắt nhìn, một tay giơ lên như chào, nhưng miệng vẫn lẩm nhẩm:

– Mây… Mây bay về…

Bà Tư cúi sát xuống, định hỏi lão điều gì. Nhưng không kịp. Bất đồ, lão nhổm dậy, một tay ghì siết bà Tư , một tay hất phăng cái mền rớt phịch xuống đất. Đang đà cúi, bà Tư ngã oạch lên chiếc giường gỗ quăn đang oằn mình run rẩy. Bà cảm thấy mình cũng đột nhiên lên cơn sốt, nóng ran cả người…

Nhận được tin cha ốm, Nhân lại tức tốc về quê. Tin không phải do bà Tư báo, mà là Quân, bạn anh làm giám đốc bệnh viện huyện, gọi điện khi thấy bà Tư cùng Út Hiên hớt hải võng lão Nhàn xuống bệnh viện. Quân bảo, đã đưa cha anh vào diện chăm sóc đặc biệt, bố trí cho nằm ở một phòng riêng trong khoa hồi sức cấp cứu.

Vào phòng bệnh, Nhân không thấy y bác sĩ đâu, chỉ có bà Tư đang ngồi bón cháo cho cha. Bà Tư nâng đầu lão, khẽ khàng bón từng thìa cháo nóng, thuần thục khéo léo như bà đã làm cái việc chăm sóc lão từ hàng mươi năm nay. Lão Nhàn ngoan ngoãn nuốt cháo, mắt lim dim. Nhưng mồ hôi toát ra bết mái tóc bạc, chảy dọc hai bên thái dương lão. Lão thở dốc, có vẻ mệt dữ. Thấy Nhân vào, lão đưa tay khẽ đẩy bà Tư ra, thoáng một nét bẽn lẽn e dè trên khuôn mặt nhăn nhúm của lão. Nhân chào bà Tư đang đứng tránh qua một bên, rồi ngồi xuống chiếc ghế bà vừa đẩy đến, nắm tay cha, hỏi:

– Cha… Cha thấy trong người ra sao?

Lão Nhàn nhăn nhó:

– Mệt… mệt lắm…

Nhân quay sang hỏi bà Tư:

– Cha con bị làm sao thế hả dì Tư? Bác sĩ khám bảo sao?

Bà Tư ngập ngừng :

– Họ bảo chẳng có bệnh gì nặng, nói ổng bị cái gì đó… À, tâm bệnh. Họ nói để ổng nghỉ ngơi tịnh dưỡng vài hôm là khỏe lại thôi.

Nhân thở ra, xúc động:

– Vậy hả dì Tư ? Ổng chẳng chịu ra với con cháu, cứ thui thủi một mình thế này, lại đau ốm bất thường, con lo quá. May mà có dì Tư… Con cảm ơn dì với Út Hiên nhiều nghe dì.

Chừng như bà Tư đỏ mặt:

– Có chi đâu cậu. Hàng xóm láng giềng tối lửa tắt đèn mà.

Lão Nhàn e hèm. Nhân quay lại, thấy cha ra hiệu như có điều gì muốn nói. Anh cúi xuống ghé sát lại, nghe tiếng cha rất khẽ:

– Nhân… cha biết cha sai rồi. Cái vụ cây khế ấy. Cha cạn nghĩ quá. Mấy hôm nằm bệnh, cha ao ước phải chi còn cây khế… Trống trải quá. Đúng là ba thứ tóc trên đầu mà còn dại. Nghĩ đến mẹ con, cha càng thấy mình có lỗi. Đêm hôm trước cha chiêm bao thấy mẹ con về ngồi bên gốc khế, lặng thinh buồn buồn, chẳng nói năng chi. Trên đầu mẹ con, những chòm mây trắng toát nối nhau vùn vụt bay không ngớt về phía Hòn Rơm, nơi mộ mẹ con nằm dưới chân núi. Làm cha muốn ngộp thở. Bây giờ gốc khế mà còn, họ có trả trăm cây ba cũng không gật. Cha sai rồi con ơi!

Mây bay về phía núi. Người già sống với những kỷ niệm. Nhân chợt thấy cay nơi khoé mắt. Anh ân hận vì mình đã giận dỗi trách móc cha, còn gợi lại những chuyện ngày xưa của mẹ để ông suy nghĩ dằn vặt đến mang bệnh. Đỡ cha nằm lại ngay ngắn, lấy khăn lau mồ hôi trên trán cho ông, anh an ủi:

– Chuyện đã qua rồi, cha cũng đừng nghĩ ngợi nữa. Mẹ mất trên hai mươi năm rồi, cha ở vậy gà trống nuôi con khổ sở trăm bề mà chúng con đều khôn lớn nên người, chắc là mẹ dưới suối vàng cũng rất vui cha ạ. Mất cây khế cũng đâu có sao. Miễn là cha khoẻ mạnh, sống lâu với con cháu… Người ta nói người già là cây cao bóng cả đó cha, cha phải khoẻ để cháu con có chỗ đi về thăm nom, có gốc có cội chứ. Hay là chuyến này, cha ra ở hẳn với các cháu cho chúng con yên tâm…

Nhân ngừng lại khi nghe tiếng bà Tư đằng hắng. Bà Tư lên tiếng, không nhìn cha con Nhân nhưng giọng rành rọt:

– Trước đây ổng còn không đi. Bây giờ đố cậu bảo nổi ổng. Hoạ có khiêng ổng đi thì may ra.

Nhân ngơ ngác nhìn cha, thấy trên khuôn mặt lão Nhàn thoáng một nét cười. Nhưng lão đã vội cau mặt lại, át giọng bà Tư:

– Cái bà này, chỉ được cái nói xàm.

Bà Tư, không hề để ý đến câu gắt của lão Nhàn, vẫn cứ tiếp tục nói như không thể dừng lại được:

– Mà cậu tưởng, gần đất xa trời như tui với cha cậu đây ra thành phố ở với các cậu sướng lắm à. Tối ngày ngồi trong nhà ngó ra, hết ăn hết xem tivi lại ngủ. Tưởng ở gần con cháu được sớm hôm gần gũi, mà tụi nó có rảnh lúc nào đâu mà chuyện trò hỏi han mình. Sáng ra là dông tuốt, phần ai nấy đi, tối về lại mỗi đứa chui một phòng làm việc mình. Ai đời, tivi đầu máy mà cũng mỗi phòng một cái, mạnh ai nấy xem, thích gì xem nấy. Xem như vậy thì còn hay ho thích thú cái nỗi gì! Chẳng bù với trong mình, cả xóm có mấy cái tivi mà tối đến, vẫn cứ túm tụm lại nhà tui để xem. Mở phim Hàn Quấc, đến đoạn cô Kim Li Hi bị ung thư chưa kịp chết đã khóc hết nửa xóm. Xem bóng đá thì nửa đêm cả làng hò reo như cháy nhà. Vậy mới đã chứ. Có đâu như ở ngoải! Hồi tui ra con Ba, ở tới nửa tháng mà không biết vợ chồng thằng chả bên cạnh mình tên gì, nghề ngỗng con cái ra sao… Nhà nào cũng tối ngày cửa đóng im ỉm, cả tháng có hỏi han nhau tiếng nào đâu mà biết. Có sao nói vậy, thiệt tệ quá cỡ. Sống như vậy, nói thật với cậu, thà vô tù ở còn sướng hơn. Như cái hồi tui với cha cậu ở tù thời ông Diệm, còn ấm áp nghĩa tình hơn, bị đánh đập tra khảo tơi bời mà vui hơn đó cậu. Không biết cha cậu thế nào, chứ tui mà ra ở luôn ngoài đó, tổn thọ là cái chắc!

Một tràng ho cáu bẳn của lão Nhàn cắt ngang những lời sụt sùi của bà Tư. Hết cơn ho, lão cất giọng nhấm nhẳng:

– Bà này, nói gì mà nói lắm thế. Không hiểu bụng dạ con cái mình hay sao. Nó cũng có nỗi khổ của nó chứ. Hoàn cảnh bó buộc, chứ ai mà muốn những chuyện bà kể lể. – Lão cười khẽ, mắt vẫn nhìn không không lên trần nhà – Thôi được rồi, để đó khỏe lên rồi tui tính, mà tính ngon lành, trọn vẹn cả đôi đường cho bà xem. Tui với bà dứt khoát còn sống lâu sống khỏe, trường thọ chứ đoản thọ đoản thiếc gì. Bà đừng cả nghĩ mà khô héo người đi, phí của giời.

Đang kéo vạt áo chặm mắt, bà Tư ngẩng lên, nguýt lão Nhàn một cái có đuôi:

– Ông nữa… Già rồi sinh tật.

– Ừ, tui sinh tật từ bữa đó đó…

Bà Tư  nhổm lên bịt miệng lão Nhàn:

– Tui chịu ông rồi. Đừng có giỡn mặt nữa con cái nó cười cho.

Từ nãy giờ ngồi im lắng nghe hai ông bà đối đáp, Nhân chợt đứng dậy. Một tay anh cầm tay cha, một tay nắm bàn tay nhăn nheo của bà Tư, anh kéo hai bàn tay của hai người áp lại vào nhau, giọng nghiêm trang:

– Con hiểu rồi cha à, dì Tư à . Cha và dì đừng có tính toán gì hết, để đó chúng con tính cho. Con hứa đó, cha và dì Tư yên tâm đi.

Nhân giữ đúng lời hứa với cha mình và bà Tư.

Nhưng sự việc không phải đơn giản dễ dàng như anh đã nghĩ. Anh vừa nêu ý của mình ra, đã gặp phải sự phản ứng quyết liệt từ mọi phía. Bắt đầu là các chị em và đám con cháu trong nhà, rồi đến các ông bà già và cô chú thím bác cậu mợ dì dượng nội ngoại bà con tộc họ và cả không bà con tộc họ gần xa. Không hẹn mà nên, họ nhất loạt cùng trố mắt kinh ngạc sững sờ: Cho bà Tư về ở với lão Nhàn? Tổ chức một đám cưới đàng hoàng cho ông cụ bảy mươi và bà già năm mươi? Họa có là điên! Họa có là phát rồ! Từ cổ chí kim, từ khi Ông Tiền hiền họ Nguyễn vào khai sơn phá thạch đuổi quỷ trừ ma tạo dựng nên cái làng Đông Mỹ này, chưa từng có cái chuyện lạ lùng kỳ dị đó. Làng Đông Mỹ có tiếng là làng mồ côi từ bao đời nay, hễ còn bà thì ông mất, ông còn sống thì bà qua đời, hiếm có nhà nào diễm phúc trọn vẹn còn cả ông cả bà đề huề bên nhau ở cỡ tuổi ngũ thập thất thập – hàng trăm năm nay ông bà mình và bây giờ đến lượt mình đều chịu như vậy có sao đâu, có chết ai đâu, có ai lại rửng mỡ đi bước nữa vào cái tuổi sắp xuống mồ đoàn tụ với vợ hoặc chồng đang nhẫn nại nằm yên chờ đợi mình hàng chục, hàng mươi năm nay. Có mà loạn! Có mà…

Mấy ông thì thầm bàn tán: Chừng phía lão Nhàn động mồ động mả đâu đó, không lo mà thăm nom tu sửa lại cho chu đáo thì còn có chuyện nữa cho mà coi. Các bà túm tụm lại rủ rỉ: Không biết đám con lão Nhàn tính toán âm mưu cái chi đây. Chúng nó đều học hành tử tế, nhìn xa trông rộng cả mà. Khéo cái vụ này lại liên quan đến dự án xây dựng khu dân cư mới, dính đến đền bù giải tỏa chứ chẳng chơi…

Trong nhà, chống đối quyết liệt nhất là Ba Thương. Lấy chồng và theo chồng làm nghề lái xe tải lập nghiệp tận Mũi Né, đã có hai con, mười năm nay cô Ba chỉ cố thu xếp cùng chồng con về thăm cha được hai lần vào dịp giỗ mười năm của mẹ và dịp Nhân cưới vợ, còn toàn chỉ tỏ lòng thương nhớ cha già qua điện thoại đường dài vào dịp Tết nhất. Thế nhưng khi Nhân gọi điện  cho cô, cô khăng khăng giữ ý mình, và thêm rằng cả chồng con cô cũng một ý như cô, là lão Nhàn hãy cứ sống như vậy để yên tĩnh tịnh dưỡng tuổi già, để trọn nghĩa với vợ, để giữ tiếng thơm ở đời cho con cháu, đừng sinh tật đèo bòng vợ con bây giờ mà khổ thân lão, gieo tiếng thị phi cho con cháu lão. Cô nói nghẹn ngào, rồi cô khóc tức tưởi trong khi điện thoại đường dài trục trặc kỹ thuật cứ u u liên hồi.

Bao nhiêu là sự phản đối, ngăn cản, rồi thì khuyên răn, rồi thì van lơn . Những lý lẽ nghe đến ù tai, chóng mặt.

Nhưng Nhân vốn bình tĩnh, kiên nhẫn mà lại quyết đoán. Thêm vào đó là sự ủng hộ của Hương, vợ anh và các con anh, những người đã thấu hiểu anh lo lắng cho cha mình như thế nào. Những lý lẽ rất chừng mực, rất giản dị của anh lại có kết quả. Anh nhẹ nhàng : Sao lại cứ khư khư giữ mãi cái tiếng đáng thương làng mồ côi của Đông Mỹ mình? Ai đặt ra cái lệ khắt khe cứ sống thui thủi một mình cho đến hết đời của những người không may mất vợ, góa chồng ở làng mình, đặt từ bao giờ, hương ước làng có ghi lại không? Cụ Tiền hiền họ Nguyễn có đến ba vợ, có di ngôn cho làng điều cấm kỵ đó không? Mà thật ra – anh cười – Gọi là làng mồ côi là vì làng mình nằm đơn đọc giữa bốn bề sông nước, mỗi mùa lụt là nước ngập tứ bề, làng bị cô lập với các nơi, chứ có phải là do cái truyền thống tủi buồn kia đâu! Mồ côi là tiếng dành cho con trẻ không may mất cha mất mẹ, ai lại nỡ vận vào bắt các cụ tuân theo! Thiệt thòi cho các cụ quá đỗi. Các cụ cuời, gật gù: Anh nói nghe cũng phải. Thôi thì anh đi tiên phong phá bỏ cái lệ mồ côi ấy đi, có khi chúng tôi được nhờ. Với các chị em con cháu mình, anh chỉ bảo đơn giản: Những ngày cha đau ốm nằm bệnh viện, ai sớm hôm đỡ đần chăm sóc lo lắng từng miếng ăn giấc ngủ cho cha? Các anh các chị có lo lắng túc trực ngày đêm được ở đó không, hay là vài ba ngày mới vào cho cha thấy mặt một lần rồi tất bật lo toan công việc, con cái? Mà mình có tận tâm chu đáo được đi nữa, cũng phải thấm thía câu con nuôi cha không bằng bà nuôi ông chứ. Bây giờ một mực ngăn cản, để cha cứ thui thủi một mình, đêm hôm đổ bệnh thình lình không có ai bên cạnh thì làm thế nào? Huống gì, cha mình và dì Tư quen biết nhau từ nhỏ, dì vốn là bạn thân thiết của mẹ thuở sinh thời, từ khi mẹ qua đời dì luôn gần gũi lo lắng cho cha, có phải ai xa lạ đâu. Biết đâu, mẹ linh thiêng lại run rủi cho cha và dì Tư đến với nhau lúc tuổi già cô quạnh cũng nên… Anh chị em, đám con cháu im lặng nghe Nhân, có vẻ xấu hổ.

Ba tháng sau, đám cưới của lão Nhàn và bà Tư được tổ chức.

Không kể bà con họ hàng, gần như cả làng Đông Mỹ, từ trẻ đến già đều náo nức tham dự đám cưới có một không hai tự cổ chí kim ở làng Đông Mỹ này.

Tiếng hò reo cô dâu chú rể làm bể bình bông của lũ con nít và tiếng vỗ tay hoan hỉ của đám người lớn vang lên như sấm dậy khi chú rể Nhàn và cô dâu Tư xuất hiện. Họ vừa làm lễ gia tiên và thắp hương cho mẹ Nhân xong. Chú rể Nhàn lúng túng trong bộ đồ vét xám sang trọng vừa mới may xong mà cứ như mặc bính của ai. Cô dâu Tư vận chiếc áo dài sậm màu Ut Hiên đã dẫn mẹ ra tận Đà Nẵng nhờ Hương đưa đi cắt may ở một hiệu may có tiếng. Lão Nhàn và bà Tư đứng ngây ra trước mặt quan khách. Hai tay chú rể cứ vặn xoắn vào nhau, chẳng chịu đưa ra đỡ cô dâu đang ôm khư khư bó hoa to tướng che khuất cả khuôn mặt thẹn thùng.

Nhân bước ra, chững chạc trong vai trò chủ hôn, cầm micờrô dõng dạc lên tiếng:

– Thưa bà con hai họ. Thưa…  Đột nhiên, tiếng còi và tiếng xe ô tô vang lên rền rĩ trên con đường bê tông dẫn vào làng Đông Mỹ vừa mới hoàn thành hồi năm ngoái át cả tiếng Nhân. Cả đám cưới xôn xao nhìn ra. Một chiếc ô tô tải kếch sù vừa bấm còi inh ỏi, vưa lùi lũi tiến về phía đám cưới và dừng hẳn lại trước ngõ nhà lão Nhàn. Từ trên ca bin xe, bốn người bước xuống: Ba Thương, chồng Ba Thương và hai đứa nhỏ.

Ba Thương bỏ mặc chồng con đứng đó, lách qua đám đông nhốn nháo, vừa đi vừa chạy tiến thẳng lên phía trước hôn trường, ôm choàng lấy cả lão Nhàn và bà Tư đang ngơ ngác, nấc lên nức nở:

– Ba tha lỗi cho con. Dì tha lỗi cho con. Con biết lỗi của con rồi. Con thật là đứa con dại dột, bất hiếu .

Hai ông bà chưa kịp nói gì, cô đã lau nước mắt, nhoẻn cười:

– Vợ chồng con cố về kịp để mừng ba dì và có món quà để chuộc lỗi đây…

Cô xăm xăm kéo tay hai ông bà đi đến chỗ chiếc xe tải đậu. Chồng Ba Thương và hai đứa nhỏ đã hì hục mở được tấm vải bạt phủ trên xe tải và để lộ ra món quà đồ sộ chở trên xe. Nhân kêu lên:

– Gốc khế cổ thụ!

Cả đám cưới ồ lên kinh ngạc. Quên mất vai trò chú rể, lão Nhàn tiến đến nhìn chằm chằm vào gốc khế đang được mấy thanh niên lên xe khiêng xuống. Lão sững sờ lắp bắp:

– Chính nó… chính gốc khế nhà ta đây mà. Làm sao… làm sao các con lại tìm được nó… Tạ ơn trời phật!

Chồng Ba Thương phân trần với Nhân:

– Vậy mà vợ em nó cứ gân cổ cãi, bảo em nhầm chứ làm gì cây khế nhà mình lại trôi nổi vô tận chợ cây cảnh Nha Trang. Chỉ nhìn thấy cây khế có hai lần, mà bắt gặp nó là em nhận ra ngay. Mấy cục u, mấy cái hốc ở gốc khế đó thì nhầm sao được. Họ hô hai chục triệu, em chơi luôn. Cũng đáng phải không anh?

Lão Nhàn muốn rơi nước mắt:

– Cảm ơn… cha cảm ơn các con.

Đêm tân hôn, lão Nhàn bảo với bà Tư khi đôi vợ chồng mới cưới ngồi bên nhau dưới gốc khế vừa được trồng lại chỗ cũ lúc chiều ngắm trăng non:

– Tui nhầm rồi, bà à. Những đám mây chúng không bay về phía núi, mà chúng tứ tán đi khắp nơi, rồi lại hối hả tìm nhau tụ lại. Chúng luôn có nhau.

Bà Tư háy dài:

– Cái ông này. Ông học đòi các cụ hưu trí làm thơ đấy à?

Đám mây bay đi, mặt trăng non bỗng sáng bừng lên soi rõ đôi vợ chồng già đang lườm nguýt nhau mở màn cho tuần trăng mật muộn mằn.

                               

KHO CỦA

– Anh ở thành phố về, chắc có nhiều chuyện lạ lắm, hả? Kể tôi nghe với. Nghe nói tình hình Trung Đông lại căng thẳng, thằng Ít-ra-ăn dựa thế Mỹ đang hoành hành, đem quân đánh nhau loạn xạ, hả? Còn Mỹ thì rối tinh rối mù ở I-rắc, mỗi ngày mất vài chục mạng? Bin-Lađen lại xuất hiện, thề thánh chiến nữa, hả? Bọn khủng bố lại âm mưu cướp máy bay ở Anh, ở Mỹ, đặt bom ở Pháp, ở Tây Ban Nha, hả? Chà chà, sao mà thiên hạ cứ như phát điên phát rồ cả lên thế nhỉ? Sao cứ đánh đấm, chẳng lo làm lo ăn gì như thế nhỉ? Mình vậy mà hay, cứ như cái bữa khai trương Khu Kinh tế mở Chu Lai năm rồi, đông như hội, già trẻ trai gái háo hức tưng bừng, cờ xí rợp trời. Anh về viết bài phải không? Chu choa, đừng nói gì kinh tế mở, ngay cả làng xóm mình đây này, cũng thay đổi dữ lắm .Anh thấy đó, đường sá, trường trại, nhà cửa, ăn mặc… khác hoắc à. Chả bù với ngày xưa… Tôi ở cái xó heo hút này, quanh năm đầm lầy nước mặn, thế mà cái sự văn minh nó cũng vào tận đây, lôi mình dậy. Không, tôi chưa đến tuổi lẩm cẩm đâu, anh đừng có ngơ ngơ ngác ngác nhìn chằm chằm tôi như thế! Để tôi kể cho nghe. Ừ, mà anh cứ thực mục sở thị cái nhà tôi thì khắc biết, phải không? Cái xe Dream màu nho này, khối anh ở thành phố về phải thèm rỏ dãi… Ờ, mà xin lỗi anh, anh vẫn còn đi cái xe đạp cọc cạch kia đấy hả? Lạ thật… Anh biết cái xe cả đống tiền ấy, từ đâu tôi có không? Biết mà, làm gì anh nghĩ ra được…Thì từ cái con tôm anh đang nhắm rượu với tôi nãy giờ chứ đâu nữa! Hả? Anh không tin à? Ừ mà mới đầu, tôi cũng đâu có tin, vậy mà nó là chuyện có thực trăm phần trăm mới hay chứ? …

Đầu đuôi câu chuyện là từ thằng Tú con bà Hai đầu xóm chứ ai. Hắn cũng học hành sáu bảy năm đâu ở Nha Trang thì phải rồi về làm ở thành phố như anh. Nhưng hắn không viết văn làm báo như anh đâu, hắn làm ở cái “đếch” gì đó… Ờ, à nhớ ra rồi… Xi-rô-đếch, không, không phải, Xì-rô chứ không phải Xi-rô ngọt ngọt đóng chai đâu, đúng rồi,Xì-rô-đếch. Anh bảo là Xi-bờ-rô-đếch hả, ừ, chắc vậy, cũng cái đếch ấy thôi. Một lần hồi năm xưa, hắn ghé vô thăm tôi, mà không vào thẳng nhà, lại đi vòng ra cái đầm nước lợ báo đời của tôi rồi mới vô nhà. Gặp, hắn nói ngay:

– Trời, chú ôm một kho của mà không biết!

Nghe cái giọng đinh đóng cột của hắn, tôi trợn mắt :

– Kho của nào mày?

Hắn chỉ ra phía đầm:

– Kho của nằm lù lù trước mắt chú đó!

Tôi phì cười:

– Ở dưới đó hả? Chỉ toàn cá kho tôm kho cua kho lai rai quanh năm chứ làm gì có kho của nào?

Hắn quả quyết :

– Đích thị nó là kho của đấy. Để rồi con tính với chú quật lên xài chơi.

Tôi bắt đầu bán tín bán nghi… Hay hắn biết dưới đó có tiền vàng gì… Ông nội tôi kể lại, hồi xưa cụ Hường Hiệu có đóng quân ở đây, có khi lúc cấp bách ổng cho chôn vàng ở dưới cũng nên. Vậy mà mình đâu có ngờ… Chà, kiểu này phải rào dậu lại cẩn thận, rồi thuê máy bơm hút sạch nước lên mới được…

Như đoán biết tôi đang nghĩ gì, hắn nhìn tôi cười cười:

– Chú cứ để yên kho của đó, con lo cho.

Tôi càng nghi tợn. Dám dười đó có cả kho vàng thật lắm, cho nên hắn mới có cái vẻ hăm hở như thế .Được học hành cẩn thận có khác, chỉ mới đứng trên đầm ngó xuống mặt nước lềnh bềnh mà hắn biết là ở dưới có cái gì rồi. Thằng tài thiệt.

Tôi dự đoán điều gì đố có sai. Chủ nhật tuần sau, hắn lại về, chở theo cái máy bơm nước cồng kềnh kèm theo mấy ông thợ lỉnh kỉnh đồ nghề .Y như rằng… Hắn bảo tôi:

– Chú ở nhà vài hôm, ta hút sạch nước mấy cái đầm này lên rồi hẵng hay.

Tôi gật đầu mà cười thầm trong bụng: Để xem hắn có qua mặt được ông già trót đời này không. Giỏi thì giỏi, thằng Tú chẳng qua cũng chỉ là một chú ngựa non háu đá thôi. Cái việc đào kho vàng này, dứt khoát tôi sẽ để mắt đến cẩn thận .

Thế là từ đó, hắn lôi tôi dính chặt vào một đống các công việc mệt muốn đứt hơi: Cho máy hút cạn nước, dọn sạch sẽ đáy đầm sềnh sệt những rác những bùn. Mấy ngày đó, thôi thì tha hồ mà nhậu, ê hề đồ nhắm: tôm, cá, cua đủ loại đủ cỡ… Nhậu không hết, tôi đem cho cả làng. Tiếc đứt ruột, nhưng nghĩ đến lúc quật lên cả kho vàng, tôi còn hăm hở xăng xái hơn cả thằng Tú. Đến lúc đáy đầm sạch sẽ rồi, tôi cứ ngớ người ra khi hắn bảo:

– Để yên đó đã, chú.

Tôi đành nghe theo mà trong bụng cứ băn khoăn, chẳng hiểu hắn có ý đồ gì mà đầm đã cạn sạch nước rồi, không lo đào, lại để chình ình phơi ra đó. Hắn lại xoay ra làm cống thoát nước, trời ạ. Cái thằng tính toán đâu ra đấy, chu đáo thật. Chắc hắn làm thế để rủi ro không tìm ra của, hắn đền khéo tôi mớ tôm cá bị vét sạch đây mà! Nửa tháng sau, cống xong, mà hắn cũng cứ lơ là việc đào. Đáy đầm đã nứt toang hoác như mặt ruộng gặp mùa hạn lớn chứ ít gì. Cực chẳng đã, tôi bấm ruột bảo hắn:

– Tú, mày cứ việc đào lên đi. Được bao nhiêu, hai chú cháu mình cùng hưởng, mày đừng ngại tao!

Hắn trợn tròn mắt:

– Chú bảo đào cái gì?

Ba trợn thật. Tôi thẳng thừng:

– Thì đào kho vàng dưới đầm lên chứ mày còn chờ gì nữa!

Hắn cười phá lên, ôm bụng gập lưng mà cười. Hắn cười muốn đứt hơi. Tôi đã tức sôi lên chực nắm cổ hắn quẳng xuống đầm thì hắn thôi cười, ngẩng lên, bảo:

– Không phải vậy đâu chú ơi! Cái kho vàng ấy, bây giờ chú cháu mình mới bắt đầu xây đấy, chứ dưới đầm làm gì có!

Tôi sững người:

– Thiệt hay giỡn đó, mày? Không có kho của nào mà mày làm tanh banh cái ao cá của tao như vậy đó hả? Trời ơi, một đống của ông bà tao để lại chứ rác rưởi gì đâu mà mày dám làm vậy hả?

Thấy vẻ điên tiết của tôi, chắc hắn đã sợ, nên hạ giọng:

– Thôi mà, chú Chín. Con đã xem xét, nghiên cứu kỹ cái đầm của chú rồi. Để vậy, đúng là chú có cái lai rai quanh năm, nhưng chẳng bao giờ chú khá giả lên được đâu. Con tính kỹ rồi, mình phải làm sao thu được cái đống của đang nằm trong đầm này mới được.

Đống của… lại đống của! Tôi càng điên tiết hơn, nhưng ráng dằn lại, hỏi hắn:

– Vậy chớ mày tính làm gì mà có đống của ở đây?

Hắn điềm nhiên bảo:

– Cháu tính dọn lại cái đầm này để nuôi…

– Nuôi gì?

– Nuôi tôm!

Tôi muốn té ngửa ra:

– Trời đất! Cái đầm của tao, bao đời nay tôm cá nó ê hề ra đó, việc gì phải nuôi nữa? Chim trời cá nước, tự nó sinh, tự nó diệt chứ mắc mớ chi phải nuôi với nấng .Bộ mày nghĩ tao già cả lẩm cẩm nên giớn mặt tao, hả Tú?

Hắn nói, lại vẫn cái giọng như đinh đóng cột:

– Chú cứ để cái kiểu “tự nó sinh, tự nó diệt” cho nên chú mới quanh năm đầu chày đít thớt, khổ lây cả vợ con như vậy đấy. Muốn đổi đời, giàu có, phải biết tính, biết làm chứ chú Chín. Chú yên tâm đi, cứ nghe lời con. Nếu cái vụ nuôi tôm này mà hỏng đũa, con đưa đầu ra chịu với chú đấy. Hoặc giả – hắn cười cười – con đền chú chiếc xe Cub của con kia kìa …

Chẳng ham gì xe cộ với máy móc của hắn, nhưng đã lỡ phải theo lao, tôi đành bấm bụng nhất nhất làm theo lời hắn chỉ vẽ. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ đã hai thứ tóc trên đầu, tôi cũng không ngờ rằng cái việc nuôi tôm nuôi cua lại phải công phu, nhiêu khê lắm thứ đến như thế. Hết hút nước lại bơm nước, ai đời đầm ao mà phải mua vôi đổ giống đổ phân cho ruộng, rồi đo đo đếm đếm, dòm chừng suốt. Cái thằng, quả nó cẩn thận và khéo tay hết sức, đến màu nước mà hắn cũng canh cho đúng màu vàng chanh mới chịu! Tôm con, hắn mang từ Xì-rô-đếch ở Đà Nẵng về, nâng như nâng trứng đã lạ, đến thức ăn cho tôm, hắn cũng chở về luôn mới kỳ chứ. Làm như cả cái đầm mênh mông như thế chẳng có gì cho mấy con tôm ranh ăn! Rồi hắn thả tôm, rồi hắn vớt, hắn xem xem xét xét canh chừng suốt, cứ có ngày nghỉ là chạy về lao xuống đầm, bất kể đêm hôm. Sức già dẻo dai như tôi, mà theo hắn muốn hụt hơi, nhưng cái gì hắn cũng cẩn thận dặn đi dặn lại mãi nên lần lần tôi cũng quen. Riết rồi đâm ham, suốt ngày ngồi ngoài đầm tôm, dính chặt vào cái giống cứt lộn đầu ấy. Ròng rã mấy tháng trời như vậy, hai chú cháu quên ăn quên ngủ vì mấy con tôm…

Hà hà… Cái thằng, được học hành đi đây đi đó có khác. Nó bảo cái đầm là kho của thì đúng y như rằng… Đến lúc thu hoạch, vớt tôm lên, nhìn mới sướng con mắt chứ, cũng bõ công bõ sức bao nhiêu ngày vất vả bận bịu. Mà anh biết không, hắn không cho hút nước bắt tôm bằng tay đâu nhé, vớt bằng lưới điện hẳn hoi, hiện đại lắm. Cơ man nào là tôm, con nào con nấy cứ tròn căng, nây nẩy, thi nhau nhảy tanh tách loạn xạ cả lên… Chà, phải chi anh về đúng hôm đó, nhìn mới thật đã con mắt. Cả làng xúm lại tròn mắt lên mà dòm, mà xì xào nức nở khen… Không giấu gì anh, nói kho vàng ở cái đầm tôm của tôi với thằng Tú thì hơi quá, nhưng cũng hòm hòm gần như vậy. Cho nên, anh về lần này, nhìn cơ ngơi của tôi thay đổi, có ngạc nhiên cũng phải thôi… Nhà cửa này, vườn tược này, xe cộ này, máy móc này… mấy vụ tôm là tôi sắm đủ hết. Hà hà… đến vụ tới, tôi còn làm hơn nữa ấy chứ, kiếm luôn cái dàn máy di tính xài chơi. Anh biết không, cả vùng này bây giờ theo tôi mà nuôi tôm, cứ là phải học tôi, nhờ tôi chỉ vẽ bảo ban cho, nhất là qua mấy cái vụ tôm dịch tôm bệnh… Cái thằng Tú, học đã giỏi, mà nó truyền nghề cũng thánh thiệt, giấu gì anh, giờ tôi với nó cũng ngang ngang nhau trong cái nghề nuôi tôm này! Thôi chết, mãi say chuyện, quên mời anh nhắp chút rượu đi, rồi tôi dẫn đi xem mấy cái đầm tôm của tôi. Gần đây thôi, chà, anh mà xem mới biết, đã con mắt lắm… Mời anh…

 

MỐI TÌNH ĐẦU

Ly rượu thứ ba. Thấy hắn ngửa cổ làm thẳng một hơi cạn sạch, tôi đã dè chừng. Sức hắn, tôi biết. Thế này thì nhất định có chuyện. Mà là chuyện gì thì tôi cũng đã biết. Hắn toan mở miệng, tôi đã gạt phắt:

– Thôi, khỏi kể nữa. Chuyện cậu, tớ thuộc như cháo chảy, khỏi.

Hắn há hốc miệng:

– Nhưng… nhưng cậu đã biết tớ nói chuyện gì đâu?

Tôi nhếch mép:

– Thì chuyện mối tình đầu của cậu chứ còn gì nữa?

Hắn đặt ly rượu xuống bàn, thở dài:

– Ừ, cậu đoán đúng. Nhưng cậu chưa biết hết tất cả đâu. Ngay cả với cậu, vẫn còn những điều mình không thể nói ra.

Lần nào cũng vậy. Hắn sẽ nói đúng câu đó, để tôi vừa tò mò, vừa mủi lòng mà ngồi im nghe hắn kể lể. Đâu lần thứ một trăm lẻ một thì phải. Nên tôi biết rõ ngọn ngành câu chuyện tình kia, có khi… còn rõ hơn cả hắn nữa. Vậy mà phải ngồi im nghe hắn. Thì còn làm sao khác được: tôi là thằng bạn thân nhất trần đời của hắn. Tiền rượu hắn sẽ trả. Nói ra, hắn nhẹ nhõm nỗi lòng hơn. Câu chuyện tình ấy, cứ như cục rỉ sắt nằm cứng trong lòng hắn bao nhiêu năm nay. Có dịp, nó lại hành hắn. Đến khổ.

Tôi đốt một điếu thuốc, chờ.

Có gì đây. Hắnnàng học cùng một lớp. Là nói cách đây mười năm kia, thời phổ thông. Hắn học hành giỏi giang có tiếng. Nàng xinh đẹp dễ thương có tiếng. Ngồi trong lớp, ngắm qua ngắm lại mãi, ban đầu ngượng nghịu, rồi thán phục, rồi da diết, rồi thầm yêu trộm nhớ từ lúc nào không hay. Cổ nhân bảo “Trai tài gái sắc”. Mà cái thời gian họ ngồi ngắm nhìn nhau như thế đâu phải là ít: những ba năm. Nghĩa là câu chuyện tình kéo dài suốt một thời phổ thông dằng dặc. Và cái cử chỉ yêu đương ghê gớm táo tợn nhất của cuộc tình kia cũng chỉ đến mức ấy: ngắm nhau. Vậy mà, cả lớp, rồi cả trường cũng biết.

Nàng đẹp, đẹp lắm: tóc xõa ngang vai đen nhánh óng ả, gương mặt thanh tú, đôi mắt bồ câu sâu thẳm long lanh, mũi miệng đến là xinh, làn da phơn phớt hồng, mịn mịn là… Mỗi khi nàng bật tiếng cười, thì lũ chim đang đậu chen chúc trên các hàng cây ven đường ngưng bặt tiếng hót, ngớ ngẩn nhìn. Ây là theo lời hắn kể.

Chuyện mối tình ấy tan vỡ mới thật là kì khôi.

Năm đó, sau kì thi tốt nghiệp phổ thông, sắp rời trường, lớp hắn tổ chức leo núi tập thể một lần rồi chia tay. Cuộc đi chơi thật thơ mộng, đến một nơi cũng thật thơ mộng: suối Dương Thơm. Nhưng khi cả bọn đã ì ạch leo lên đến đầu con suối thì cái chuyện kì cục kia xảy ra.

Đang bám tay đứa bạn trườn lên một tảng đá, nàng trượt chân đánh oạch. May, đứa bạn đã cố sức giữ nàng lại được, không ngã. Nhưng đôi dép da có cái quai hồng hồng nàng vừa sắm được cho dịp này đã tuột khỏi tay, rơi tủm xuống thác nước, và… nàng hét lên thất thanh:

– Anh .. anh! Vớt, vớt cho em chiếc dép.

Cả lớp cười ồ. Một đứa vọt miệng lớn tiếng giục, nghe như nhại :

– Kìa anh, mau lên anh!

Hắn đỏ bừng mặt, đứng chôn chân mất một giây. Chỉ một giây chần chừ ấy, thác nước đã kịp cuốn chiếc dép trôi phăng phăng nhấp nhô xa lắc.

Gương mặt thanh tú của nàng tức thì tái nhợt, rồi đỏ bừng, rồi tái nhợt lại, rồi lại đỏ bừng lần nữa. Hai khóe mắt nàng từ từ ứa ra hai giọt, rồi hai giọt nữa… Rồi nước mắt tuôn ròng ròng trên đôi má hồng. Nàng khóc. Hắn không dám nhìn nàng, chỉ căm tức chiếu ánh mắt trừng trừng nhìn thằng bạn vừa buông ra câu nói khi nãy. Thằng chả nhăn mặt như khỉ nhìn lại.

Suốt buổi đi chơi sau đó, nàng không nhìn về phía hắn lần nào. Hắn, người có lỗi, càng không dám. Đến lúc cả bọn chia tay nhau về, nàng mới buông cho hắn một câu từ biệt xanh rờn:

– Đừng bao giờ gặp lại tôi nữa!

Thế là cuộc tình tan vỡ. Tan vỡ thật. Bao nhiêu lần hắn cố tìm cách gặp lại nàng đều không thành.

Mỗi khi kể đến đoạn chia tay nhau ấy, mặt hắn buồn rười rượi:

– Nếu ngày ấy, tớ đừng tự ái ngốc nghếch như thế thì mọi chuyện đâu đến nỗi… Mà nàng, tự ái và kiêu hãnh phát khiếp lên được.

Hắn không bao giờ gặp lại nàng nữa sau những cố gắng vô ích. Nhưng khổ, tình yêu trong hắn, có lẽ vì thế mà mỗi ngày càng lớn thêm lên, tuyệt diệu thêm lên, day dứt thêm lên. Đến mức hầu như hắn không còn có thể thực sự yêu ai được nữa. Mà đã trên mười năm rồi chứ ít đâu.

Nàng, từ khi xa cách, mỗi ngày lại càng đẹp hơn, đáng yêu hơn trong hắn. Gương mặt mỗi năm lại thêm thanh tú. Làn da mỗi năm lại thêm mịn màng. Tiếng cười thánh thót… lại thánh thót hơn. Cả đôi mắt bồ câu… hình như cũng bồ câu hơn, cái mũi dọc dừa… hình như cũng dọc dừa hơn. Đến nhức nhối. Nàng càng xa cách, càng đẹp hơn trong hắn, và hắn càng yêu nàng hơn.

Mối tình đầu mà lại.

Lần ấy, tôi đã có chủ định. Nên khi hắn đã nỉ non hết câu chuyện, tôi buông thõng:

– Này, có thật mười năm nay cậu không gặp lại nàng không? Và có thật là… cậu vẫn yêu nàng không?

Hắn trừng mắt:

– Sao lại không?

Tôi kéo ghế đứng lên:

– Đi theo tớ!

Hắn ngơ ngác:

– Đi đâu?

– Mặc, cứ đi theo tớ.

Vẫn còn ngạc nhiên, nhưng trước vẻ quả quyết của tôi, hắn cũng đứng dậy trả tiền, rồi đạp xe theo sau tôi. Có vẻ như hắn đã tỉnh rượu. Đến một quán cà phê, tôi ngoặt vào, ấn hắn ngồi xuống ghế, gọi cà phê, bảo:

– Cậu hãy nhìn ra đường, phía trước kia!

Hắn lạ lùng, nhưng vẫn làm theo lời tôi.

Một lát sau, tôi cố giấu vẻ mừng rỡ của mình, vỗ vai hắn, nói:

– Nào, hãy chú ý, có trông thấy gì đặc biệt không?

Hắn có vẻ căng thẳng:

– Không, có thấy gì đâu?

Tôi kéo tay hắn chỉ:

– Cậu có để ý người đằng kia?

Hắn ngần ngừ:

– Một cô gái… có gì lạ đâu?

Tôi tức đến muốn hét lên:

– Không có gì lạ hả? Nàng, nàng của cậu đấy chứ cô nào nữa? Không nhận ra à?

Hắn bật dậy:

– Sao? Có thật không?

Tôi không giấu được vẻ đắc thắng:

– Còn ai nữa! Thì tớ đã cố tìm bằng được người trong mộng của cậu. Nàng đấy thôi. Nàng làm việc ở một cơ quan văn hóa đằng kia kìa. Ngày nào trên đoạn đường này, vào giờ này, nàng chả từ nơi làm việc trở  về nhà…

Hắn thả mình phịch xuống ghế:

– Nhưng nàng… nàng mà tớ lại không nhận ra được? Nàng mà… mà thế kia ư…

Tôi không nói gì, để mặc cho hắn ôm đầu suy nghĩ. Cô gái khuất sau con đường, bình thường như mọi cô gái đang trên đường từ nơi làm việc trở về nhà. Gương mặt bình thường, đôi mắt bình thường, làn da bình thường… của một cô gái đẹp bình thường.

Mối tình đầu… Hỡi ôi! Mối tình đầu… Thiêng liêng biết bao, đẹp đẽ biết bao. Nên nàng cứ mãi là một thiên thần trong hắn, để khi trông thấy chính nàng sau bao nhiêu năm hắn chẳng thể nào nhận ra nàng, không tin được đó là nàng!

Tôi thoáng ân hận, khi hắn ngước ánh mắt đau đớn lên nhìn tôi, như vừa sực tỉnh cơn mê, một cơn mê đẹp.

Hắn không bao giờ kể về mối tình đầu của mình nữa. Một thời gian sau, hắn lấy vợ rồi có con. Như  mọi người.

 

ĐÔI MẮT XANH VÀ TẬP VỞ ĐỂ QUÊN

Nhỏ bạn khều tay cô, giọng nghiêm trọng:

– Này Nguyệt, hắn xuất hiện kìa!

Cô quay lại. Quả thực, hắn đã hiện ra từ một ngã ba đường, đang lẽo đẽo bám theo cô, một cách rất kiên trì, rất bình thản, rất tự tin.

Đã năm hôm nay, lần nào tan trường về, cô cũng lại thấy hắn xuất hiện đúng nơi ấy, vào giờ này. Năm hôm, hắn cứ đi theo như vậy, chẳng nói gì, chậm rãi theo sau cô một đoạn, cho đến khi cô về đến nhà. Vào cổng, có lần cô nép sau môt vòm cây quan sát, thì thấy hắn vẫn cứ đi thẳng, vượt qua cổng nhà cô một đoạn, rồi… vòng lại.

Bữa hắn bám theo đầu tiên, cô hơi hoảng. Nhưng thấy hắn có vẻ hiền hiền, chững chạc và lặng lẽ, cô lại yên tâm ngay. Đến bữa thứ ba thì cô bạn cùng đi trên đoạn đường về nhà đã để ý thấy “hiện tượng lạ” này. Và hôm nay, cả hai có ý trông trông sự xuất hiện của hắn.

Hai cô đi chậm, hắn chậm rãi bước. Hai cô đi nhanh, hắn âm thầm tăng tốc độ. Khoảng cách đều được hắn chu đáo giữ nguyên suốt một quãng đường.

Đến một ngã ba nữa, cô bạn chia tay, sau một cái mỉm cười và cái háy mắt về phía sau rất là ý nghĩa:

– Cẩn thận nha, Nguyệt!

Nguyệt cũng mỉm cười, bước tiếp. Cô kín đáo liếc về phía sau. Khoảng cách đều vẫn được hắn chu đáo giữ gìn.

Ba trăm bước chân nữa là đến nhà.

Cô bước chậm, thật chậm. Đột ngột hắn hùng dũng bước nhanh lên, sát đến bên cô. Nhưng khi cô dừng hẳn lại, tròn xoe mắt nhìn hắn, thì giọng hắn lắp bắp đến là tội:

– Xin lỗi… bạn… có phải bạn tên là Nguyệt… lớp D2 không?

– Ơ… sao… mà biết?

Sự thông minh cho phép hắn hiểu được câu nghi vấn – khẳng định, nên hắn mừng rỡ, nói liền một hơi:

– Hôm trước tôi nhặt được… cái này của bạn. Định đến trả mà… mà chưa biết chắc… nên… nên hổng dám!

Hắn lục lọi túi bụi trong chiếc túi xách kè kè một bên vai, rồi giơ ra. Nguyệt “À” lên một tiếng: quyển tập Toán cô đánh mất tuần trước. Cô lí nhí:

– Cảm ơn… anh.

Hắn rạng rỡ cả khuôn mặt:

– Không có chi. Chẳng là tôi… học khối lớp buổi chiều, ngồi ngay đúng chiếc bàn có cuốn vở Nguyệt để quên. Sợ để đó, chiều tối bọn trẻ con vào trường lấy mất. Đành đem về… mãi tới nay mới trả lại được…

Nguyệt chưa kịp nói gì, thì hắn tự dưng nhỏ giọng:

– Thôi, tôi về nhé… Tạm biệt… đôi mắt xanh!

Câu cuối cùng hắn nói thật nhỏ. Câu nói chưa dứt, hắn đã hối hả quay lui. Nguyệt đứng chôn chân nhìn theo. “Đôi mắt xanh” – lần đầu tiên có người gọi Nguyệt như vậy.

Buổi tối, “Đôi mắt xanh” chăm chú lật từng trang vở. Nguyên như cũ, chỉ toàn những bài tập nối tiếp nhau. Những ký hiệu toán học chằng chịt, khô khốc. Không có một “dấu hiệu” nào của hắn trong đó, ngoại trừ cái bìa vở đã được hắn bọc lại cẩn thận bằng một tờ giấy trắng tinh. Tịnh không một chữ của hắn. Nguyệt ngồi ngắm quyển vở, cô hình dung lại khuôn mặt hắn, mới nhớ ra rằng lúc trưa mình không kịp hỏi cả tên hắn…

Hai hôm rồi không có bóng dáng hắn xuất hiện trên con đường đi học của Nguyệt.

Cô bạn cũng thắc mắc, hỏi:

– Cái anh chàng vẫn đi theo chúng mình biến đâu rồi ấy nhỉ?

Nguyệt lắc đầu. Cô không kể gì về cuộc “tao ngộ” giữa hắn và cô hôm trước. Nhưng đôi mắt xanh có vẻ buồn và thỉnh thoảng lại nhìn về phía sau tìm kiếm. Hắn biệt tăm.

Ngày thứ ba, cả lớp học ra về cả, Nguyệt vẫn còn chần chừ nơi bàn học. Cô loay hoay xếp sách vở, ấn khóa chiếc cặp nhưng vẫn ngồi yên. Nghĩ ngợi thế nào, Nguyệt mở cặp, lấy ra một quyển tập, khẽ đặt vào ngăn kéo bàn học.

Lần này là một cuốn vở Văn.

Thú thật, tôi không được biết câu chuyện kết thúc như thế nào. Không biết hắn có may mắn tìm thấy cuốn vở không, có lại lẽo đẽo rụt rè đi theo Nguyệt để trả lại cho Nguyệt và họ sẽ làm quen với nhau, Nguyệt sẽ hỏi tên hắn và họ sẽ trở thành đôi bạn thân thiết hay không. Hay là cuốn vở của Nguyệt đã bị bọn chăn trâu nghịch ngợm lấy đi mất, và hắn chẳng bao giờ còn có lý do để được nhìn thấy đôi mắt xanh luôn biên biếc một nỗi niềm vụng dại tuổi học trò…

Tuổi học trò đáng thương quá chừng.

                                                                                             

MẢNH TRỜI XANH LẤP LÁNH

Không, không phải cái dáng người nhỏ nhắn, thon thả, khuôn mặt thanh tú thông minh, đôi mắt đen láy đến nao lòng của chị làm anh ngỡ ngàng khi bước vào và nhìn thấy chị ngước ánh mắt lên nhìn anh như dò hỏi, như tìm kiếm, như đang đau đáu một nỗi niềm riêng… Phải, tất cả sức mạnh huyền hoặc toát lên ở chính con người chị, đã khiến anh bối rối, đứng chôn chân lặng thinh mất một lúc. Mãi, anh mới thốt ra được những lời lẽ ra phải nói ngay khi anh bước vào phòng:

– Chào chị! Đây có phải là văn phòng Công ty…?

– Dạ, thưa đúng. Mời anh ngồi. Anh đến văn phòng chúng tôi có việc gì, thưa anh?

Giọng nói êm như ru của chị lại làm anh giật mình lần nữa. Cái giọng Trung, pha lẫn chút nhẹ nhàng đáng yêu của Nam bộ làm anh lại đứng yên, bối rối lặng im một lúc nữa. Rồi, anh từ tốn kéo ghế ngồi xuống, đối diện chị. Chị đứng lên, cầm lấy phích nước, pha trà. Thong thả đặt ly trà thơm tỏa khói đến trước mặt anh, chị lại hỏi lần nữa, giọng nhẹ như một hơi thở:

– Thưa anh, là thư ký văn phòng, tôi có thể hân hạnh giúp anh được việc gì?

Như sực tỉnh, anh đưa tay cầm lấy ly trà, nhắp một ngụm, đủ để kịp trấn tĩnh, và trả lời chị:

– Không, cảm ơn chị. Đơn giản là tôi có một người quen ở đây. Nhân tiện đi công tác ngang qua, tôi ghé thăm anh ấy.

Cái quyết định nhận công tác tại văn phòng Công ty X… nóng rực trong túi áo anh. Anh bất giác đưa tay lên, ấn vào tờ quyết định, như cố giữ để nó cũng… hiểu anh, và… đủ sức lặng thinh như anh.

Chị ngước ánh mắt lên nhìn anh, dò hỏi.

Anh vội vàng trả lời điều anh vừa đọc được trong cái nhìn của chị:

– Chị… tha lỗi cho… Đến đây, tôi mới biết được là… bạn tôi đã đi công tác xa… xin chị thứ lỗi… đã làm phiền.

Anh đỏ mặt lên, vì biết rằng chị đã nhận ra lời nói dối vụng về của anh. Chị im lặng tiếp trả cho anh, không hỏi thêm rằng người bạn của anh là ai… Anh thầm cảm ơn chị vì điều ấy.

– Thôi… Tôi phải đi cho kịp chuyến xe… Chào chị, xin cảm ơn chị…

Chị cũng đứng lên, nhưng không theo tiễn chân anh mà vẫn đứng yên một chỗ:

– Vâng, chào anh. Mong sẽ có dịp anh ghé đến văn phòng chúng tôi… và sẽ gặp được lúc bạn anh có nhà…

Anh bước ra. Chị đứng lặng thinh nhìn theo. Đôi mắt đen láy khẽ chớp, vẫn cái nhìn dò hỏi và đầy bí ẩn ấy. Nhưng anh không quay lại.

Giám đốc Công ty X ngạc nhiên nhìn anh:

– Anh trả lại quyết định à? Anh từ chối về công tác ở đây? Anh suy nghĩ  kỹ chưa, hả anh bạn trẻ?

Lần đầu tiên anh lảng tránh ánh mắt của người khác:

– Thưa ông Giám đốc, tôi đã suy nghĩ kỹ… Tôi không thể, dù rất tiếc, xin ông thứ lỗi.

Người giám đốc tóc hoa râm chăm chăm nhìn anh :

– Tôi cũng rất tiếc, …Nhưng anh đã quyết định như vậy, tôi cũng không thể ép buộc. Đành vậy, nhưng tôi vẫn mong anh nghĩ lại, và… sẽ đến đây lần nữa.

Anh nắm chặt bàn tay ấm áp của ông Giám đốc Công ty, rồi quả quyết bước ra khỏi phòng. Đến cổng, bất giác anh quay lại nhìn, và bắt gặp chị đứng yên ở cửa văn phòng. Vẫn đôi mắt dò hỏi, bí ẩn đến nao lòng “như một mảng trời xanh” – anh thầm nghĩ, và tự hỏi mình sẽ giải thích thế nào với vợ và con gái về lý do không nhận nhiệm sở này khi trở về nhà.

NGỒI BUỒN NGÓ BÂNG QUƠ

Gã ngồi thần mặt ra. Nhưng thật tình trong đầu gã chẳng có một chút ý tưởng nào. Cũng không có việc gì buộc gã phải suy nghĩ. Mọi công việc trong ngày, gã đã làm xong, máy vi tính đã đóng lại, gã còn cẩn thận rút cả phích cắm điện. Các phòng khác, đám cán bộ nhân viên đã lục tục ra về. Tiếng đóng cửa phòng rầm rĩ. Tiếng cười nói kêu gọi í ới. Gã không hiểu nổi, sao cứ kết thúc một ngày làm việc, là mọi người lại có cái sự sung sướng hớn hở to lớn ấy. Cứ như vừa trả xong được một món nợ trần ai hoặc vừa thoát ra khỏi một sự việc khổ ải nào đó. Nhưng nào có lâu la gì, sau một đêm, sáng ra lại bắt đầu một ngày làm việc, cũng hệt như ngày hôm nay, có khác gì. Cũng những khuôn mặt ấy, những công việc ấy, gặp mặt nhau chào hỏi kiểu ấy, ngay cả những điều tán nhảm bên ly cà phê buổi sáng và bàn nhậu buổi chiều cũng chẳng mấy thay đổi. Nó cứ lặp đi lặp lại, ngày này sang ngày khác, rền rĩ uể oải như một bản nhạc tình bị chiếc máy cassette hỏng tua đi tua lại.

Tiếng chuông điện thoại bàn đột ngột réo lên inh ỏi. Mặc. Gã ngồi im. Sau một hồi hối thúc, tiếng chuông thất vọng im bặt. Nhưng chiếc máy di động gã để trên bàn đã rung lên bần bật, chuẩn bị cho một hồi giục giã khác, gọi đích danh gã. Gã tự giận mình đã sơ ý quên tắt máy, nhưng vẫn cứ ngồi im. Tiếng di động bất mãn dừng lại. Một phút sau, tiếng bíp rất khẽ vang lên. Tin nhắn. Gã chần chừ, rồi mở máy. Một dòng chữ ngắn gọn den quan doi gio dang cho. Gã hiểu ngay ai nhắn tin, và những ai đang chờ gã. Gã bấm nút xóa, không trả lời. Nhưng ngay lập tức, một tiếng bíp khác đã lại vang lên. Anh co chuyen gi vay sao khong tra loi dien thoai. Em cho anh o mat nau. Gã ngần ngừ một thoáng, rồi lại bấm nút xóa. Gã tắt máy, bỏ vào túi quần, đứng dậy. Điện thoại bàn réo lên lần nữa. Nhưng gã đã khóa cửa, ra khỏi phòng. Mặc tiếng máy reo vang từng hồi, không dừng cả khi gã đã bước đến chân cầu thang.

Để xe lại cơ quan, gã lững thững đi bộ ra cổng. Người bảo vệ có vẻ ngạc nhiên, nhưng không hỏi gì khi nhìn thấy cái vẻ thờ ơ lạ lùng ở gã, lẳng lặng đóng lại cánh cửa sắt nặng nề sau cái gật đầu chào dửng dưng của gã. Gã tiếp tục lững thững đi. Nhưng gã không đến quán Đổi Gió nơi đám bạn đang chờ. Cũng không đến quán cà phê Mắt Nâu nơi cô bạn gái gã đang đợi. Cũng không về nhà trọ. Gã sợ phải trông thấy các khuôn mặt phấn khích, đỏ ửng, những câu chuyện ồn ào, không đầu không cuối của đám bạn nhậu bốc trời, dù họ thật tình yêu mến và trông mong gã đến. Gã sợ ánh mắt hau háu của cô bạn gái cứ gã xuất hiện ngồi chưa nóng chỗ đã mở miệng say sưa nói đến chuyện cưới xin. Gã ngại phải chạm trán thằng bạn thuê cùng nhà trọ giá bèo với gã lúc này, hễ động thấy gã về sớm một chút là hắn gài độ ngay một cuộc nhậu tại gia kéo đến tận khuya, mặc cho mụ chủ nhà khó tính cứ đi ra đi vào lê dép loẹt quẹt. Gã không đến những nơi ấy. Gã đi thẳng ra dãy quán gió dọc bờ sông.

Bờ sông hôm nay ít gió. Khách thưa thớt. Gã cảm thấy may mắn. Mọi hôm, giờ này các quán ven sông đông nghịt người, đến trễ là không còn chỗ dù dãy quán dài tít tắp cứ đến tầm buổi chiều là đồng loạt xuất hiện như có phép thần, sáng ra lại biến mất như chưa bao giờ tồn tại. Quán xá bây giờ biến đổi khôn lường, như lòng người.

Gã chọn một quán vắng khách nhất ghé vào.

Gã chưa kịp kéo ghế ngồi, đám hàng rong hờm sẵn từ lúc nào đã ngay lập tức tranh nhau ào tới. Mùi người lúc chiều muộn, mùi các loại thức ăn bày sẵn trên mê, trẹt xộc thẳng vào mũi gã. Nem, chả chú ơi. Cốc ổi xoài, ốc hút, mít trộn, trứng luộc trứng muối đây, mời chú, mời chú. Anh lấy cho em gói đậu này, hôm nay ế quá anh ơi. Đánh giày đi chú, có loại lót mới này tốt lắm chú. Mua cho bà tờ vé số sắp xổ đi con, sắp đến giờ trả vé rồi mà chưa bán được tờ nào. Anh ơi thương cháu, mua cho em tờ báo đi anh, cả ngày nay cháu chưa được ăn gì. Bánh bao nóng, bắp luộc Hội An đây…  Gã chưa hề biết mùi chiến trường và thương trường thực sự thế nào, nhưng người ta ví thương trường như chiến trường chắc cũng có lý do của họ, dẫu thương trường ở đây chỉ là một khoảng không gian nhàu nhĩ với mấy cái thúng mủng bày trơ trất vài loại đồ nhắm rẻ tiền vé số báo chí lặt vặt và những chiến binh đang gồng sức hò hét tranh giành thị phần có hơi còm cõi, xơ xác. Mà thị phần lại quá hẻo, thượng đế đau khổ lắc đầu xua tay lia lịa, chỉ gật mỗi gói đậu phụng luộc.

Đội dịch vụ – thực phẩm vừa rút, đám tiếp thị xanh đỏ xinh như mộng đã ào ào xông đến chiếm chỗ. Anh, tiger em nghe. Anh ơi, samiguel em đi. Anh, lager nè anh. Huda, huda anh ơi. Đám tiếp thị hối hả đặt đủ các loại bia lịch kịch lên bàn, nhao nhao chào mời, nhao nhao liếc mắt mỉm cười tình tứ, nồng nàn, cô ghé xuống sát mặt gã, hai bờ vai trần và bộ ngực nõn nà toả hương ngây ngất, cô cố rướn người lên, đôi chân thon dài trắng lấp loá dưới lớp váy cũn cỡn mỏng tang trong suốt như gương, cô mạnh dạn chồm qua người gã, làn da êm ái mịn màng mát rượi của cánh tay trần vô tư cọ xát lưng gã, làm gã muốn nổi gai lên. Gã trấn tĩnh, lắc đầu nguầy nguậy, kêu cô bé áo xanh còn đang đứng khép nép ngoài xa chừng buổi đầu tiên đi làm, bảo mở nắp một chai con cọp larue. Đám tiếp thị trề môi giãn ra, rồi lập tức ào đến xúm vào mấy vị khách mới vào, như những đợt sóng xô bờ nhấp nhô đủ màu sắc.

Nhìn bộ dạng gã, cô chủ quán còn khá trẻ chỉ đứng nhìn từ xa, không đến hỏi han gì. Gã không lấy làm điều, lại cảm thấy thoải mái, điềm nhiên ngồi nhâm nhi.

Cô bé áo xanh nhỏ nhắn tiếp thị bia Larue rụt rè đứng sát bên cạnh gã, gã vừa đặt ly xuống bàn đã vội vàng cúi xuống rót thêm bia, bỏ thêm đá. Gã bảo thôi cứ để anh tự phục vụ, em đi làm việc của em đi. Cô bé nhìn gã bối rối, nhưng cũng lui ra.

Ngồi một mình nhâm nhi quả thực cũng có cái thú của nó, gã tự nhủ khi thong thả uống đến ly bia thứ ba. Gã vừa uống, vừa tự thưởng thức cái quyền không phải nâng cốc chúc tụng, không phải suy nghĩ đối đáp, không phải lao vào một cuộc tranh luận vô bổ bất chợt luôn dẫn đến cái kết quả tốn rất nhiều bia, oải người đến ba bốn ngày không lại hồn nổi và lúc tỉnh ra phải… đi xin lỗi một lượt khắp mặt bạn nhậu dù chẳng ai còn nhớ nổi ai đã nói gì đã làm gì khi đã đến độ quắt cần câu. Đến cốc thứ năm, gã lâng lâng tự kết luận rằng, ngồi một mình uống dăm ly, bâng quơ ngắm nhìn và lắng nghe đủ chuyện trên trời dưới đất của thiên hạ mà không phải can dự gì vào đích thực là cái sung sướng nhất trần đời của con người. Gã lấy làm lạ sao rất lâu rồi mình bỏ qua một cái thú giản dị mà to lớn như vậy.

Đường phố đã lên đèn từ lúc nào. Người, xe đi lại hối hả, tấp nập. Các bàn trong quán đã chật kín khách. Ồn ào, ầm ĩ. Đắm mình vào những suy nghĩ không đâu, gã không nhận ra mình đã lọt thỏm vào cái không khí ầm ĩ của quán nhậu, lạc lõng trơ trọi. Nhiều ánh mắt lạ lùng thỉnh thoảng liếc về phía gã.

Gã như sực tỉnh khi bắt gặp ánh mắt của nàng.

Không biết nàng ngồi ở đó từ lúc nào. Cũng một mình, thầm lặng như gã. Gã nhận ra trên bàn nàng có mấy chai bia đã cạn. Nhưng khuôn mặt trái xoan nhu mì của nàng vẫn điềm tĩnh. Một khuôn mặt trong sáng, không có nét ẩn ức, tâm sự gì. Nàng không có cái vẻ của một cô gái từng trải chán đời đang mượn rượu giải sầu. Gã thầm nghĩ trong khi vẫn đăm đăm nhìn về phía nàng. Nét ngây thơ có phần lạc lõng trong dáng điệu nàng giữa không khí xô bồ quán xá làm gã xao xuyến.

Nàng cúi xuống một thoáng, rồi lại ngước lên, nhìn gã. Một cuộc trò chuyện kín đáo tâm đắc diễn ra nồng nhiệt giữa hai ánh mắt. Trong một lúc, óc tưởng tượng thiên phú đã cho gã kết luận rằng gã và nàng đã trao đổi cùng nhau rất nhiều điều, đã vô cùng đồng cảm, đã hiểu nhau từ trong muôn thuở. Gã cảm ơn trời đất run rủi đã cho gã cái ngẫu hứng buổi chiều bất chợt đến đây một mình để được gặp nàng. Một thoáng cười trong mắt nàng cho gã biết nàng đồng ý với nhận định của gã, và nàng cũng đang cảm ơn số phận như gã. Những thiên tình sử cảm động nhất của nhân loại thường bắt đầu từ những cuộc gặp gỡ của số phận như thế này.

Nàng chính là phân nửa còn lại của gã, đã chờ đợi gã từ thăm thẳm đời nào kiếp nào rồi.

Gã đứng lên, tiến thẳng về phía nàng.

Nàng chớp mắt, lặng lẽ kéo ghế ra cho gã. Khi gã vừa ngồi xuống, giọng nàng đã cất lên, nhẹ như một hơi thở:

– Dù hay overnight, ông anh?

 

CON BÒ

Gần đến nhà, đang đạp xe phăng phăng, chợt hắn phanh kít lại. Tôi vội bóp chặt phanh theo, bánh trước dựng ngược lên, nhưng chiếc xe cũng dừng lại được. Hắn bảo:

– Cậu ở đây. Tớ vào trước… xem cái mặt nó ra sao đã. Nó cười, tớ ngoắt, cậu hãy vào.

“Nó”, ấy là vợ hắn. Tôi hiểu, nhưng vẫn ngơ ngác:

– Sao lại thế?

Hắn nhăn mặt:

– Sao, sao cái con khỉ. Thì cũng tại cuốn sách chết tiệt của cậu ấy. Cả tuần nay, nó làm ầm ầm lên.

Chả là, tôi có viết một cuốn tiểu thuyết. Sách tình. In xong, khệ nệ mang cả một bộ rất là hoành tráng đến tặng vợ chồng hắn. Đọc, vợ hắn cứ khăng khăng ấy là câu chuyện tình cũ của hắn, và chính hắn viết cuốn sách ấy, chứ chẳng phải người nào sất. Ký bút danh mà. Câu chuyện rành rành thế kia. Còn gì nữa.

Tôi đứng chờ. Đã bước đi, hắn còn quay lại dặn:

– Nhà có cái bát sứt… Hễ… nghe xoảng một cái, cậu chuồn ngay nhé, đừng vào.

Tôi đã hơi hoảng, toan bảo hắn phải bình tĩnh mà tìm phương sách nào hay hơn. Nhưng hắn đã bước đến, gọi cửa. Tôi đứng im thin thít trong bóng tối chăm chú theo dõi.

Rầm… Ấy là vợ hắn mở cửa. Keng… cạch, hắn kéo toang cửa ra, chằn lại. Phịch, oe oe… vợ hắn đặt con xuống giường, ngẩng mặt lên nhìn thẳng vào chồng. Không cười. Hắn hùng dũng nhìn trả vợ, miệng nặn ra một cái hơi giống nụ cười, nhưng hai tay chắp sau đít xua lia lịa. Cái ấy là dành cho tôi. Hiệu lệnh chuồn. Tôi chần chừ… Chưa có tiếng xoảng mà.

Tiếng vợ hắn, nhỏ nhưng rành rọt:

– Anh có biết là em đang đau, con khóc quấy cả ngày không mà giờ này mới về? Sao mà tôi khổ thế này hả trời?

Hắn nghiêm giọng:

– Anh đi làm, chứ có phải đi chơi đâu. Có công việc mới phải về trễ, chứ ai muốn?

Vợ hắn tiến đến sát bên hắn:

– Đi làm… Đi làm mà đến giờ này… Làm ở các quán chứ gì… Mùi rượu nồng nặc đây… Mẹ ơi, sao mà con khổ thế này… Chồng với con, có ai như anh không?

Hắn lớn tiếng cố át giọng vợ:

– Thì có việc, người ta mời một ly, đã chết ai?

Vợ hắn nức nở:

– Ừ, có việc, việc quan trọng mà, cho nên chiều nào anh cũng phải uống, phải về trễ. Con khóc quấy, nước không xách, củi không chẻ, giờ này mà cơm vẫn chưa nấu. Nhà ai cũng cơm nước xong cả rồi.

Hắn nhát gừng:

– Cũng do cô giỏi quá, đảm đang quá chứ sao nữa.

Vợ hắn gào lên:

– Ừ thì tôi dở, tôi kém cỏi. Sao anh không lấy cái cô V. ấy, lại lấy tôi làm gì cho khổ thân, để lúc nào về nhà mặt cũng như đưa đám như vậy?

  1. là nhân vật chính trong cuốn sách của tôi. Nghĩa là, vợ chồng hắn đang đi vào bản chất của vấn đề rồi đây. Tôi đã toan bước vào, nhưng thôi, cứ để yên xem sao.

Hắn:

– Trời ơi! Sách của người ta, chuyện của người ta, lại chuyện trong sách, sao cô cứ hành tôi mãi như thế? Đến phát điên lên mất!

Vợ hắn:

– Phải, tôi chỉ hành anh thôi, chỉ làm anh phát điên lên, chứ làm sao được như người ta, hồn thơ của anh, tình yêu của anh, nỗi cay đắng ngọt ngào của anh !

Hắn há hốc miệng, đứng ngẩn ngơ không trả lời nổi. Tôi toát mồ hôi: Ấy là những điều tôi đã viết trong cuốn sách nọ. Không ngờ vợ hắn thuộc vanh vách như vậy.

Nhưng vẫn không có tiếng bát vỡ.

Im lặng một lát. Rồi tiếng vợ hắn thét lên:

– A ha! Con bò… con bò…

Trời, không lẽ đến nông nỗi này… Vợ hắn vốn là người hiền lành, tử tế, có khi nào dám dùng đến những từ ngữ thượng thặng ấy để nói với chồng dù có nóng giận đến đâu. Đã dùng đến, tức là tình hình đã hỏng bét, hết phương cứu chữa rồi. Tôi kêu khổ thầm trong bụng, lòng tự giận mình khi không đổ đốn cứ muốn trở thành một nhà văn, khi không bỗng dưng viết sách, rồi in, rồi tặng hắn, rồi để rơi vào tay vợ hắn. Trời, lợi lộc danh tiếng chừng nào mới thấy, mà đã thấy cái nhãn tiền một đôi vợ chồng đang yên đang lành bỗng tan nát cắn xé nhau vì cuốn sách của mình.

Tay chân vợ hắn hoa loạn xạ, miệng vẫn hét “Con bò! Con bò!”.

Tiếng bát vỡ nghe đánh xoảng.

Hoảng quá, nghe hiệu lệnh, tôi không chuồn, mà vội vã xông vào nhà.

Vợ hắn, không để ý đến cái bát vỡ, không cả để ý đến sự xuất hiện thình lình của tôi, vẫn rối rít:

– Con bò… Con biết bò rồi kìa, anh ơi! Nó chống tay lên được, bò được rồi kìa!

Đến lượt hắn hét toáng lên, cũng như vợ, hắn chẳng lý gì đến tôi cả:

– Đâu? Đâu? A, hoan hô, hoan hô cục cưng của ba! Cố lên con, cố lên con!

Hai vợ chồng hắn nhảy tưng tưng, rồi ôm chầm lấy nhau, rồi đột ngột buông nhau ra, cùng nhảy xổ tới giường, cùng bế đứa con lên.

Hoá ra, đang nằm nãy giờ trên giường, con bé mới mấy tháng tuổi đã loay hoay lật người, chống tay lên, rồi… bò được.

Cô vợ , chừng nhanh tay hơn, đã giằng được đứa con, bế lên hôn chùn chụt khắp mặt mũi con bé.

Hắn cũng hôn con đánh chút, rồi mừng rỡ quay sang tôi đang đứng thần người, chẳng hề có chút thắc mắc về sự có mặt của tôi cứ như là một điều rất đỗi tự nhiên nhất trần đời:

– Nguyên! Mày ra lấy một chai vào đây, uống mừng con bé  đã biết bò với vợ chồng tao.

Vợ hắn tươi cười:

– Anh Nguyên mới đến? Cuốn sách anh viết hay lắm, anh phải khao đi chứ?

 

NGƯỜI VỢ TUYỆT VỜI

Chân nam đá chân chiêu, mồm lảm nhảm, tôi khật khưỡng về đến nhà thì chương trình ti vi đã bắt đầu: “Mời các bạn theo dõi bản tin cuối ngày…”. Nhác thấy bóng tôi, vợ tôi đâm bổ ra, reo lên :

– Ôi anh yêu! Sao hôm nay anh về sớm thế, mới 11 giờ hơn thôi mà. Anh đưa cái xách đây cho em, nào…

Tôi chưa kịp trao cái túi xách, thì vợ tôi đã kiễng chân, hôn lên môi tôi đánh “chụt”, thì thào:

– Mùi rượu thơm thơm là …

Nói chưa dứt câu, vợ tôi đã vội vàng quay vào nhà, bê đến bàn ly trà đá. Tôi vừa lảo đảo đặt mình được xuống ghế thì nàng đã nhúng ướt khăn và trở lại. Quỳ một chân bên cạnh, vừa nhẹ nhàng lau mặt mũi cho tôi, vừa nâng ly trà mát lạnh lên, vợ tôi âu yếm:

– Anh ráng nhấp một chút trà đá cho đỡ mệt, nghỉ một chút rồi ăn cơm nhé. Hôm nay em nấu món canh chua cá ngạnh anh vẫn thích đấy, ngon lắm cơ. Nào, chịu khó nhắp một ngụm đi anh… Tội nghiệp, hôm nào cũng phải uống rượu, chắc anh mệt lắm.

Nàng đem đến một cái quạt, chĩa thẳng vào tôi, bật hết cỡ:

– Một chút xíu nữa anh sẽ thấy mát mẻ ngay thôi mà, anh yêu…

Mệt quá, tôi vẫn chẳng nói gì, ngả người ra sau ghế lim dim mắt, mơ màng ngủ. Thì nàng đã sà vào lòng tôi, thủ thỉ:

– Hôm nào anh rủ bạn bè về nhà nhậu một bữa, anh nhé. Anh cứ hứa với em hoài, mà chẳng bao giờ tổ chức nhậu ở nhà. Em hổng chịu đâu. Hay ngày mai đi? Em sẽ xin nghỉ làm một ngày, ở nhà chuẩn bị đồ nhắm thật ngon cho anh. Mà anh nhớ rủ thật đông ấy, mới vui. Nhé, anh nhé.

Tôi lù khù gật đầu.

Như sực nhớ, nàng kêu lên hoảng hốt:

– Ấy chết! Em chưa dọn cơm cho anh ăn nữa. Đoảng quá. Anh chờ em một chút xíu nghe.

Mâm cơm ê hề toàn những món ăn mà tôi vẫn khoái khẩu được bê ra. Nhưng bữa rượu lúc chiều còn no anh ách, tôi thờ ơ nhìn, không buồn động đũa. Nhìn thấy thế, vợ tôi lo lắng:

– Anh sao thế? Không ăn được những món này à? Hay anh mệt quá? Thôi, đừng ăn cơm nữa anh ạ. Để em chạy đi mua cho anh tô phở. Một loáng thôi mà.

Tôi lắc đầu. Nàng càng có vẻ lo lắng. Chợt như hiểu ra, nàng bẽn lẽn, vẻ biết lỗi:

– Em quên mất.

Nàng lục tủ, bê ra hũ rượu thuốc đầy ắp nàng đã tự tay ngâm lấy cho tôi từ tuần trước.

Cơm xong, tôi vừa ngửa người trên ghế, châm điếu thuốc, thì nàng, sau khi lục đục dọn dẹp, đã quay vào bên cạnh tôi, dứ dứ ngón tay, hí hửng:

– Em có điều bất ngờ này cho anh đây. Đố anh biết là cái gì? Nói đúng em thưởng liền.

Tôi tươi ngay nét mặt:

– A! Anh có thư phải không?

Nàng reo lên:

– Ôi, anh của em giỏi quá  – Nàng đưa ngay trước mặt tôi một xấp thư – Đây này, nhiều lắm cơ.

Tôi cầm thư, liếc qua các phong bì: Cô Tuyết thời phổ thông, cô Nhung thời sinh viên, cô Ngọc thời tôi công tác ở miền trong… Toàn thư người yêu cũ… Tôi đăm đắm nhìn vào những dòng chữ quen thuộc trên các phong bì màu hồng.

Nàng giục:

– Anh đọc thư đi. Rồi tối nay thức hồi âm ngay cho họ, anh nhé – nàng tặc lưỡi – Tội nghiệp, các cô ấy yêu anh biết chừng nào, anh đừng lạnh nhạt với họ mà tội…

Tôi nhíu mày. Hiểu tính tôi không thích trò chuyện khi đọc thư, nàng im bặt.

Tôi bóc thư ra. Những kỉ niệm ngọt ngào lần lượt hiện về… Tôi tủm tỉm cười.

– Hả? Anh cười gì đấy, hả? Trời ơi là trời, ngủ mê mà cười là đang tơ tưởng đến ai chứ gì? Đi suốt ngày, về chưa lo cơm nước đã lăn ra ngủ như chết là sao, hả? Lại còn mùi rượu nồng nặc nữa, anh đổ đốn rượu chè từ lúc nào thế hả trời? Cha mẹ ơi! Sao mà tôi khổ thế này, hu hu hu…

Tôi bật dậy như bị đạn réo bên tai. Đích thị là vợ tôi đây mà. Nàng về từ lúc nào thế nhỉ? Sao hôm nay nàng về sớm thế không biết! Rõ khổ, cứ nghĩ hôm nay nàng vẫn đi dancing đến nửa đêm mới về như mọi hôm, tôi liều nhắp một chút trong chai rượu thuốc quý vốn dành riêng cho nàng, say quá ngủ khì, chẳng sửa soạn cơm nước gì ráo. Thôi chết, ly nước chanh đá để sẵn khi nàng đi chơi về cũng chưa có nữa… Khốn nạn, phen này thì khốn nạn khổ sở cái thân tôi đến nơi rồi…

Ngoài cửa, tiếng xe máy anh bạn vẫn đưa nàng về rú ga hết cỡ phóng thẳng. Tôi còn chưa kịp mời anh ta vào uống ly trà cho đỡ mệt nữa! Nàng sẽ giận phải biết. Sao mà tôi đoảng thế này, hở trời!

 

KHI VỢ LÀ  SẾP

– Ồ, em đã về rồi. Nào, cặp, áo khoác, hoa… Đưa tất cho anh cất đi nào. Nhiều hoa nhỉ.

– Ừm… Khuya… Khuya chưa anh? Các… các… con ngủ… ngủ cả rồi chứ ?

– Ờ, chưa khuya lắm đâu em. Mới vừa hết chương trình ti vi. Các con ngủ ngoan cả. Em ngồi vào bàn đi.

– Ừm …

– Nào, rượu anh tự đi mua. Đồ nhắm tự tay anh nấu đấy. Mọi hôm em vẫn khen ngon. Nào, nâng ly!

– Cảm… cảm ơn anh. Ụa.

– Em vẫn khoẻ chứ? Không sao chứ em?

– Kh… không sao. Oẹ.

– Mấy khi có dịp vợ chồng ngồi với nhau như thế này. Anh… anh muốn nói chuyện, muốn… tâm sự với em. Về em… về cuộc sống gia đình mình, từ khi em được bổ nhiệm làm giám đốc công ty…

– Đồng… đồng… chí cứ mạnh dạn phát biểu.

– Em sao thế? Say quá rồi à? Được, em có say hay tỉnh anh vẫn cứ nói đấy. Sức chịu đựng của con người có hạn! Một ly nữa, rồi anh sẽ nói hết. Nào!

– …

– Em… Sao cô dám cạn ly trước tôi thế hả? Đây là ở nhà, và tôi là chồng cô! Cô rõ chứ? Cô có biết, tôi đã phải khó chịu như thế nào, khi ở công ty, mỗi lần tiệc tùng, người ta cứ cụng ly côm cốp với cô trước rồi mới liếc mắt với tôi không? Dầu có là nhân viên quèn, tôi vẫn cứ là chồng cô! Vậy mà, cô vẫn tự nhiên như không, cười nói hỉ hả như không!

– Em… xin… xin lỗi…

– Còn nữa, ngay tại ngôi nhà này nè. Đời thuở nào, mỗi lần khách tới nhà, cứ “Chào bà giám đốc” trước rồi mới bắt tay tôi sau. Tôi có còn là chồng cô, là ông chủ trong nhà này nữa không? Đã vậy, mỗi lần có quà cáp biếu xén, cô lại thản nhiên trịch thượng đưa mắt bảo tôi đem cất đi. Tôi có phải là trợ lý hay đầy tớ của cô đâu, hả?

– Nước… Khát nước quá…

– Nhắc đến trợ lý, tôi mới nhớ. Thằng Khai rù năng lực đến đâu, tư cách thế nào mà cô bất chấp dư luận, bất chấp ý kiến anh em cất nhắc cho nó chức trợ lý giám đốc? Thằng Niệm hót nữa. Nó học sau tôi, thâm niên công tác thua đứt tôi, tại sao cô bổ nó làm trưởng phòng, đặt nó ngồi chễm chệ trên đầu trên cổ tôi? Con Liệu lanh chanh môi mỏng dính, nói dối như cuội, cự cãi tôi thường xuyên chẳng chút nể mặt, đùng một cái cô cho nó cái ghế trưởng ban giao dịch, đi đâu cũng kè kè một bên là hà cớ gì? Những việc tày đình như thế sao lúc ở nhà cô không hỏi tôi một câu? Hả?

– …

– Trời ơi! Cô lại dám ngủ gật nữa à? Ngồi hết chỗ này đến chỗ nọ thì tỉnh như sáo, chỉ đạo huấn thị rành mạch đâu ra đó, về đến nhà với chồng con là ngủ gà ngủ gật. Cô có biết, bao nhiêu lần họp hành, người ta phát biểu thì cô chăm chú lắng nghe, đến lúc tôi nói cô lại ngồi ngủ gật không, hả? Cô có biết là cô rất quá đáng không, hả?

– Cho em xin …

– Xin xỏ gì! Ở công ty, có cái gì tôi đề đạt yêu cầu mà được cô đồng ý liền đâu? Cứ là phải hỏi người này, lấy ý kiến người nọ chán chê rồi mới phê mới duyệt. Hừ, ra cái điều ta đây. Sao lúc tôi hỏi cưới cô, cô gật đầu cái rụp mặc cho ông bà cụ bất bình khăng khăng phản đối?

– Vì… vì em… em… yêu anh.

– Hả? Cái gì? Ờ… Ờ… Cũng đã khuya quá rồi. Hẳn là em mệt lắm nhỉ? Tiệc tùng, chiêu đãi suốt ngày rồi còn gì. Thật khổ thân em, làm giám đốc cũng chẳng sung sướng gì. Thôi ta cạn nốt ly này rồi đi ngủ.

– Em ơi! Dậy, dậy đi làm. Trễ lắm rồi!

– Mấy giờ rồi? Anh đấy à? Ủa, sao đến giờ này mà anh vẫn chưa đi làm?

– Anh…

– Trời ơi! Bao nhiêu lần em đã nhắc anh rồi! Anh phải mẫu mực để còn giữ uy tín cho em chứ ? Đến anh mà còn đi muộn về sớm thì em còn lãnh đạo còn ăn nói với ai được nữa?

– Anh biết rồi. Anh đi ngay đây. Em chờ xe đến đón sau nhé.

– Khoan đã. Sao nhà cửa lại bề bộn thế kia? Lại tiệc tùng gì nữa à? Đau đầu quá. À, em nhớ ra rồi. Hình như em… Anh và em… phải… phải… Đúng rồi! Đêm qua anh đã thức chờ em! Rồi anh mời rượu em. Gì nữa nhỉ? À, anh nói, nói nhiều lắm, đến tận khuya, có lúc lại hét toáng lên. Mà anh nói những chuyện gì ấy nhỉ? Lúc đó em say quá có nghe được gì đâu… Anh nói với em chuyện gì thế?

– Đâu có gì. Anh có nói chuyện gì to tát lắm đâu. Toàn những chuyện vớ vẩn ấy mà. Thôi, nhắc lại làm gì, có biết bao nhiêu việc em cần phải lưu tâm. Dầu gì vợ anh cũng là giám đốc công ty, anh không thể đi trễ được. Phải giữ uy tín cho em chứ! Anh đi nhé!

– Bye!

 

MÓN TIỀN TIẾT KIỆM CỦA VỢ

            – A, Ngụy!… Đến thăm vợ chồng tớ đấy à? Bà xã tớ đi vắng. Vào đây, vào đây …

Tớ có đọc mấy bài báo của cậu, viết về vấn đề quan hệ gia đình ấy mà. Ở mục “Đối phó với chồng” thì phải… Gan thật. Bà xã tớ khoái ra mặt, cứ mong cậu về để nói chuyện với cậu suốt. Sao? Một số người viết bài kịch liệt phản đối à? Dọa “không đội trời chung” à?  Ghê nhỉ! Nhớ rồi, tớ có đọc bài báo ấy, trên số báo Xuân chứ gì? Nhưng sợ quái gì! Gặp kẻ Tiểu Nhân ấy, cậu cũng đừng thèm đội trời chung với gã, xem gã còn làm được gì cho biết. Hừ, quả “tiểu nhân” thật…

Cậu có vẻ rành chuyện… giữ hạnh phúc gia đình như vậy, tớ kể cho cậu nghe chuyện này, cậu xem thử .. vợ chồng tớ có ”hạnh phúc gia đình” không nhé? Ha ha ha… Nhớ lại mà tớ không nhịn cười nổi. Vợ tớ, cậu biết rồi đấy, cũng tàm tạm, được người được nết, thương chồng thương con… Thì phải hoàn toàn tự lập từ đầu, hai bàn tay trắng về sống với nhau, vợ không có cái nết ấy, tớ kham gì nổi! Nhưng nhiều lúc cũng vất vả thật, cậu ạ. Cậu tính, chồng giáo viên, vợ “nội trợ” hay nói trắng ra là thất nghiệp, rồi thì sinh thằng nhóc, không vất vả sao được! Vốn cũng hiền lành, dịu dàng dễ thương ra phết, vậy mà có bận căng thẳng quá, con mới sinh, thiếu trước hụt sau, vợ tớ cũng… mày cau mặt có bà chằn như ai! Mỗi sáng dậy, khi thằng nhóc đang cố sức gào lên oe oe điếc cả tai, tớ đang ngồi ở bàn làm chén trà suông chuẩn bị đến lớp, thì y như rằng có tiếng vợ tớ cất lên rành rọt:

– Anh…

Tớ biết tỏng là chuyện gì rồi, nhưng vẫn quay mặt lại, cố hết sức bình tĩnh, lấy giọng thật dịu dàng hỏi:

– Gì thế em?

Vợ tớ trả lời, giọng cũng dịu dàng không kém:

– Anh … Bữa nay hết tiền rồi, mà gạo cũng hết nữa, sữa cho con cũng không còn, làm sao đây hả anh?

Tớ đã định vặc lại: “Thì bữa nào mà chẳng hết tiền!”, nhưng thấy mặt vợ tớ cũng tội tội, nên lại thôi, bảo:

– Để đó anh lo…

Thì còn ai lo nữa? Tớ lo, vắt chân lên cổ mà lo, cũng lo được ngon lành. Nhưng đến tối, hai vợ chồng xong bữa cơm đạm bạc, vợ tớ lại:

– Anh…

Tớ vẫn dịu dàng, nhưng mặt đã cau lại:

– Gì nữa đó, em?

Vợ tớ vừa bế thằng nhóc lên cho bú, vừa nhỏ giọng bảo:

– Số tiền anh đem về hồi trưa, em mua gạo, mua sữa hết rồi. Ngày mai lại hết củi, hết mắm, em chưa biết tính sao…

Đấy, ngày nào cũng có cái cảnh đối đáp kia, riết rồi làm sao dịu dàng mãi được. Tớ đã bắt đầu cáu gắt, vợ tớ thì bỏ hẳn cái tiếng “Anh…” mào đầu mà đi thẳng vào bản chất vấn đề ngay:

– Hôm nay hết… hết… Anh ráng chạy…

Tớ chạy, cau mặt chạy, hộc tốc chạy, chạy cho đủ ngày hai bữa của hai vợ chồng, ba bữa của thằng nhóc. Đến mức có ngày, tớ ngồi đốt hết cả gói Đà Lạt vẫn chưa nghĩ ra phải chạy đến chỗ nào. Hai bên nội ngoại ở xa, lại đều nghèo rớt mồng tơi. Những người quen biết đều vay mượn khắp lượt cả rồi. Nợ đầm nợ đìa… Cho nên, làm ông giáo, lại giáo viên giỏi hẳn hoi, mà lúc nào lên lớp tớ cũng lôi thôi lếch thếch. Có mỗi bộ đồ vía thì đã phải đem mạng vá hai ba lần rồi, làm sao mà đàng hoàng tư thế được…

Cho đến một hôm, từ trường về, chưa kịp cơm nước tớ đã nghe giọng nói khẽ khàng của vợ:

– Anh…

Thấy lạ lạ, chưa kịp hỏi gì thì đã bắt gặp ngay nét hớn hở khác thường của vợ:

– Anh, em mới mua cho anh cái này nè…

Tớ cầm cái gói, mở ra và… hoa cả mắt. Ôi trời… vải! Một mảnh vải quần, một mảnh vải áo vừa đẹp, vừa sang, đúng loại tớ vẫn thích! Tớ trố mắt nhìn một lúc, rồi quay sang vợ tớ đang hớn hở tươi cười như hoa học trò tặng ngày 20 tháng 11, hỏi:

– Em lấy đâu ra tiền mà mua thế này?

Vợ tớ chớp chớp mắt:

– Thì tiền em để dành… Đã lâu rồi, cả mấy tháng kia. Mỗi lần mua thứ gì, em nhín lại một ít…

Nhớ lại những lúc vắt chân lên cổ mà chạy tiền, tôi đã toan gắt vợ: “Sao để dành được mà lúc nào em cũng bảo là hết tiền!”. Nhưng nhìn vẻ mặt sung sướng của vợ, tớ đổi ý kịp, khẽ vuốt tóc nàng, bảo:

– Em lo lắng cho anh quá, cảm ơn em!

Vợ tớ nở nụ cười tươi hết cỡ, bảo:

– Để em tiếp tục “tiết kiệm”, bao giờ đủ, em mua cho anh chiếc xe mới đi dạy. Xe anh cọc cạch quá rồi…

Tớ vội ngoảnh mặt đi phía khác, để vợ tớ không kịp nhìn thấy cái mặt đã tái mét đi của tớ…

Vậy đấy, cậu bảo là vợ chồng tớ có “Hạnh phúc gia đình” không? Hả? Tớ tốt phước à? May mắn à? Vợ tớ tuyệt vời à? Cậu đùa tớ hay nói thật tình đấy? Thật lòng à? Quái lạ.

Thôi chết, tớ nhớ ra rồi, hôm vợ tớ “tiết kiệm” mua vải cho tớ là ngày 20-11 “Nhà giáo Việt Nam”. Này, lâu lâu mới về quê, cậu có đem về được khoản tiền nào kha khá không, hả? Nếu có, cho tớ vay tạm rồi tính sau. Làm gì à, thì… vợ tớ vẫn ước ao có một cái áo mới… Mà nay lại là ngày mồng 8 tháng 3, ngày Quốc tế phụ nữ rồi…

 

KÍNH GỬI CÁC BÀ…

Hay là NHỮNG TIẾT LỘ CỦA MỘT ÔNG CHỒNG TÊN NGỤY

I

Trong cuộc đời làm vợ, hẳn quý bà sẽ có lúc nào đó thấy đức phu quân của mình thật không thể hiểu nổi. U ám hoặc cau có, lầm lầm lì lì hoặc hằn học, đăm chiêu hoặc vô cớ quát tháo. Ông chồng lúc này đúng là của nợ, và nếu quý bà không khéo xử sự, ắt hạnh phúc gia đình có nguy cơ đổ vỡ. Nhẹ thì mất bộ ấm chén, nặng thì ra toà đường ai nấy đi. Đằng nào cũng có sự mất mát. Để quý bà tránh được điều đó, là một trong nhiều đức ông chồng cỡ trung bình, tôi xin gửi đến quý bà, thì, cứ gọi là đôi lời thành thật đề nghị.

Vấn đề là, các ông chồng thường thích ở người vợ yêu quý của mình ở điểm gì… Quý bà hẳn muốn biết điều đó hơn ai hết, nó cần thiết cho quý bà biết bao!

Thì thế này…

Một người chưa bao giờ có vợ tâm sự với bạn mình “Tớ ước ao vợ tớ phải có ba điều lý tưởng: là người đàn bà quý tộc lịch lãm trong phòng khách, người kế toán giỏi giang ở nhà bếp và người phụ nữ… đa tình ở phòng ngủ.”

Một thời gian sau, anh ta lấy vợ. Gặp lại, bạn anh ta hỏi: ”Thế nào, vợ cậu đáp ứng được các tiêu chuẩn của cậu chứ, cái khoản “ba điều” ấy? Anh ta thở dài: “Có. Có cả ba điều nhưng đảo lộn tất tật. Đó là người đàn bà quý tộc ở nhà bếp, đa tình trong phòng khách và… giỏi tính toán trên giường ngủ”. Hỡi ôi! Mong sao quý bà không bao giờ là một người vợ như vậy.

Theo tôi, ba tiêu chuẩn trên bao giờ cũng là điều ao ước của mọi ông chồng, dù ông ta có nói ra hay không. Và, cũng còn rất nhiều điều nữa (quý bà đã thừa hiểu rồi, đàn ông ai mà chẳng tham lam. Ai đó đã nói, họ như những đứa trẻ ấy mà). Ngoài những điều ai cũng biết như “công, dung, ngôn, hạnh”, như tình yêu thương, sự thuỷ chung, như sự thông cảm hiểu biết lẫn nhau…     – mà các điều ấy đúng cả – tôi xin tiết lộ vài ý thích rất nhỏ nhặt đời thường như sau:

Một là, lỡ có là người giỏi giang, thông minh hơn các đức phu quân, quý bà hãy cố mà giấu đi điều ấy. Ông chồng nào mà chẳng muốn vợ ta thông minh, giỏi giang hơn người, nhưng là với người khác kia, chứ với mình thì… quả bôi tro vào mặt! Nhất là khi có mặt người thứ ba, quý bà nên nhẫn nhục chịu thua trí thông minh của ông nhà đi là thượng sách. Hãy phô cho hết sự ngưỡng mộ của mình với ông, chồng có lỡ miệng thất thố thì nên đỡ lời một cách thật tế nhị. Như vậy, với ông, bà mới thật sự là người thông minh nhất.

Hai là, bao giờ cũng nên là một người đàn bà đẹp, biết cách ăn mặc, trang điểm thanh lịch và hấp dẫn. Nhất là những khi… chỉ có hai người với nhau. Xin quý bà đừng nghĩ khi chỉ có hai vợ chồng là… muốn làm gì cũng được, xuề xoà, lôi thôi thế nào cũng xong. Không đâu. Một số quý ông rất thích chiêm ngưỡng vợ mình khi “trên sân ga chỉ có hai người” và cái thời điểm ấy gây ấn tượng hết sức mạnh ở người đàn ông. Mặt khác, không có gì khó chịu bằng khi mệt nhoài từ nơi làm việc trở về nhà mà nhìn thấy bà vợ tóc tai rũ rượi, mặt cau có chực sẵn ở cửa. Trên đường trở về, lại có biết bao cô gái xinh đẹp, vui tươi lúc nào cũng tươi cười hớn hở. Ôi! Thật khốn khổ cái thân tôi, sao tôi không có được người vợ như cô gái vừa nhìn thấy lúc nãy kia!

Thứ ba nữa là, chuyện nên nói một cách thầm thì với chồng nhất, ấy là… chuyện tiền nong. Nhất là những khi trong nhà không còn cái gì khả dĩ ngon miệng. Xin thưa, giữa thời buổi khó khăn này, đó là điều các bà nên để ý. Không gì khó chịu bằng trong túi không còn một xu, hoặc chỉ có vài đồng xèng, mà vợ lại lớn tiếng hỏi tiền. Có khác gì trấn lột không chứ? Lại giữa chỗ đông người, thì có khác gì vả vào mặt nhau không? Đàn ông ai chả là trụ cột gia đình, nên còn khoản sĩ diện và tự ái kia nữa… Nếu trong nhà khá giả, thì sau khi đức ông đã thành thật giao nộp đủ tiền lương, quý bà nên tế nhị nhét lại vào túi ông một vài đồng từ thiện. Thật là một cử chỉ lịch thiệp đáng yêu.

Thứ bốn, các bà luôn cho rằng một ông chồng tốt bao giờ cũng đi ngủ sau vợ và dậy sớm trước vợ, nhưng người đàn ông lại cho rằng… người vợ tốt cũng phải là người vợ đúng như vậy. Những khi ông nằm bên trở mình, thở ra liên tục, quý bà hãy nhớ cho, chớ dại dột cất tiếng ngáy êm dịu ngay. Không có gì khó chịu và nặng nề bằng. Nếu lúc đó, quý bà tỏ vẻ quan tâm – bằng lời nói cũng được, nhưng tốt nhất là hành động, cử chỉ – thì quý ông sẽ xúc động vô cùng. Cái lúc ấy là lúc dễ hiểu nhau, thông cảm và cần có nhau hơn bao giờ hết, thưa quý bà.

Thứ năm nữa là, một khi quý ông đăm chiêu, chán nản u uất lắm thì quý bà… không phải cách khôn khéo là ra vẻ buồn rầu, nặng nề theo, mà phải tỏ ra… dịu dàng, vui vẻ, yêu đời kia. (Hãy cố tìm hiểu thật khéo léo xem, lúc ấy quả quý ông đang có chuyện trọng đại phải suy nghĩ, hay người đang muốn… đánh một giấc. Hiểu rõ, mới xử trí đúng được). Và hãy làm sao đó để quý ông hiểu rằng: Dù cuộc đời thế nào đi nữa, anh vẫn còn có em đây kia mà. Em vẫn bên anh, và chả lẽ, em lại không đủ cho anh sao? Không có gì tuyệt vọng cho bằng, ta đang buồn nản mà phải đối diện sát sạt với một bộ mặt buồn nản như ta, và có phần u ám hơn cả ta!

II

Chiều nay tôi chắp đôi tay lại

Đừng gặp người xưa nữa, lạy giời!

Nhân mấy ngày đầu xuân rảnh rỗi, nằm đọc lại tập thi tuyệt hay của Nguyễn Bính thi sĩ, Nguỵ tôi giật thốt người nhổm dậy ngay khi bắt gặp hai câu trên. Trời, quả là hai câu thần tình, quả là một bậc thiên tài có con mắt soi thấu vạn nỗi lòng… Sao mà nó đúng y chang tâm sự của Nguỵ này trong những ngày gió xuân man mác cú như hàng trăm tiếng thở dài của muôn vật đa tình! Ngẫm nghĩ hồi lâu, chợt giật mình cất tiếng than rằng: Người đời bây giờ, thật ra, có mấy ai có tấm lòng như Nguyễn thi sĩ, hoạ may ra có mỗi… Nguỵ này. Bởi lẽ, thưa quý bà, người đàn ông nào lấy vợ mà chẳng mang nặng trong tâm hồn tội lỗi của mình dăm bảy mối tình… đầu (!). Ôi! Mối tình đầu… những mối tình đầu ấy bao giờ chẳng thần tiên, chẳng dai dẳng ám ảnh tâm trí con người ta, có khi suốt một cuộc đời. Mối tình đầu lại thường ngắn ngủi, cố nhân giờ đã biền biệt một góc trời, còn cuộc sống vợ chồng, than ôi, cứ dai dẳng, triền miên hết năm này đến năm nọ, có bao giờ thay đổi mảy may, bà vợ mình lại lúc nào cũng kè kè một bên, bám sát theo dõi mình cứ như là trong phim phản gián. Nên nỗi luyến tiếc người xưa kia đã có đôi chút ngậm ngùi, rồi dần dà nó trở thành nỗi đau khổ, sự ao ước thầm kín, kèm thêm vào đó là đôi chút oán hận nuối tiếc chính cuộc đời mình. Thưa quý bà, thì có bao giờ con cá sẩy lại chẳng là con cá to nhất trong cuộc đời đi câu… những mối tình của người đàn ông? Ông ta âm thầm nuối tiếc, ông ta âm thầm đau khổ và… tôi xin cam đoan rằng, một khi đã như vậy, thì ông ta âm thầm mơ ước gặp lại người xưa, chứ nào phải nỗi tuyệt vọng thanh cao của nhà thơ họ Nguyễn! Đứa trẻ nào cũng muốn có cả gói kẹo kia, khi đã cầm trên tay được một chiếc. Ban đầu, ông ta khao khát dù chỉ một thoáng được gặp lại bóng hình xưa, nếu may mắn toại nguyện, ắt hẳn bước tiếp theo là ông ta sẽ ao ước ngày ngày được cận kề cố nhân. Âu cũng là một lẽ bình thường của lòng người!

Nhưng, xin quý bà hãy bình tâm, đừng vội hoảng sợ khi đọc được điều bí mật to lớn và dữ dội này. (Than ôi, nó vẫn là một sự thật rành rành đấy ạ!). Tình là tình như không mà có, có mà không, biến ảo khôn lường… Cho nên, nếu bình tĩnh, vẫn có con đường để ta giải thoát đức phu quân ra khỏi cơn mê này, theo phương châm cơ bản, là… chuyển hoá có thành không. Tôi chợt nhớ đến một câu thơ tự bạch rất được quý bà yêu thích trân trọng của một đức ông chồng:

Nhiều khi nghĩ đâu đâu lại thấy thương vợ mình hơn

Cầu mong cho ông nhà cũng có được một tình cảm có thuỷ có chung như vậy. Nhưng muôn một ông nhà không phải vậy, thì Ngụy tôi trộm nghĩ, quý bà có thể nghiên cứu mấy đề xuất sau trên tinh thần phương châm đã nói để kịp thời ứng phó:

Một là, xin quý bà đừng bao giờ ra mặt chiến đấu với những hồi ức dĩ vãng của ông nhà. Thưa, ai đó đã bảo, kỷ niệm đôi khi cũng như những bóng ma. Mà với ma quỷ thì, cổ nhân đã dạy, phải rất thận trọng, kính nhi viễn chi. Chiến đấu với nó chỉ gặt hái sự thất bại. Nó là một tấm lưới vô hình, quý bà lao vào nó có khác gì con cá yếu đuối lao vào lưới, càng vẫy vùng càng khốn nạn. Mọi sự tức giận, ghen ghét, oán hận, đố kỵ, chửi bới, hậm hực… đối với quá khứ của con người đều vô ích cả, thưa quý bà. Và ở  trường hợp này, nó chỉ càng làm cho ông nhà thêm suy sụp mà thôi.

Hai là, nếu có thể được, xin hãy trân trọng quá khứ của ông nhà như quá khứ của chính mình, và hãy tìm cách… lọt được vào trong đó (sao cho thật khéo léo, tế nhị). Một khi đã lọt được vào tâm sự của ông nhà, thì chính là quý bà… đã lọt vào hang hùm rồi đấy. Cọp mẹ đi vắng từ lâu, xin cứ tự nhiên ve vuốt các chú cọp con, tức là bóng dáng các hồi ức xa xưa của đức ông vậy. Khi nỗi lòng của mình được người vợ hiền chia sẻ, đức ông sẽ nhẹ nhõm hơn, chắc người sẽ nghĩ lại, sẽ càng yêu quý bà hơn. Hãy lấy sự ngọt ngào chân thành làm dịu đi mọi nỗi đắng cay của ông nhà, thưa quý bà, cách ấy tốt hơn cả, và hiệu nghiệm hơn cả.

Ba là, nếu quý ông không kìm lòng được, mà thổ lộ cái mớ bòng bong kia ra, thì xin quý bà đừng giận mất khôn mà vội vã dùng cái phương pháp hạ sách “dĩ độc trị độc”, tức cũng kể lể chan chát ngay về một cố nhân nào đó của lòng mình. Cách ấy chí nguy. Dẫu biết rằng, quý bà có đang từng thu chết, từng thu chết – vẫn giấu trong tim một bóng hình đi nữa thì hãy cố mà giấu cho trọn, giấu cho kín. Nói ra lúc này khác gì đổ lửa vào dầu. Hãy im lặng, và hãy là người trò chuyện tốt nhất của đức ông bằng sự im lặng đó, hãy thành tâm an ủi đức ông. Đức ông sẽ nghiệm ra rằng, mình thật vô lý viễn vông khi trái chín bên cạnh lại mơ đến trái xanh trên cành, người ta sẽ cảm động lắm, thưa quý bà.

Bốn là, giễu cợt quá khứ bao giờ cũng là một điều thiếu thận trọng. Dù đức ông vui hay buồn, có nôn nao trong lòng hay không, xin quý bà hãy trước sau tỏ rõ sự tôn trọng như nhất của mình đối với dĩ vãng của ông nhà. Đừng bao giờ lỡ miệng bài bác, chế giễu người xưa, vật xưa (như một tấm hình ai đó mờ mờ, một lá thư quắn góc hoen ố, mấy vần thơ từng được ông viết ra với tất cả tấm lòng giờ đọc lại ông đâm… ngượng). Giễu cợt nó, thì nạn nhân sẽ chính là quý bà đấy, thưa quý bà.

Ôi! Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng… Câu chuyện rắc rối này biết bao giờ mới bàn cho ra lẽ được, viết cho hết những điều bí ẩn ở mọi ngóc ngách của nó được. Âu là ta dừng lại ở đây và chỉ biết còn trông cậy vào sự tinh tế và cách ứng xử đúng đắn nhất của chính bản thân quý bà thôi, thưa quý bà vô cùng kính mến, kính mến…

III

Giàu vì bạn, sang vì vợ. Đối với một người đàn ông, vợ và bạn đúng nghĩa của nó bao giờ cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc đời. Lần này, tôi muốn bàn với quý bà về cái vấn đề đôi khi trở nên rất gay go và thật tế nhị: Đối xử với bạn của chồng như thế nào?

Dân Tàu và dân ta xưa nay vẫn thường xưng tụng một câu chuyện mà nhiều người cho là rất hay trong quan hệ “bạn – vợ”: chuyện Lưu Bình – Dương Lễ và nàng Châu Long. Họ cho là Dương Lễ và bà vợ ba này thật là tốt bụng, hết sức hết lòng giúp bạn. Thì còn gì hơn nữa – dám gửi cả vợ đi nuôi bạn ăn học những ba năm ròng kia mà! Quả thật vừa rộng lượng, vừa bạo gan, vừa tin người quá đỗi, rất nên kính phục. Riêng tôi, tôi ngẫm nghĩ mà lo sợ cho cái kiểu giúp bạn của ông quan Dương Lễ kia. Thử hỏi, suốt ba năm Lưu Bình cắm đầu cắm cổ dùi mài kinh sử, cũng chỉ vì “nàng”, vì căm giận bạn, rồi khi đỗ đạt, mới té ngửa ra rằng… Nhưng thôi, chuyện cũ của người xưa, ta dám động vào thì khí vô lễ. Vậy, tôi xin quay trở lại cái phần lâu nay ta vẫn nói đến: người vợ bình thường. Ngay trong cái bình thường ấy cũng có lắm chuyện rồi, thưa quý bà.

Bên Tây có câu ngạn ngữ: hãy cho biết bạn của anh là ai, tôi sẽ nói anh là người thế nào. Bên ta cũng vậy thôi. Nhưng tôi muốn riêng quý bà, thì quý bà nên suy luận ngược chút xíu: Hãy cho biết chồng quý bà là ai, Ngụy tôi sẽ cho biết bạn của chồng quý bà là người như thế nào. Mà ở đời, người ta có rất là nhiều bạn: bạn để chỏm, bạn học, bạn chiến đấu, bạn công tác, bạn tâm sự, bạn làm ăn… Tựu trung lại, có hai loại theo tính chất và mức độ quan hệ: bạn tâm giao và bạn sơ giao. Tự quý bà, quý bà hãy nhớ lại từng gương mặt bạn bè đức ông và định hình thử nhé. Ơn trời, ông nhà đã có nhiều bạn bè đến thế cũng là điều phúc lộc, vậy thì xin quý bà hãy đặc biệt lưu ý cho nguyên tắc số một mà tôi nghĩ cực kỳ quan trọng này: Đừng bao giờ… nghĩ mọi lỗi lầm của đức ông nhà ta đều là tại bạn bè mà ra. Không phải đâu, ngàn lần không! Tôi đã tận mắt chứng kiến, nhiều bà khi thấy ông chồng yêu quý của mình đi làm về trễ vài ba tiếng hoặc lỡ quá chén xỉn tản một bữa, là vội hét toáng lên rằng:”Lại cái ông A, ông B này rủ rê đây…”. Quả tội nghiệp, quả khốn khổ cho cái ông A, ông B nọ phải chịu cảnh trăm dâu đổ đầu tằm. Quý bà có bao giờ nghĩ được rằng: Bữa nhậu kia, có khi chính là do ông nhà đề xướng đấy ạ! Và có khi, các ông A, ông B ấy lại chẳng hề có mặt trong cái bữa ông nhà quá chén ấy! Oan ức này dẫn đến oan ức khác: Hôm sau ông A, ông B đến nhà, phải ngơ ngác chịu cái cảnh mặt lạnh như tiền trong sự đón tiếp đầy hậm hực của quý bà. Tội nghiệp biết bao!

Ở mọi đức ông chồng đều có cái tính đẹp đẽ này : Thích khoe… vợ với bạn, và… khoe bạn với vợ. Chứ sao nữa: “Này các ông xem, vợ tôi mới tuyệt vời làm sao”. Và “ Đấy, em thấy không, bạn bè anh là như vậy đấy!”. Của đáng tội, có cái đáng khoe cũng khoe, mà không có gì thì vắt óc nghĩ ra mà khoe! Bất hạnh cho một ông chồng biết chừng nào, nếu như ông ta không có gì để hãnh diện về vợ, về bạn cả ! Mà điều này hoàn toàn là do quý bà quyết định, phụ thuộc hết trọi vào quý bà. Nếu cái nguyên tắc thứ hai, Ngụy tôi muốn đề cao trong vấn đề này là: Hãy tỏ ra là một người vợ đáng để chồng khoe”. Người vợ đáng để chồng khoe, nghe to tát thế, chứ thật ra có gì ghê gớm lắm đâu, thưa quý bà, ta có thể làm được điều đó từ những việc tưởng chừng vặt vãnh, thế này: Trong mọi trường hợp, hãy tươi tỉnh, lịch thiệp, dịu dàng, tế nhị trong ăn nói, cư xử, hãy tỏ ra là một người đàn bà đảm đang, biết chu tất cho chồng những khi ông nhà tiếp bạn tại gia từ chén trà, điếu thuốc đến… đĩa đồ nhắm ngon nếu có thể. Vui vẻ, tế nhị – ấy là bí quyết của mọi bí quyết để các ông kính nể bà, rồi từ kính nể đến yêu mến, cảm thông, giúp đỡ mọi việc – các bước ấy thật là gần gũi nhau xiết bao. Và, thưa quý bà, còn điều này nữa thì quý bà sẽ là một người vợ chỉnh chu, đáng mơ ước: Hãy rộng lượng bỏ qua cho các ông ấy, nếu trong lúc bốc đồng các ông ấy có điều gì sai quấy. Tụ họp lại, lúc cao hứng tránh sao cho các ông ấy khỏi những điều thất thố, xin quý bà cảm thông cho! Kiên trì chịu đựng và bình tĩnh, khéo léo dùng lời nhỏ nhẹ nhắc nhở thì các ông ấy nghe ra ngay thôi, thưa qúy bà, mà khi đã hết sức kiên trì nhắc nhở họ vẫn cứ càn quấy, thì… thì ta vào phòng trong đóng kín cửa lánh mặt đi là hơn. Tam thập lục kế… câu ấy ngàn đời chí lý.

“Bạn bè ta xấu với người – Thân nhau như thế bằng mười… hại nhau”. Tôi dám quyết rằng quý bà đang nghĩ: Ông nói như thế, chứ với những ông Kẹ ngợm chẳng ra ngợm, người đếch ra người mà ông chồng dại dột của tôi vẫn cứ đàn đúm thì sao? Oan cho tôi: Những người quý bà đã chắc mười mươi “không ra gì” như thế mà quý bà gọi được là “bạn ông nhà” sao? Vậy thì ông nhà… Xin lỗi, suýt nữa tôi đã đem câu ngạn ngữ Tây ra để nói chuyện ta lần nữa! Thôi, ở trên tôi có trộm vía cụ Nguyễn Tiên Điền thuở nọ mượn câu yêu bàn chuyện bạn, mà tôi dám đoan chắc là nó đúng y sì đó. Quý bà hãy lấy nó, lựa đêm nào thanh vắng ra thỏ thẻ phân tích cùng đức ông chồng yêu quý vậy. Nhớ cho một điều: Khi phân lẽ lợi, hại từ lúc đức ông kết bạn với người này, người nọ thì quý bà phải đưa ra những điều xác đáng, cụ thể mới mong ông nhà tỉnh ngộ ra. Và phải sao cho khách quan, công bằng, đừng tỏ ra áp đặt, vu cáo… ông nhà sẽ bực mình không nghe đâu. Việc này nữa,, cũng phụ thuộc vào quý bà cả thôi (Mới biết, bốn ngàn năm nay ông cha ta đinh ninh “Nhất vợ, nhì trời” đố có sai chút nào, quý bà đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời này biết bao!). Tôi đồng ý với quý bà: bạn bè, cũng tựa việc quân, quý hồ tinh bất quý hồ đa. Người ta thường đặt vấn đề bạn anh là ai, chứ mấy ai chăm chú vào cái chuyện anh có bao nhiêu bạn… Xin quý bà thưa lại với ông nhà như vậy…

Để kết thúc phần tiết lộ hôm nay, Nguỵ tôi xin kể hầu quý bà một câu chuyện vui. Bữa nọ, Nguỵ tôi và dăm ba anh bạn xăng xái đến thăm một ông bạn thân cực kỳ khi hắn ta vừa cưới vợ xong. Anh chồng vắng nhà, chị vợ cũng là người hiểu biết, niềm nở đon đả tiếp chuyện, cố cầm bạn lại chờ chồng về, nhưng chờ lâu quá, bọn tôi đành cáo lui, hẹn khi khác. Bất đồ vừa ra cửa một lát, cả bọn nghe một câu xanh rờn: “Rặt một lũ dối trá!”. Trời đất, rõ ràng cái giọng thánh thót của “Trực chị dâu!”. Cả bọn khựng lại, muốn đứng tim. Cầm lòng không yên, tôi quay lại hăm hăm làm rõ sự vụ. Hoá ra, nàng dâu mới đang đọc Kiều. Trời ạ, mà đọc đúng cái đoạn Sở Khanh dụ khị Kiều bỏ trốn, nàng tức quá buông ra câu nói khi nãy. Hú vía, nếu tôi mà không tìm hiểu, mối oan Thị Kính còn đến ngàn đời… Thế mới biết quý bà càng phải cẩn thận giữ gìn từ đầu đến đũa, mới mong mọi sự êm đẹp được, thưa quý bà! Khôn cả buổi chuyện trò, mà dại chỉ một câu đùa thôi, cũng phụ lòng người mong mỏi lắm thay.

Một phút ngậm ngùi, tôi nhớ lại mình đã nhạt phai tình bạn với biết bao người tri kỷ, khi họ lần lượt lấy vợ sinh con. Rồi tôi lại phải cắn răng chịu mất thêm một số đâu có ít nữa, từ khi tôi leo lên xe hoa ngồi ké bên một cô dâu. Đau xót lắm thay! Thôi kính chào quý bà, người bao giờ cũng quyết định mọi sự ở đời.

Những bí mật nội bộ này, tôi có thể tiết lộ với quý bà hàng trăm trang. Nhưng thôi, hãy để chừng ấy đã. Chúc quý bà người đang đọc những dòng này của tôi, là người vợ hiền và luôn tràn trề hạnh phúc với gia đình. Vợ tôi đã ngủ ngon từ lâu lắm rồi. Chao ôi, tiếng ngáy mới ngon lành làm sao!

KÝ SỰ MỘT ĐÁM CƯỚI

Trước ngày cưới một tháng, dù từ Trà Châu ra Đà Nẵng những hơn một trăm rưỡi cây số, Sanh cứ chạy ra chạy vào gặp tôi ba bốn bận. Tội, gần ba nhăm cái xuân xanh, trải qua trên mười năm làm thầy giáo rồi mới lấy vợ, trông hắn lo lắng hớt hải xuôi ngược toan tính đủ bề mà thương. Tính hắn lại vốn cẩn thận chu đáo từng li từng tí trong mọi việc, huống gì cái việc đại sự của đời người này. Ba bốn bận đến ấy, lần nào hai thằng cũng mất cả tiếng đồng hồ bàn chuyện tổ chức. Hắn phong tôi làm Trưởng ban tổ chức! Biết chẳng thế nào từ chối được, tôi đành gật đầu. Có điều, tôi biết trong cái chức vụ không bổng lộc ấy, tôi sẽ gặp những rắc rối nhiêu khê gì rồi…

Là vì, tôi biết rõ như trong lòng bàn tay về gia thế hắn, thằng bạn thân thiết của tôi từ hồi cả hai cùng vào đại học ăn cùng mâm tại nhà ăn tập thể và ở cùng phòng trong ký túc xá suốt bốn năm đèn sách rồi lại cùng về một nơi thực tập. Mỗi dịp hè, tôi đều đến ở nhà hăn dăm bữa nửa tháng rồi sau đó hắn lại đến ở nhà tôi nửa tháng dăm bữa bù lại. Hắn là đứa con út có thể gọi là thành đạt nhất trong một gia đình mà con cháu các đời họp mặt đầy đủ lại đâu ngót nghét… có dư sáu bảy chục người. Đây nhé, tôi chỉ kể sơ về số anh em ruột thịt của hắn thôi: hắn có bảy anh chị cùng cha khác mẹ đời vợ trước của ông già, bốn anh chị cùng mẹ khác cha đời chồng trước của bà già, bốn anh chị em cùng cha cùng mẹ từ khi ông bà già hắn sống cùng nhau… Mà tất cả số anh chị kia của hắn đều yên bề gia thất cả, thành ra hắn có thêm hàng mấy chục đứa cháu gọi bằng chú, bằng cậu đến hắn cũng không tài nào nhớ nổi mặt cháu khắp lượt, trong đó có ba bốn ông cháu lớn hơn hắn đâu mươi tuổi! Cụ thân sinh của hắn vốn từng theo đòi nghiên bút, biết chữ thánh hiền, luôn có niềm tự hào riêng về đại gia đình đồ sộ của mình do chính cụ đích thân và gián tiếp tạo dựng nên, mãi đến khi cụ qua đời. Trời ơi, nói trộm vía cụ, chứ khi sinh thời cụ đâu có hình dung hết được tất cả những nỗi oái oăm phức tạp mà một đại gia đình đông đúc như thế có tài thánh cũng không thể tránh được, nhất là từ khi cụ không còn trên đời để “cầm cân nẩy mực” nữa. Chuyện nhà cửa, ruộng đất thừa kế, có khi chỉ một cây mít cây cau, một góc vườn bờ rào mà thành chuyện bất hòa, ầm ĩ giữa anh em ruột thịt nhau, có khi đến không nhìn mặt nhau hằng mấy tháng, mấy năm.  May mà họ đều ra riêng, ai có điều kiện đều cố tìm cho mình một mảnh vườn, một mái nhà riêng để sống. Cái mộng gia đình đề huề của ông cụ thế là không toại, nhưng cũng nhờ vậy mà chuyện xích mích cãi cọ giữa anh em phần nào đỡ hơn. Vậy mà, mỗi khi có giỗ chạp, cưới hỏi, có dịp họp mặt đầy đủ lại, sau nỗi vui mừng hoan hỉ thế nào rồi cũng chuyện này chuyện kia xảy ra, đố có bao giờ tránh được. Nhất là khi những người đàn ông có hơi men… Bây giờ đến đám cưới thằng Út, nghĩa là dịp cưới hỏi cuối cùng trong số những anh em ruột thịt, chao ôi, rồi họ còn ầm ĩ đến mức nào nữa… Tôi nghĩ đến mà lo sợ cho cái vai trò trưởng ban tổ chức của mình. Hắn cứ nằng nặc bảo tôi làm cái nhiệm vụ ấy, viện cớ rằng tôi là người lạ ở xa đến, sẽ được nể mặt hơn và vì thế, sẽ có điều kiện để điều hành đám cưới diễn ra êm xuôi tốt đẹp hơn!

Quả sự lo sợ của tôi không phải là một điều vô cớ. Bận công việc cơ quan, nên mãi đến chiều tối trước hôm cưới một ngày, tôi mới nhảy xe đò tốc hành về Trà Châu lo đám cưới với hắn được. Tối mịt mới đến, ghé nhà một người bạn ở thị trấn một lát chưa kịp cơm nước, tôi đã phải nhờ anh bạn chở ngay đến nhà hắn bàn chuyện, hắn đã chạy lên chạy xuống nhà anh bạn trông chừng tôi năm lần bảy lượt rồi. Gặp rồi, mới ngã ngửa người ra: Mọi chuyện, cả chuyện hậu cần, đều chưa đâu vào đâu cả. Trước đám cưới vài ba tháng, mỗi người trong mười lăm anh em hắn đều xăng xái nhận việc, xăng xái lo toan… Nhưng rồi, người này nhìn mặt người kia, ai cũng nghĩ việc này việc kia đã có người này người nọ lo, ngày cưới ầm ầm ập đến trước mặt mới tá hỏa lên: gạo nếp chưa có, heo gà chưa có, trà rượu cũng chưa xong nốt! Chỉ có người là sẵn sàng: cậu mợ cô chú bác dì anh em cháu chắt có mặt đầy đủ, những người là người rộn ràng khắp nhà. Thấy tôi, hắn nhăn như bị, chẳng có vẻ gì là một chú rể hớn hở hạnh phúc trước ngày cưới đã bao năm dằng dặc trông chờ. Hắn bảo ngay:

– Chưa đâu vào đâu hết. Mãi đến chiều tối nay mới bắt heo về mổ, giờ vẫn còn xẻ thịt kia! May quá, mày xông vào giúp tao một tay trong cái chuyện tổ chức. Tao chỉ còn biết trông vào mày…

Tôi nhìn quanh: rạp cưới chỉ mới dựng được cái sườn, hoa hoét trang trí đang dán dở nham nhở, bàn ghế kê xộc xệch lổn nhổn những chén bát ly tách, sau nhà mọi người đang lúi húi xẻ thịt bên cạnh nồi nước sôi sùng sục ở góc vườn… Tôi hỏi:

– Ở nhà đã bàn và thống nhất khâu tổ chức về phía gia đình như đoàn đi họ đón dâu, người phát biểu, tặng quà… xong rồi chứ ? Tao chỉ lo phần tiếp bạn thôi…

– Vẫn chưa! Mày đã biết mấy ông anh bà chị tao rồi đó. Ai cũng thấy mình quan trọng phải có trách nhiệm, nên ai cũng hăng hái bàn vào bàn ra, mà mãi đến giờ đã thống nhất với nhau được điều gì đâu… Thì mày tính, chỉ riêng chuyện đi họ, mà ai cũng muốn có mặt thì có chết tao không chứ !

Thế này thì phiền thật. Đến lúc mọi người xúm quanh khi tôi lấy giấy bút soạn thảo chương trình, tôi mới hoảng lên: ai cũng lớn tiếng góp ý, ai cũng đòi hỏi phải có mặt mình trong phần cử hành lễ chính thức, ai cũng muốn được nói vài lời trước thiên hạ trong ngày vui chú em… Vuốt mồ hôi xong danh sách đoàn đón dâu, lại toát mồ hôi trong việc cử một người thay mặt gia đình phát biểu. Đã xong đâu: đến phần tặng quà, sau bà cụ thân sinh, ông anh bà chị nào cũng đòi lên có quà mừng chú em Út! Tôi đành lên gân trưởng ban tổ chức gạt phắt:

– Theo ý tôi thì thế này, các anh chị nên tập trung quà lại rồi cử một người lên thay mặt tặng thì tốt hơn.

Cuối cùng rồi mọi việc cũng tạm ổn. Tôi tạm yên trí với chương trình đã thống nhất, bảo hắn: “Sẽ tốt thôi. Cứ yên tâm”. Hắn vẫn có vẻ lo: Mày chú ý dùm tao cái phần tặng quà phát biểu ấy. Tao biết tính các ông anh của mình… Mệt lắm.

Hóa ra, hắn có lý thực. Trưa hôm sau, sau khi đoàn đón dâu nhà gái trở về, thấy chương trình lễ cưới nhà trai tuần tự tiến hành êm đẹp vui vẻ theo ý mình, tôi đã mừng thầm. Nào ngờ, khi tôi giới thiệu:

– Xin mời đại diện các anh chị của Sanh lên tặng quà và chúc mừng cô dâu chú rể…

Thì ông anh cả đã chực sẵn bên micờrô, ôm quà cầm máy nói luôn:

– Thưa quí vị quan khách, đây là món quà nhỏ của những anh chị cùng cha đời mẹ trước của chú Út nhà tôi…

Ông hoan hỉ chúc mừng hồi lâu. Đến khi ông buông máy, tôi chưa kịp cầm lấy, thì một ông anh nữa tiếp luôn:

– Thưa, còn đây là quà của những anh chị cùng mẹ khác cha mừng chú Út chúng tôi…

Lại một hồi lâu. Rồi đến ông thứ ba, ông này lại càng có lý do để chúc mừng: cùng cha cùng mẹ hẳn hoi.

Trời đất, kể từ giây phút đó coi như tôi bị cách tuột cái chức trưởng ban tổ chức, mọi việc cứ ào ào diễn ra. Ngoảnh lại phía sau, thấy một lô những cô, chú, bác, dì của Sanh mặt đỏ gay đang hờm đến lượt mình lên chúc mừng đôi tân hôn, tôi lắc đầu lủi xuống chỗ cô dâu chú rể, an ủi hắn:

– Thôi, có lộn xộn một chút nhưng mà vui vẻ mày ạ.

Hắn đứng bên cô dâu, cười mà mặt méo xệch. May mà lúc đó đã đến giờ tiếp bạn. Bạn bè hắn, bạn bè cô dâu đang sốt ruột chờ ngoài vườn nãy giờ đang ào ào kéo vào, cười nói râm ran. Mặt hắn và mặt cô dâu cùng nở bừng lên nụ cười hạnh phúc. Nhân dịp hắn bận với đám bạn, tôi lẳng lặng chuồn êm.

 

GIẤC MƠ CẬU QUÍ TỬ

Cả ngày đánh vật cho xong ba sào ruộng kịp mai sạ, giờ đặt lưng xuống giường, ông Ham cất tiếng ngáy ngon lành. Chợt nghe như có ai đụng vào người, nghĩ đó là bé Nhỡ lại bắt cha dẫn “đi ngoài”, ông mặc. Con bé vốn sợ đêm tối, nhưng không có ông thì mẹ nó sẽ lo. Ông trở mình, vẫn ngáy đều, thì lại có tay ai khều khều nhồn nhột phía sau lưng, rồi tiếng bà Ham thì thào:

– Dậy, dậy đi ông… Tôi nói cái này…

Ông mở một bên mắt, càu nhàu:

– Thì có việc gì bà cũng phải để đến sáng đã chứ. Giờ này mà nói với năng cái gì? Để tôi ngủ!

Dưới ánh trăng mờ mờ lọt qua khe vách, ông nhìn thấy bà nửa như cười, nửa như xấu hổ:

– Chuyện này… không để đến mai được. Ông ráng tỉnh ngủ thử coi.

Nghe giọng bà có vẻ quan trọng, ông chống tay ngồi dậy, ngáp dài, bảo:

– Vậy thì để tôi thắp cái đèn lên, đốt điếu thuốc cho tỉnh đã rồi hẵng nói.

Bà hoảng hốt đưa tay giữ  ông lại:

– Đừng… đừng ông. Để bé Nhớn, bé Nhỡ, bé Nhỏ, bé Chút, bé Xíu chúng nó ngủ, mai còn sạ ruộng. Tối thế này, nói cũng được mà.

Ông dịch qua một bên, ngồi bó gối nhìn bà:

– Vậy thì có chuyện gì, bà nói mau mau lên. Sốt cả ruột rồi đây.

Bà cúi đầu, ngập ngừng:

– Thì cái chuyện… ông lo lắng khổ sở mãi đó chứ còn chuyện gì nữa…

Ông có vẻ tỉnh ngủ hẳn:

– Ý bà nói chuyện…

Bà thấp giọng:

– Ông với tôi đều quá nửa đời người rồi, bạc đầu long răng rồi mà lít nhít những năm đứa con gái. Thấy ông khổ sở dằn vặt mãi, tôi không lòng nào chịu được. Hồi chiều, tôi có đến chỗ thầy Đảo xem đường con cái mình ra sao…

Ông chồm người đến sát bà:

– Rồi thầy nói sao?

– Thầy bảo, ông tuổi con chó, tôi tuổi con heo mà sinh con cứ nhè các năm con hổ, con rồng, con rắn, con dê, con khỉ nên không thể nào có con trai được! May năm đến, là năm con gà, lại Quý Dậu, nếu mình cố được đứa nữa, thì… chẳng những là con trai, mà là quý tử nữa đó ông.

Ông mừng rỡ vùng choàng ôm lấy bà :

– Thiệt hả bà? Ờ mà thầy nói đúng quá còn gì. Để tôi xem lại coi… Bé Nhớn năm dần, bé Nhỡ năm thìn, bé Nhỏ năm tỵ, bé Chút năm mùi, bé Xíu năm thân… đúng phóc còn gì. Ừ, tại mình vụng tính quá nên mới vậy – Ông chợt đăm đăm nhìn bà qua ánh trăng nhàn nhạt – Mình nghe lời thầy, cố đứa nữa, bà hỉ? Năm con gà, được đứa con trai… nó sẽ chăm chỉ làm ăn, dậy sớm như gà, siêng bới đất lật cỏ như gà, hiền lành chu đáo mắn đường con cái như gà… bà hỉ? – Ông mơ màng – Là con trai, nhất định nó sẽ là chú gà nòi đấy!

Nghe ông Ham say sưa, bà Ham cũng mơ màng theo ông. Bà ngã người xuống theo ông lúc nào không hay. Một lát sau, trong căn nhà tranh chỉ còn sự im lặng. Ánh trăng vẫn nhờ nhờ xuyên qua vách tre. Đêm tĩnh mịch trôi đi giữa những tiếng thở đầy cố gắng của đôi vợ chồng già.

Nhưng  ông Ham vẫn dậy sớm được. Những lời thầy Đảo cứ rộn ràng ăm ắp trong đầu ông. Việc đầu tiên khi thức dậy là ông chạy ra chuồng gà, đứng ngắm. Quái, sao hôm nay đàn gà nhà ông lại thế này… Mọi hôm, chú gà trống đã cất tiếng sang sảng, đàn gà mái gà choi gà con đã lít nhít kéo ra chật sân huyên náo cả lên rồi. Ông dòm kỹ vào dãy chuồng gà vẫn bỏ ngỏ: những con gà lù khù rúc đầu vào nhau, mấy con lông cánh xệ cả xuống, phân gà nhoèn nhoẹt khắp chuồng. Thôi chết, sau mấy hôm mưa, rồi hôm qua nắng to, đàn gà tuôn dịch bệnh cả rồi! Còn mỗi con gà trống tồ là còn khỏe, đang vênh váo dạo qua dạo lại dưới sân. Nhưng đấy là chú gà trống thiến… Ông hấp tấp bước vào nhà, kéo tay bà Ham đang lúi húi bên nồi cám heo ra chuồng gà, hỏi lạc cả giọng:

– Bà xem kìa… Sao lại thế này hở bà?

Bà hoảng hốt nhìn, hoảng hốt chui đầu vào chuồng nhìn cho rõ hơn, rồi tái nhợt mặt ngẩng đầu lên nhìn ông:

– Gà dịch hết rồi ông ạ. Làm sao bây giờ hở trời?

Bất giác không hẹn, mà cả ông Ham bà Ham đều nghĩ đến cái đêm hồi hôm và giấc mộng cậu quý tử năm Quý Dậu. Hóa ra, ở gà không phải chỉ có siêng năng, cần mẫn, hiền lành, mà còn có cả điều này nữa… Không biết lão thầy Đảo có nghĩ đến cái oái ăm này không.

Ông nhìn bà. Bà nhìn ông. Rồi hai ông bà cùng quay nhìn chú gà trống thiến đang vơ vẩn trơ trọi  giữa sân.

Bé Nhớn, bé Nhỡ, bé Nhỏ, bé Chút, bé Xíu đã dậy, kéo ra lít nhít cả sân, ngơ ngác nhìn ông bà…

  

THÁNH THƯỢNG MUÔN NĂM HAY BA SẮC DỤ CỦA ĐỨC VUA

Vương quốc nọ do một nhà vua anh minh trị vì.

Nhà vua chẳng những chăm lo việc cai trị các thần dân của mình mà còn quan tâm đến việc mở cửa giao hiếu với các nước lân bang và cả những nước xa mình đến nửa vòng trái đất. Bất cứ một diễn biến bất thường nào xảy ra trên thế giới, nhà vua đều nắm bắt được ngay và lập tức thiết triều để bàn các phương sách đối phó.

Một ngày kia, vua triệu quan đại thần Thượng thư phụ trách vấn đề dân số nghiêm giọng phán:

– Ta nghe các nước xôn xao vấn đề kế hoạch hóa gia đình, tại sao mãi đến giờ khanh vẫn chưa chịu đề đạt một chương trình nào cho vấn đề này?

Thấy nhà vua có ý quở trách, quan Thượng thư cúi đầu tâu:

– Tâu bệ hạ, từ khi thế giới rầm rộ triển khai vấn đề kế hoạch hóa gia đình, thần cũng đã bao đêm trằn trọc suy nghĩ, nhưng…

– Nhưng sao? Khanh có điều gì nan giải, cứ tấu trình.

– Tâu bệ hạ… Dân chúng vương quốc ta vốn chưa được khai hóa về vấn đề sinh đẻ có kế hoạch. Họ cứ giữ thói quen từ mấy nghìn năm văn hiến là rất tùy tiện trong vấn đề này… Họ bảo: “Trời sinh voi trời sinh cỏ” nên mặc sức tự do sinh đẻ. Có những gia đình sồn sồn năm một, đến nỗi không đủ tên để đặt cho con, họ phải gọi là thằng Hết, thằng Thôi, thằng Luôn, con Còn, con Thêm, con Nữa…

Nhà vua trầm ngâm:

– Gay nhỉ…

Viên đại thần tiếp tục:

– Tâu bệ hạ, quả vậy. Ngược lại, cũng có những đôi vợ chồng lấy nhau cả mười, hai mươi năm, thậm chí đến ba bốn mươi năm vẫn chẳng có mống nào, dù họ đã cúng kiếng cầu tự, van xin lễ bái khắp các đền chùa.

Nhà vua vỗ bàn:

– Khanh phụ trách vấn đề dân số,  sao lại để tình trạng ấy xảy ra? Hả?

Quan Thượng thư sợ hãi cúi mọp người :

– Tâu bệ hạ… Trong chuyện ấy… thần cũng bất lực, không làm sao giải quyết được.

– Thế khanh đã có kế hoạch gì cho chương trình này của Cộng đồng Thế giới chưa?

– Tâu bệ hạ, sau bao đêm suy nghĩ, thần đã quyết định rằng…

– Khanh cứ nói.

– Thần suy nghĩ rằng, các nước họ đang hạn chế sinh đẻ, nhưng vẫn giữ mức độ mỗi gia đình có từ 1 đến 2 con. Thần trộm nghĩ, để nước ta vượt trội hẳn các nước, chỉ có một phương sách duy nhất là… ta ra lệnh cho thần dân, bất luận già trẻ lớn bé, đều… không được sinh đẻ nữa.

Nhà vua mừng rỡ, gật gù :

– Hay… Hay… Khanh nói chí phải… Ờ… Ờ… Có như thế mới chấm dứt được tình trạng bất công là ở gia đình này con đàn cháu đống, nhà khác lại chẳng bói đâu ra tiếng trẻ khóc.

Phấn khởi, quan đại thần sôi nổi :

– Tâu bệ hạ… Ngoài điều đó, ta còn làm được một chuyện hơn hẳn các nước… Chắc chắn thực hiện chu đáo kế hoạch này, ta sẽ đạt được huy chương vàng của Cộng đồng Thế giới.

– Được! Được lắm! Ngay buổi thiết triều ngày mai, ta sẽ ra sắc lệnh bố cáo dân chúng ngay.. Và ta giao cho khanh nhiệm vụ đôn đốc thực hiện kế hoạch. Thôi, khanh có thể về nghỉ.

Quan Thượng thư cúi chào nhà vua, rồi lui ra.

Sáng hôm sau, thiết triều, nhà vua ra lệnh cho quan Thượng thư Lễ tân thảo ngay sắc lệnh nêu rõ: “Để thực hiện kế hoạch hóa gia đình, đảm bảo sự thịnh vượng của vương quốc, từ nay, nghiêm cấm bất cứ thần dân nào sinh đẻ. Ai không tuân lệnh, dù với bất cứ lý do gì, cũng sẽ bị phạt nặng, tù chung thân hoặc tử hình!”

Lệnh ban ra, cả nước xôn xao. Nhưng nhà vua nổi tiếng nghiêm minh, nên không một ai dám lên tiếng phản dối. Khổ nhất là những phụ nữ đang mang thai, những cặp vợ chồng mới cưới đang ao ước có đứa con đầu lòng .

Những nhà hộ sinh trong vương quốc đều bị giải tán. Các y tá, các bác sĩ khoa sản, các bà đỡ nhất nhất giải nghệ. Cả vương quốc vắng bặt tiếng khóc trẻ sơ sinh.

Có đôi vợ chồng trẻ sống ở một miền núi heo hút, làm nghề tiều phu, ngày ngày đốn củi đem xuống chợ đổi lấy gạo độ nhật. Dù đã phổ biến nghiêm dụ trong toàn vương quốc, nhưng miền núi ấy hẻo lánh quá, đôi vợ chồng trẻ không hề biết đến chỉ dụ này. Thế là một hôm, người vợ biếng ăn, nhác ngủ, luôn kêu mệt, buồn nôn, bụng mỗi ngày mỗi lớn… Lệnh không ban bố được đến nơi khỉ ho cò gáy ấy, nhưng khi người vợ chuyển bụng thì toàn dân đều biết, cả vương quốc kinh hoàng sợ hãi.

Nhà vua tức tốc phái một đội Cấm vệ quân đến tận nơi, điệu hai vợ chồng nọ về triều.

Trước hai vợ chồng đeo theo đứa bé sơ sinh đang quỳ mọp khiếp sợ trước sân rồng, nhà vua vỗ bàn, thét:

– Đôi vợ chồng kia! Các ngươi sao quá khinh nhờn phép nước? Lệnh cấm sinh đẻ đã ban bố khắp nơi nơi, các ngươi dám táo gan vi phạm thượng lệnh à?

Hai vợ chồng run rẩy khấu đầu van xin được tha tội. Nhà vua ngắm đứa bé đang mê mệt ngủ sau chuyến đi dài một lúc, rồi nghiêm giọng phán:

– Tình cảnh các ngươi khá đáng thương. Nhưng đấng chí tôn như ta cũng không thể vượt qua phép nước. Chiếu theo chỉ dụ đã ban bố…

Nhà vua dừng lại ngẫm nghĩ. Cả triều đình lặng thinh đợi lời phán quyết. Đôi vợ chồng nọ mặt cắt không còn chút máu.

Suy nghĩ một lát, nhà vua phán:

– Đã vậy, phải khép các ngươi vào tội tử hình – Người vợ hét lên một tiếng, ngã xuống ngất đi giữa sân rồng – Nhà vua tiếp – Nhưng nghĩ đức hiếu sinh, vì đứa con đỏ mới chào đời, ta ra ân cho các ngươi hưởng mức chung thân…

Trước các triều thần đang nín lặng, nhà vua oai nghiêm phán tiếp:

– Và cho các ngươi được hưởng án treo! Chung thân… treo! Ta nhắc lại, bất cứ ai còn dám vi phạm thượng lệnh, đều sẽ bị chém đầu không dung thứ. Truyền bãi chầu!

Đôi vợ chồng tiều phu mọp người lạy tạ, rồi dắt díu nhau trở lại miền núi nọ để thọ án lưu đày chung thân. Ây là lần đầu tiên và duy nhất trong đời, họ đã đi xa được đến thế, đến tận triều đình.

Kể từ có vụ trọng án đôi vợ chồng tiều phu, cả vương quốc nhất nhất tuân theo chỉ dụ, từ thành phố đến miền núi miền biển đến tận các hải đảo xa xôi, không ai dám thoáng nghĩ đến chuyện vi phạm.

Hai mươi năm sau…

Vừa trở về sau một chuyến công cán điều tra dân số, viên Thượng thư đại thần hớt hải chạy vào triều, khẩn thiết van xin nhà vua cho bệ kiến. Đang xoay trần dỡ bữa ngự thiện, nhà vua bỏ đũa, khoác áo ra gặp viên đại thần.

Quan đại thần quỳ mọp tâu:

– Tâu bệ hạ… Chí nguy! Chí nguy!

– Việc gì?

– Tâu bệ hạ, khắp cả vương quốc, hiện nay đâu đâu thần cũng chỉ gặp toàn người già. Không có lấy một chàng trai trẻ, một thiếu nữ…

Nhà vua đưa tay vuốt râu, rồi sờ lên mái đầu đã phơ phơ bạc, nén một tiếng thở dài:

– Từ lâu nay, trẫm đã nhận thấy điều này và cũng thường băn khoăn suy nghĩ. Trẫm và các khanh đều cũng đã già rồi. Nhiều khi… trẫm thèm được nghe một tiếng trẻ khóc. Cả vương quốc già cả ốm yếu biết cậy vào ai cày ruộng, vỡ hoang bây giờ .

Nghe tâm sự đấng minh quân, quan Thượng thư cũng sụt sùi:

– Tâu bệ hạ! Chính thế… Thần trộm nghĩ… có lẽ… trong việc này, ta đã phạm phải sai lầm…

Nhà vua chẳng những không giận, mà còn gật gù:

– Khanh nói đúng.  Chúng ta đã sai lầm… Sửa sai, phải sửa sai ngay!

Sáng hôm sau thiết triều, nhà vua lệnh cho quan Lễ tân Thượng thư thảo một sắc dụ mới, nêu rõ:

“Lâu nay, trẫm vẫn băn khoăn vì nỗi nước nhà toàn kẻ già cả, thiếu trai tráng. Đó cũng là một mối nguy không nhỏ cho xã tắc. Vì vậy, từ nay trẫm ra lệnh cho thần dân trong vương quốc cố sinh đẻ… Càng nhiều càng hay. Ai sinh đẻ được nhiều con cái, cứ tấu trình về triều, sẽ được trẫm ban thưởng hậu”.

Chỉ dụ ban ra, cả nước nô nức. Người ta vội vã tu sửa, mở rộng các nhà hộ sinh, trang bị đủ các phương tiện hoàn hảo ngoại nhập. Các trường trung cấp, đại học, kể cả đại học sư phạm, thi nhau mở một loạt các lớp y bác sĩ Sản khoa. Các bà đỡ lại được trọng vọng rất mực.

Khổ nỗi, sau hai mươi năm cấm ngặt, dân chúng quên mất thói quen sinh đẻ. Hãn hữu lắm mới có một vài trường hợp hạnh phúc được sinh con đẻ cái.

Viên Thượng thư tấu trình lên thực trạng này. Nhà vua tức tốc cho triệu quan đại thần Trưởng Viện hàn lâm đến:

– Ta ra lệnh cho khanh, trong ba ngày phải tìm ra một phương cách để các thần dân ta dễ dàng sinh đẻ, đẻ nhiều con cái!

Nhận được lệnh của đức vua, quan trưởng Viện hàn lâm về đóng cửa ngồi lỳ ở nhà ba ngày ba đêm. Ngày thứ tư, ngài đến bệ kiến đức vua trong bộ dạng tơi tả, đầu tóc bù xù, áo quần hôi hám, mắt thâm quầng vì mất ngủ, nhưng rất phấn khởi:

– Tâu bệ hạ. Ơ-rê-ca! Thần đã tìm ra rồi.

Nhà vua mừng rỡ ôm lấy viên đại thần, bẹo má ngài – Đó là cử chỉ vua thường có khi ngài đặc biệt sủng ái ai:

– Thế nào? Khanh tìm ra rồi à? Nói ta nghe!

– Tâu bệ hạ, thần đã tìm ra phương thuốc Mande – tức Mắn đẻ viết tắt – rất hiệu nghiệm cho việc sinh đẻ. Uống vào, người ta sẽ mang thai ngay, từ thiếu nữ mười tám đến cụ già tám mươi đều vậy. Mặt khác, cái hay của nó là  – Ngài ghé sát tai đức vua, thì thầm  – Tâu bệ hạ, đấy là một bí mật quốc gia… Thuốc Mande giảm thời gian mang thai từ chín tháng mười ngày xuống còn mười ngày chín giờ. Sau khi sinh xong, một tuần sau sản phụ đã có thể mang thai trở lại…

Nhà vua mừng rỡ bế xốc viên đại thần nặng nề lên:

– Khanh quả xứng đáng là niềm tự hào của  vương quốc.

Viên đại thần sung sướng cười tít mắt.

Nhà vua phán:

– Ban thưởng cho khanh điều gì bây giờ? Thôi được, thế này… Khanh sẽ sang phụ trách Bộ Dân số. Còn Thượng thư Dân số sẽ chuyển sang lãnh đạo Viện Hàn lâm vậy.

Viên đại thần mừng rỡ cúi đầu lạy tạ.

Sau khi áp dụng phương thuốc Mande, cả vương quốc rầm rộ sinh đẻ. Đâu đâu cũng bắt gặp  phụ nữ đang chuyển dạ, đàn ông hớn hở đi nuôi vợ đẻ.

Lớp này vừa chập chững bi bô, lớp khác đã oe oe chào đời, tiếp tiếp nối nối nhau lũ lượt. Một năm, hai năm, ba năm… Rồi mười năm trôi qua, vương quốc rộng lớn trở nên chật chội khủng khiếp. Người ta làm nhà giữa biển, đào núi lấy chỗ ở. Thành phố, đồng ruộng, núi non, sông biển… đặc những người là người. Không còn lấy một tấc đất trồng trọt, chăn nuôi.

Than ôi! Đấy là thời kì mọi thứ đều chẳng còn… Người ta bắt đầu chế biến đất sét thành các món ăn.

Lại hai mươi năm trôi qua…

Vương quốc không còn lấy một cái nhà nào. Người ta dẫm bẹp dí cả. Người ta tranh nhau một chỗ đứng đến đổ máu. Mặt đất chật ních những người. Đất sét bây giờ cũng trở nên khan hiếm, họ ăn bất cứ cái gì vớ được vào tay.

Một hôm, viên đại thần phụ trách dân số cố chen lấn qua làn sóng người đến van xin bệ kiến đức vua. Cung cấm cũng chật ních những người. Nhà vua mồ hôi đầm đìa lách qua đám đông để gặp viên đại thần. Ngài xuất hiện, thân rồng ướt đẫm.

Vừa giáp mặt, nhà vua ôm choàng lấy viên đại thần, nức nở:

– Khanh ơi, bây giờ mới thật là chí nguy. Biết tính sao bây giờ?

Quan đại thần mếu máo:

– Bệ hạ ôi! Thần có ngờ đâu đến nông nỗi này…

Những lời thở than trên, hai vua tôi phải hét thật to giữa đám người đang xô đẩy họ.

Nhận ra quan đại thần, đám đông cuồng nộ thét:

– Hắn kia! Tên đại tặc gian ác kia! Chính hắn đã gây nên nông nỗi này!

Họ xông tới. Viên quan sợ khiếp vía, vội ôm lấy nhà vua, vua tôi cố sức chui qua đám người, trốn thoát.

Ngày hôm sau, đức vua điều toàn bộ quân Cấm vệ túc trực bảo vệ sân rồng cho ngài và các quan đầu triều thiết triều tìm lối thoát cho tình hình. Cả vương quốc được lệnh báo động.

Ngay sau khi thiết triều, ngài ra lệnh bãi chức viên đại thần đang phụ trách dân số, chuyển lại về Viện Hàn lâm, điều viên Trưởng Viện Hàn lâm trở lại phụ trách Bộ Dân số. Nhà vua phán:

– Lỗi viên quan Thượng thư không gây hiệu quả nghiêm trọng như lỗi của nhà bác học.

Các viên Thượng thư đầu triều bàn tán sôi nổi suýt dùng cả nắm đấm để tranh luận tìm phương cách giải quyết tình hình vương quốc hiện nay.

Cuối cùng, viên quan Thượng thư phụ trách Dân số (mới) rụt rè tâu:

– Tâu bệ hạ, thần trộm nghĩ, ta nên tiến hành hai giải pháp: Một là, phải thực hiện ngay kế hoạch sinh đẻ theo qui định của Cộng đồng Quốc tế! Trước mắt nên dừng ngay việc sinh đẻ, hoặc chỉ giới hạn một con duy nhất, sau sẽ khuyến khích dân chúng mỗi gia đình chỉ nên có từ 1 đến 2 con. Hai là, ta cầu cứu các nước, gửi bớt số dân quá đông của ta cho họ …

Những tiếng “Ồ” ”A” ”A” thán phục nổi lên trong đám các vị quan đầu triều.

Nhà vua mừng rỡ reo to, át cả giọng các quan:

– Hay lắm! Hay lắm! Quan Thượng thư Lễ tân đâu, thảo ngay cho ta một sắc dụ mới.

Cả vương quốc lại xôn xao. Nhưng lần này, đang trải qua hiểm họa hiển nhiên của nạn nhân mãn, thần dân vương quốc hết sức tự giác tuân thủ đạo chỉ dụ vừa ban bố.

Viện trưởng quan Hàn lâm lại bù đầu vào nghiên cứu. Sau một thời gian ngắn, ngài đã tìm ra phương thuốc Hanchede – Hạn chế đẻ viết tắt – vô cùng hiệu nghiệm. Một nhà thơ thiên tài của Viện Hàn lâm bỏ ra đúng nửa tháng và cho ra đời bản tụng ca bốn câu tuyệt tác:

Dưới thời đấng minh quân ta

Mỗi nhà chỉ một, thật là hay ho

Con trẻ nào phải trời cho

Ấy là quyết định rất do chính mình

Nhiều trường ca xuất sắc ra đời. Nhưng bản tụng ca trên vẫn được thừa nhận là thần tình nhất. Người viện sĩ – nhà thơ được triều đình ban thưởng một bằng khen rõ to, đóng khung gỗ đánh vecni hẳn hoi.

Sứ thần các nước, dù có càu nhàu sau lưng nhà vua chút ít, nhưng nhận thấy việc đã rồi, họ cũng đành phải giúp nhà vua di dân.

Triệt để như vậy, mà mãi đến ba mươi năm sau, vương quốc mới trở lại cuộc sống bình thường như trước đó nửa thế kỉ. Đất dần dần rộng ra, dân chúng no ấm, yên vui, bắt đầu một cuộc sống thanh bình.

Chiều chiều, những đôi vợ chồng đã cưới nhau từ năm sáu năm nay, vừa có con đầu lòng chập chững, dắt con đi dạo quanh hoàng cung. Những đứa trẻ bụ bẫm, khỏe mạnh đúng tiêu chuẩn “Bé khỏe, bé đẹp” hướng về phía hoàng cung nắm tay nhau hô vang:

– Thánh thượng muôn năm! Thánh thượng muôn muôn năm!

Nhà vua, lúc này đã già lụ khụ, chiều chiều hể hả chống gậy dạo quanh hoàng cung để thưởng thức những tiếng tung hô ấy. Bên cạnh ngài, bao giờ cũng cặp kè quan Thượng thư Bộ Dân số, quan Trưởng Viện Hàn lâm và thỉnh thoảng có cả nhà thơ viện sĩ. Họ đều đã già cả rồi.

 

CÓC XANH KIÊU HÃNH VÀ 12 HÒN CUỘI ĐỎ – 12 HÒN CUỘI TRẮNG

Dù ra đời chưa được bao lâu, Cóc Xanh ta vẫn kiêu hãnh ra mặt. Thứ nhất, màu da chú không mốc xịt như lũ cóc ranh cùng lứa đâu nhé. Da chú màu xanh, thế mới lạ, và cũng vì thế mà chú đặt tên cho mình là Cóc Xanh. Cái tên đặc biệt đó được thừa nhận ngay, rõ chú đã ăn đứt cái lũ cóc xám tầm thường kia. Thứ hai chú có một sức khỏe vô địch. Lũ oắt kia, mỗi đứa cố lắm một bước nhảy chỉ được một gang tay – là người ta còn châm chước đấy, chứ thực ra chưa đến một gang đâu, còn thiếu một xíu nữa. Chú ấy à, chú nhảy một bước những hai gang, không, còn hơn nữa, hai gang rưỡi. Là nói lúc chú nhảy chơi chơi thôi, chú đã ra sức thì dứt khoát bước nhảy của chú phải là ba gang. Lại thêm một điều ăn đứt bọn cóc ranh kia.

Nhưng còn điều này nữa mới ghê gớm…

Một hôm tình cờ đang nghênh ngang dạo chơi gần bờ giếng, trông thấy Cóc Oắt – ranh này có tên như thế vì chú bé nhất bọn – đang ngồi chầu hẫu thin thít giữa một túm cỏ, Cóc Xanh lên tiếng oai vệ hỏi:

– Oắt, mày làm gì ở đây thế hả?

Oắt giật mình quay lại đã há miệng toan trả lời, nhưng thình lình chú đổi ý lao đến đớp một miếng “tách” vào ngọn cỏ trước mặt, nuốt ực, chóp chép miệng, đoạn trả lời :

– Anh thấy đấy, em đang rình lũ mối. Trời, chúng béo lắm cơ, thật ngon lành làm sao.

Cóc Xanh có vẻ ngạc nhiên lắm:

– Mày nói gì? Mày… mày nuốt chửng mấy con mối tanh òm ấy à? Khiếp!

Cóc Oắt trợn mắt:

– Sao lại tanh? Chúng thơm phưng phức ấy anh ạ, ngon lắm cơ…

Chưa dứt lời, chú lại bỏ câu nói, lao tới đớp đánh “tách” lần nữa vào ngọn cỏ, nghểnh cổ nuốt ực và lại chóp chép miệng. Nhìn thấy thế, Cóc Xanh chậm rãi lắc đầu hai lần, ra ý chê bai và ghê tởm một cách thâm thúy.

Không để ý điều đó, Cóc Oắt lại hỏi, sau khi nuốt xong con mối béo tròn:

– Anh chê lũ mối béo mẩy này à? Thế… anh ăn gì để sống mà có vẻ khỏe ghê vậy?

Cóc Xanh làm ra vẻ đang bận suy nghĩ điều gì không nghe thấy câu hỏi của Oắt.

Càng tò mò, Oắt nhảy một bước – chỉ có một gang tay thôi, nhưng chú đã lại làm thêm ngay một bước nhảy nữa, thế là được ở sát bên Cóc Xanh. Chú nghểnh đầu, cố sức hét thật to:

– Anh không nghe thấy em hỏi à? Anh vẫn thường xơi gì vậy, anh Cóc Xanh?

Lần này thì Cóc Xanh trả lời, giọng nghiêm trang:

– Mày xem đây.

Cóc Xanh dớn dáo đảo mắt nhìn quanh. Bỗng chú làm một bước nhảy oai vệ về phía trái. Cóc Oắt giật mình, nhưng chú đã vội nhảy theo Cóc Xanh ngay – tất nhiên là hai cú. Chưa kịp định thần, Oắt đã nghe Cóc Xanh quát một giọng rất đanh:

– Này nhé!

Chú vươn cổ, tợp ngay một cái vào hòn cuội xinh xinh bé bé nằm trước mặt. Oắt hoảng hốt định ngăn lại thì Cóc Xanh đã tợp thêm một cái, rồi một cái nữa… Oắt tái xanh mặt, cuống cuồng vừa chạy vừa hét toáng lên:

– Chúng mày ơi! Anh Cóc Xanh nuốt vào bụng tất tật mấy hòn cuội rồi! Ghê quá chúng mày ơi!

Cả lũ Cóc đổ ra, xúm lại nghe Cóc Oắt kể chuyện. Oắt vẫn còn xám xanh mày mặt, chú vừa run vừa hổn hển kể.

Đó là biệt tài đáng gờm nhất của Cóc Xanh. Cũng từ đó, chú đâm ra nổi tiếng khắp vùng, và lại càng có vẻ kiêu hãnh tợn. Lúc nào mắt chú cũng gườm gườm, đầu chú cũng nghênh nghênh, dáng đi điệu đứng lại càng ngông. Lũ cóc con đều sợ và kính phục Cóc Xanh ra mặt, không đứa nào dám mon men lại gần chú. Mà  sá gì cái lũ cóc con xám xịt, không biết nuốt cuội kia, đến cụ Cóc Tía – Đạo sĩ lâu nay ẩn dật lánh thân tu luyện ở một cái hóc tối om hun hút, Cóc Xanh cũng chẳng tỏ vẻ nể nang gì. Có lần chú còn dám buông lời xúc phạm đến cụ nữa kia đấy. Chú bảo:

– Cụ Cóc Tía ấy à? Nghe nói cụ có mấy hòn cuội quý lắm, lúc nào ta lên đó nuốt chửng cuội của cụ chơi.

Không ngờ cái câu đùa cợt phạm thượng đến tai cụ Cóc Tía – Đạo sĩ thật. Giữa lúc đang ngồi thiền, thế mà cụ cũng bực mình quá, mở choàng mắt ra quát:

– Nó dám láo thế à ? Dẫn nó đến đây cho ta!

Không rõ phép thuật của cụ huyền bí thế nào mà cụ vừa quát xong, đã thấy Cóc Xanh xuất hiện ngay trước mặt, y như vừa bị tóm cổ đến vậy. Chú ngơ ngơ ngác ngác đảo mắt nhìn quanh, chợt ngẩng lên trông thấy Cóc Tía – Đạo sĩ, chú tái xám cả mặt.

Cụ Cóc Tía nghiêm giọng hỏi:

– Nghe nói mày định đến đây nuốt mấy viên cuội của ta phải không?

Cóc Xanh sợ quá, toan chối, thì cụ lại bảo:

– Ta biết cả rồi, đừng chối. Đây, cho mày, nuốt đi.

Cụ vứt ra trước mắt Cóc Xanh 24 hòn cuội tất cả, 12 hòn cuội đỏ, 12 hòn cuội trắng. Những viên cuội lấp lánh trông thật đẹp mắt.

Cóc Xanh lúc này đã xanh tái cả người dù chú vốn đã xanh. Chú chần chừ, lúc thì nhìn những hòn cuội, lúc lại ngước nhìn cụ đạo sĩ. Cụ giục:

– Nuốt đi!

Cực chẳng đã, Cóc Xanh phải thè lưỡi đớp lấy một viên cuội, ngập ngừng nuốt. Viên thứ nhất, viên thứ hai rồi viên thứ ba… Nuốt xong 12 viêng cuội trắng, chú đã hoa cả mắt, bụng nặng trình trịch cứ chực nôn ra. Nhưng ngước lên, bắt gặp ngay cái nhìn nghiêm khắc của cụ đạo sĩ Cóc Tía, chú lại phải cố sức thè lưỡi đớp tiếp những hòn cuội đỏ. Một viên… hai viên… Nuốt tiếp xong 12 viên cuội đỏ, mắt chú nảy đom đóm, lưỡi lè ra.

Mệt quá, Cóc Xanh chúi đầu xuống đất nằm thở thì… Trời ơi! Cái gì trong bụng thế này? Lửa, lửa! Như có ngọn lửa bừng lên từ ruột gan chú, thiêu đốt chú. Nóng, nóng quá. Sức nóng từ trong bụng làm chú bật ngửa ra phía sau. Thì… trời ơi! Lạnh, lạnh một cách khủng khiếp, cái lạnh toát ra cũng từ ruột gan chú. Cái lạnh hất chú chúi đầu xuống, chổng ngược lên, thì ngay lập tức cơn nóng bùng lên… Cứ thế, hễ chú ngước lên thì lại lạnh, chúi xuống thì liền ngay cơn nóng! Mình đầm đìa mồ hôi, chú muốn kêu thét lên, thì ực một cái, chú nôn thốc nôn tháo những hòn cuội ra. 12 hòn đỏ, 12 hòn trắng… Nôn xong, ngọn lửa và cơn lạnh liền biến mất khỏi bụng chú.

Cóc Xanh còn đang thở hổn hển, thì giọng sang sảng của cụ Cóc Tía – Đạo sĩ đã vang lên:

– Cuội của ta, 12 viên đỏ là 12 hòn lửa, 12 viên trắng là 12 cục tuyết. Nhà ngươi đã biết điều rồi chứ? Từ nay phải chừa cái tính tự cao tự đại đi nghe chưa? Thôi, cho ngươi lui.

Cụ dứt lời, Cóc Xanh đã lại thấy mình ngồi bên thành giếng. Người chú vẫn còn toát mồ hôi, chú run lẩy bẩy, tưởng chừng như mình vừa trải qua một cơn mơ khủng khiếp.

Từ đó, lũ cóc con thấy Cóc Xanh không còn cái vẻ kiêu hãnh hợm hĩnh nữa. Chú hiền lành chạy nhảy chơi đùa với chúng. Mỗi khi lũ bạn ép chú trổ tài nuốt cuội, chú lại lắc đầu nguầy nguậy, mặt tái xanh tái xám. Một hôm Cóc Oắt nhìn thấy chú ngồi chồm hỗm bên thành giếng rình đớp ngon lành những con mối béo nung núc.

 

NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ

Giữa trưa đứng bóng hay chiều tối, nắng hay mưa, mùa đông rét cắt ruột hay mùa hè nóng bỏng da, mỗi lúc có việc đi ra đồng tôi đều nhìn thấy bà Hượu đang lúi húi mò mẫm dưới ruộng bắt ốc mò cua hay sục sạo tôm tép. Lúc sẫm tối, cái lưng khòm lại cúi xuống của bà gắn liền với mặt ruộng lúa thành một khối đen lù lù, cứ như một lùm dứa dại đột ngột mọc lên ở giữa ruộng nếu không có tiếng oàm oạp của đôi tay bà luôn lục sục mò vớt dưới bùn.

Bà Hượu sống một mình. Ngày tôi còn nhỏ thì bà đã già lắm rồi. Tôi không hiểu tại làm sao mà ngày xưa, ở quê tôi có nhiều ông già bà lão sống một mình đến vậy. Không thấy có con cháu gì, mỗi xóm mỗi thôn đều có một vài cụ sống cô độc lủi thủi trong các mái tranh hay rơm rạ rộng chừng hai manh chiếu đôi thấp lè tè chỏng chơ mục nát, ẩm ướt và tối om om ngay cả giữa trưa nắng. Trong nhà vừa đủ chỗ để kê một cái chõng tre cũ, thường đặt sát bên chái bếp thò lò ông đầu rau và cái ấm nấu chè xanh ám khói đen thui. Trên mấy thanh củi xù xì dùng làm giàn bếp treo lủng lẳng mấy trái bắp khô queo hay vài gói hạt giống bí bầu. Sát bên chái bếp bao giờ cũng là cái ảng sành sứt miệng luôn để sẵn gáo dừa múc nước có cái cán dài ngoằng vắt ngang miệng ảng bên mấy dây bí dây bầu bò lơ ngơ lên mái rạ. Mỗi khi ông bà cụ nào qua đời, chiếc chõng tre cũng được khiêng ra đốt bên mộ, căn lều tội nghiệp bị bỏ hoang chẳng ai đến ở, không bao lâu cũng sụp đổ rồi biến mất trong đống dây leo dại um tùm ngày một xanh rì dưới lớp bụi thời gian.

Bà Hượu cũng đã qua đời từ lâu.

Bẵng đi bao nhiêu năm tháng, một lần về thăm quê, tôi mon men lội bộ dọc theo những con đường bờ ruộng trơn tuột mà lúc nhỏ tôi vẫn đi học. Bỗng, tôi nhìn thấy một bóng người lom khom dưới ruộng và tiếng nước kêu oàm oạp. Bất giác tôi kêu lên sửng sốt :

– Bà Hượu!

Người ấy đứng thẳng dậy, gỡ nón nhìn lên. Đó là mẹ tôi!

 

CON CHÒ CHỈ LOẰNG QUĂNG

Thành thật mà nói thì đến bây giờ tôi vẫn không hiểu nó là con gì – cái con chò chỉ loằng quăng ấy. Chỉ biết một điều là bà Nhương liệu xóm tôi, mỗi khi vấp ngã hay bị ai thình lình đụng vào người là bà quýnh quáng kêu lên:

– Ôi… ôi… Ma quỷ thần phật ơi! Cái con chò chỉ loằng quăng!

Đích thị là bà Nhương – có tật nói nhịu nên được gọi luôn là bà Nhương liệu – đã nhìn thấy con chò chỉ loằng quăng rồi nên mới nhập tâm và thường xuyên kêu tên nó ra như vậy. Tính tò mò, mấy lần tôi lân la gạn hỏi nhưng bà nhất định không nói, kể cả lần tôi vặt luôn mấy lá trầu già to tướng mang đến cho bà. Trầu thì bà nhận, nhưng vẫn không cho tôi biết nó là con gì. Tức mình, tôi hù một cái rồi chạy biến, thì bà lại kêu toáng lên:

– Ôi… ôi… Thằng trời đánh thánh vật. Cái con chò chỉ loằng quăng!

Tôi rời quê đi học đại học rồi ra trường, rồi về thành phố làm việc thoắt một cái đã ba mươi năm, học được khối điều hay lẽ phải ở người đời tứ xứ mà vẫn chịu chết một điều về cái con chò chỉ loằng quăng. Bà Nhương liệu đã về với ông bà từ lâu, khi tôi học năm thứ hai đại học, vì tuổi già. Cả đời tất bật, bà tất bật vội vã cả lúc về với ông bà chỉ trong một đêm ngã bệnh, mang theo điều bí mật to lớn về con chò chỉ loằng quăng chỉ một mình bà biết.

Bây giờ, mỗi khi gặp chuyện bực mình, bất giác tôi lại thốt lên:

– Ôi cái con chò chỉ loằng quăng!

Rồi cười một cái. Thế là tiêu tan nỗi bực bội.

Nhưng mà nó là con gì – cái con chò chỉ loằng quăng ấy?

Bạn có biết không?

 

TÔI ĐI HỌC

Những ngày đi học của tôi không phải là những ngày thơ mộng, êm đềm. Không phải là những cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc… Mà tôi  thường bồi hồi nhớ lại những ngày mùa đông buốt giá, rét cắt ruột, lạnh thấu xương, có cơn mưa trút nước rát mặt và những luồng gió quái ác rít lên từng cơn cuồng nộ.

Những đêm đông như thế, từ khi gà gáy lần đầu, mẹ tôi đã trở dậy lụi cụi bên bếp lửa bập bùng lo bữa cơm sáng cho tôi đi học. Thường là một nồi sắn luộc – thứ sắn cạo vỏ xắt lát phơi khô mà riêng quê tôi vẫn gọi là “khoai xiêm”, thứ lương thực chính của tất cả chúng tôi trong những năm ấy – và một bát muối ớt, loại muối trắng dằm với ớt xanh, giã nhỏ. Đến mùa khoai lang thì mẹ lại nấu khoai, đôi khi cả khoai và sắn lẫn lộn, hiếm hoi lắm mới được thêm vào nhắm gạo nhỏ những khi tôi phải ở lại trường buổi trưa để làm gói cơm nắm cho đỡ tủi. Tôi nằm mơ màng nghe nồi khoai bốc hơi lên nghi ngút, lẫn với vị hăng hắc, chờ mẹ gọi là lồm cồm bò dậy. Mẹ xới cho một chén, tôi ngồi bên bếp lửa ấm áp vừa trệu trạo nhai nuốt vừa nghĩ đến hành trình một ngày đi học đang mở ra trước đôi mắt còn ngái ngủ của mình… Ăn xong, ngoài trời vẫn còn mờ mịt tối, mưa vẫn trút nước và gió vẫn rít từng cơn buốt giá. Nghe mà rùng mình.

Quanh co kéo dài chừng dăm bảy cây số đến trường, con đường đi học của tôi hội tụ đủ các đặc điểm địa hình địa lý trên trái đất này: Đầu tiên là một cây cầu tre chênh vênh bắc qua con sông nhỏ cứ đến mùa lũ là bị nước cuốn phăng đi từng đoạn, trơ khấc những cột tre chìm trong nước lũ. Mỗi sáng, mẹ tôi vẫn đưa tôi đi ra đến đầu cầu, đứng nhìn tôi dọ dẫm men từng bước qua cầu, tôi qua khỏi rồi mới yên tâm trở về để đến mờ tối lại ra đó đứng đợi tôi. Đoạn đường tiếp theo là một cánh đồng lúa, những đoạn bờ lắt léo khúc khuỷu nhấp nhô trơn tuột, sẩy chân một cái là người sẽ nhào xuống ruộng. Quần xắn cao, dép cầm tay, tôi bấm chân men theo bờ ruộng mà bước. Hết cánh đồng qua con đập Giang Trai luôn ầm ào nước là đến một ngọn đồi, không cao lắm, nhưng con đường dốc ngoằn ngoèo vắng hoe cạnh một rừng cây âm u vẫn thường làm hiện lên trong trí tưởng tượng của tôi đầy những hình ảnh ma quái trong bóng bình minh mùa mưa mờ ảo hay những buổi chạng vạng tối trời. Thu lu trong tấm áo mưa, tôi vừa bước vừa run cho qua khỏi đoạn đường đồi núi này, chờ đến đoạn trảng cát mịn màng trắng tinh dẫn đến con đường nhựa ra thị trấn mới thở phào nhẹ nhõm. Kia rồi, qua non cây số đường nhựa là hình ảnh ngôi trường thân yêu đứng đó, sừng sững, ấm áp, đầy tin cậy, với những thầy cô và các bạn bè tôi…

Lứa tuổi học sinh chúng tôi nằm trong những ngày tháng cực kỳ khó khăn của đất nước, từ thành phố đến làng quê. Những thử thách khắc nghiệt giăng ra hằng ngày, treo lơ lửng trên con đường đến trường của chúng tôi, và không ít bạn bè tôi đã phải nản lòng bỏ dở mộng đèn sách. Đói và rét. Thiếu thốn từ sách vở đến quần áo, nói gì đến những phương tiện, tài liệu học tập tham khảo đủ loại đủ kiểu luôn mới tinh và thay đổi xoành xoạch đến chóng mặt như bây giờ. Ở nhà tôi, dù chỉ khoai sắn, nhưng thường chỉ có mỗi mình tôi là được ưu tiên ăn no để đủ sức vượt đường xa đến trường, và tôi chắc tất cả bạn bè tôi cũng đều ở hoàn cảnh như tôi. Một đứa con đến trường là cả nhà từ cha mẹ, anh em… phải chịu đựng hy sinh, chắt bóp dành dụm, ăn đói nhịn khát trông chờ vào cái tương lai đèn sách xa xôi mông lung của con em mình. Tứ thời, mỗi đứa chúng tôi chỉ vận một bộ quần áo độc nhất, mạng vá chằng chịt mà bất đắc dĩ khi quá bẩn mới đem giặt rồi phải… đánh trần ngồi chờ khô để được mặc lại. Những đứa “sang trọng” lắm mới có cái áo ấm cũ rích đa thế hệ (thường là của thừa kế ông bà cha mẹ hay anh chị để lại!) vận vào mùa đông. Năm lên cấp Ba, tôi được anh người anh họ cho một cái áo sơ mi còn khá chắc dù đã cũ mèm, tôi quần riết nửa năm đã rách tung, bèn cắt đôi tay áo để phần thân hơi lành lặn còn lại dùng làm… khăn tắm lẫn khăn lau lúc bấy giờ còn là một thứ xa xí phẩm mỗi năm được mậu dịch bán cho mỗi hộ mấy cái. Dép thì mang dép su cắt từ lốp xe hỏng, quai thường xuyên sút nên trong người lúc nào cũng thủ một chiếc kẹp tre sẵn sàng kéo rút. Tôi còn nhớ, tôi đã lọt thỏm và nổi bật lên ở trường Phan Châu Trinh như thế là, khi tôi đánh nguyên bộ cánh vá víu và đôi dép lốp su ra dự lớp bồi dưỡng văn học dự thi giải toàn quốc của tỉnh, giữa biết bao là nữ sinh thanh lịch như hoa như mộng chốn phố phường. Cái thằng tôi hồi ấy ngố làm sao, khi đang đi dạo với một bạn gái trường Hoàng Hoa Thám cùng đội tuyển mới làm quen trên đường Thống Nhất, dép lốp su trở chứng sút quai, tôi vội vàng dừng lại bứt cọng lá dừa làm thanh kẹp rút lại quai dép. Ôi, cái đôi mắt đen láy sững sờ kinh ngạc tuyệt đẹp của người bạn gái ấy, bây giờ tôi vẫn còn nhớ rõ biết chừng nào! Và ngày ấy, cái ước mơ cao xa cháy bỏng trong lòng tôi, luôn thôi thức trong tôi không phải điều gì khác hơn là… một chiếc xe đạp. Phải, một chiếc xe đạp, dù chỉ cọc cạch đôi bánh chắp vá và cái sườn xe trơ trọi như đôi đứa bạn bè may mắn của tôi, để đến trường. Bao đêm hình ảnh chiếc xe đạp hiện lên trong giấc mơ của tôi, quyến rũ và ngọt ngào biết bao. Bây giờ tôi đã có dịp đáp máy bay, đi tàu thuỷ, xe lửa, ô tô, xe máy các loại cả ở trong nước lẫn nước ngoài, nhưng dù tiện nghi hiện đại đến đâu, tôi vẫn chưa bao giờ có được cái cảm giác sung sướng như thỉnh thoảng giữa trưa nắng gắt, tôi được một thằng bạn tốt bụng cho “ké” xe chở về nhà ngày ấy – thường xuyên làm việc thiện này là thằng bạn cùng xóm thân thiết từ hồi để chỏm vừa là ông chú họ mà tôi cứ mày tao chi tớ từ đó đến giờ. Chiếc xe đạp ọp ẹp cà khổ của hắn mỗi lần có dịp chở tôi là hắn phải mất cả buổi chiều ngồi quấn lốp vá ruột chắp nối lại sườn xe nên riết rồi tôi cũng không dám leo lên. Nhiều bữa, thấy tôi đi bộ một mình tội nghiệp, hắn cho xe an dưỡng để cuốc bộ với tôi. Chiếc xe đạp, chiếc xe đạp… Đêm nào nằm ngủ tôi cũng nằm mơ được cha mua cho một chiếc xe đạp, nhưng suốt ba năm trung học vẫn chỉ là một giấc mơ xa vời vợi của tôi. Và cái giấc mơ thổn thức ấy tắt lịm hẳn khi cha tôi lâm bệnh nặng qua đời năm tôi học lớp 11. Không biết bây giờ, các em quê tôi đi học có em nào vẫn phải ôm ấp những giấc mơ như tôi, và các bạn tôi? Có em nào cảm nhận được cái hạnh phúc nhỏ nhoi mà thấm thía như tôi, là mỗi tối mẹ tôi chạy được đủ tiền mua vừa đúng một đèn dầu hột vịt để đêm đó tôi thức khuya học bài? Và mỗi sáng có đủ một mo cơm sắn lá chuối thỉnh thoảng có kèm nửa con cá chuồn quý giá để ăn trưa khi tôi phải ở lại trường cả ngày… Nhiều bữa trường tổ chức lao động đột xuất phải ở lại trường không đứa nào mang cơm theo, chúng tôi kéo nhau ra quốc lộ I, vừa… dung dăng đi dạo giữa cái nắng trưa chang chang vừa lén lén bốc trộm khoai lang lát người ta phơi dọc hai bên đường bỏ vào miệng nhấm nháp cho qua bữa.

Bạn bè tôi hẳn cũng sẽ không thể nào quên được những kỉ niệm sâu lắng tận đáy tâm hồn mỗi đứa trong những ngày đi học như tôi! Trong những ngày khó khăn đói rét ấy, tình nghĩa thầy trò, bạn bè thiêng liêng và gắn bó vô cùng, thầy cô tận tâm tận tụy, hiểu và thương học trò như thương chính con em mình. Bạn bè chia sẻ nhau mọi điều trong nỗi cơ cực, trong vô vàn thiếu thốn khó khăn. Những nghĩa tình ấy có sức sống dài lâu lắm trong tâm hồn chúng tôi, có thể nào quên đi được. Ngôi trường, thầy cô, bạn bè… những năm tháng phổ thông, tất cả hiện vẫn sống động trong tâm trí chúng tôi, vẫn theo suốt, sâu đậm trong cuộc hành trình vào đời của chúng tôi.

Và em nữa, hỡi cô bé mơ trăng dễ thương thông minh tinh nghịch có đôi mắt xanh và “chiếc cặp đỏ, màu áo choàng cũng đỏ”, em có biết chăng ngày ấy tôi đã từng “ngẩn nhơ nhìn thầm lặng ngẩn ngơ yêu” và tình yêu thầm lặng tuổi học trò ấy là niềm vui vô bờ mỗi khi tôi đến trường, được từ xa nhìn ngắm em để rồi cảm thấy mình có thêm ý chí sức lực kiên trì ba năm đèn sách? Tình yêu học trò trong sáng đắm say chẳng bao giờ có dịp tỏ bày ấy đã mãi mãi còn lại trong tôi với tất cả sự tinh khiết, đẹp đẽ vô ngần của nó, tôi vẫn nghĩ về em như nghĩ về hạnh phúc có thể suốt đời em không biết được tôi đâu. Hãy cho tôi được nhớ về đôi mắt em để kết thành ký ức tuổi học trò yêu mến mà tôi vẫn tự hào mang theo như một hành trang giàu có đã góp nhặt được từ một thời thơ trẻ khổ nghèo mà ấm áp tình người không bao giờ có thể nguôi quên suốt cuộc đời mình!

Khi gió mùa trở rét, những đám mây xám xịt vần vũ trên bầu trời nặng trĩu và mưa bắt đầu nặng hạt, tôi lại bồi hồi nhớ lại những ngày tôi đi học…

 

CHUYỆN BÉ NHƯ – CHUYỆN CU VĂN

Bé Như

Bé Như lên ba. Tết, ba mẹ chở bé Như về quê. Xe đang chạy trên con đường làng nhấp nhô ổ gà. Chợt bé Như vỗ tay hét lên:

– Ba mẹ ơi! Xem nhiều con heo to khổng lồ kìa!

Ba mẹ nhìn theo tay Như chỉ: Một đàn trâu đang thản nhiên gặm cỏ bên đường.

Bé Như theo các bạn nhỏ chạy chơi khắp vườn. Một lúc lâu, về khoe:

– Ba ơi, trong vườn bà nội có một cây dừa to trái to bự, nhiều cây dừa nhỏ trái nhỏ xíu. Con thấy một con gà đang dẫn bầy chim đi chơi nữa đó ba.

Ba dắt bé ra vườn. Một cây dừa đứng chen giữa đám cau gầy ngoẳng, cao vút. Trên cây lủng lẳng những trái – quả thật cây dừa to trái rất to, còn cây nhỏ trái nhỏ, vì chúng là… cây cau.

Gà mẹ dẫn đàn gà con kiếm ăn táo tác bới đất quanh đấy.

Ba bắt cho Như con chuồn chuồn con. Như thích quá, chơi mãi không chịu thả. Ba chỉ cho Như con chuồn chuồn cồ đang bay lờn vờn, bảo:

– Thôi con thả nó ra đi. Tối rồi, mẹ nó đang đi tìm con về kìa.

Như vội vàng thả con chuồn chuồn ra cho nó   bay đi.

Lên thắp hương mộ ông nội, bé Như sục sạo vào các bụi cây hái hoa, trượt chân ngã, gai cào sướt da, Như mếu máo:

– Vườn ông nội toàn gai là gai.

Về lại Đà Nẵng, các bạn hỏi:

– Sao bé Như bị trầy chân?

– Như ngã ở nhà ông nội.

– Nhà ông nội Như ở đâu?

– Nhà ông nội ở trên núi. Nhà nhỏ lắm. Mà ông nội không có ở trong nhà, ông nội ở dưới đất với trên bàn thờ nhà bà nội thôi.

Như khoe:

– Nhà bà nội Như tỷ giàu. Nhà có sáu cái cửa, trên ba cái, dưới ba cái cửa to đùng.

Bà nội từ quê ra, đem theo giỏ trầu cau. Sau bữa cơm, bà lại ngồi bỏm bẻm nhai trầu. Như nhìn chăm chăm, thấy lạ quá nhưng không nói gì. Một hôm cơm xong, bà còn ngồi uống nước. Như vội chạy đi tìm giỏ trầu, khệ nệ mang đến bên bà, mời:

– Bà nội ăn rau đi.

Một lúc sau, bé Như tấm tắc:

– Bà nội ăn rau miệng đẹp ghê.

Giở xem tập ảnh cưới ba mẹ, một lúc bé Như òa lên khóc:

– Ba đây, mẹ đây. Còn bé Như đâu?

Như biếng ăn. Mẹ dỗ:

– Con phải ăn thật nhiều mới mau lớn.

Như nghĩ ngời rồi khẳng định:

– Khi con lớn bằng ba mẹ, chắc có lẽ ba mẹ đã lớn khổng lồ bằng cái nhà mình rồi.

Ba đi công tác Hà Nội. Mẹ dẫn bé Như ra bưu điện gọi điện thoại cho ba. Nói chuyện một hồi, ba bảo ở Hà Nội lạnh lắm. Bé Như vội vàng nói:

– Con nói xong rồi. Thôi ba chui ra đi, đừng ở trong điện thoại nữa, lạnh lắm.

Ba mệt, đang nằm nghỉ. Bé Như đem sách đến đòi ba đọc. Ba nói dối:

– Quyển này tiếng Anh, con nghe không được đâu. Sách tiếng Việt mới nghe được.

Ba xì xồ một tràng tiếng Anh, bảo: “Đó, thấy chưa”. Như không đòi nữa.

Nhưng hôm sau, cũng quyển sách ấy, ba quên, lại đem đọc cho Như nghe.

Vài hôm sau, Như lại đem sách đến đòi đọc. Ba định nói dối:

– Quyển này tiếng Anh…

Như cãi ngay:

– Không phải đâu ba ơi. Quyển này ba đem về hôm qua, hôm nay chắc nó biến thành tiếng Việt rồi. Như quyển bữa trước ba đọc đó!

– Đố bé Như, năm trái quýt với sáu trái quýt là mấy trái quýt?

Như đang nằm, giơ cả hai bàn tay ra tính, thấy không đủ, lại giơ thêm một bàn chân.

Một lúc sau, trả lời thật to:

– Dạ thưa ba, là mười trái quýt với… một  ngón chân.

‘’Ây là lúc ba bế con trên tay… Người ba tan ra trong một cảm giác huyền diệu, lớn lao, mới mẻ . Ngỡ lần đầu tiên trong cuộc đời rồi cuối cùng mình cũng đã hiểu được hạnh phúc. Cái cảm giác của một người đang ôm cả đôi mắt người yêu, ánh sáng và bầu trời trong tay. ‘’

Bài thơ ‘’Bế con‘’ được ba viết khi Như chớm ba tháng tuổi. Mang thai bé Như, mẹ về quê ở với ông bà ngoại cho đến khi bé Như oe oe chào đời ở nhà hộ sinh Tam Mỹ lúc 9 giờ sáng ngày 13 tháng 5 năm 1992. Sau ba tháng cứng cáp mới tạm biệt quê nội quê ngoại ra Đà Nẵng với ba mẹ. Ba tháng tuổi, bé đã nổi tiếng khắp khu tập thể vì tiếng khóc ‘’vỡ tai hàng xóm’’. Mỗi lần dỗi khóc là cả khu tập thể đều nghe thấy. Được cái, khi được bế đi chơi, là Như liền nín, nhoẻn cười ngay. Như rất thích được ba bế đi vòng vòng quanh khu tập thể, nhìn trời, nhìn đất, nhìn ông trăng.

Lên ba, điều Như thích nhất là những buổi tối nằm nghe ba kể chuyện. Chuyện Tấm Cám, chuyện Chàng Ngốc, Cây tre trăm đốt… Mỗi buổi tối, Như lại chèo kéo ba: Ba ơi ba, kể chuyện cho con nghe. Bận đến mấy, cũng phải dành cho Như vài ba tiếng đồng hồ, nghe chuyện xong Như mới chịu ngủ. Ba kể chuyện, Như nằm yên nghe không dám động cựa, mắt mở to nhìn chăm chăm vào miệng ba không chớp, mỗi lần ba hết câu lại ‘’dạ‘’ thật ngoan, ra điều ta đã hiểu rất rõ từng câu ba kể. Có lần, ba đằng hắng, Như giật mình ‘’dạ’’ ngay rõ to. Như rất thích những câu chuyện dí dỏm, thông minh, cười lên khanh khách mỗi khi nghe chuyện Chàng Ngốc, dù đã được nghe ba kể đi kể lại không dưới chục lần chẵn chòi. Những lúc ba mệt không thèm kể nữa, Như lại nhanh nhảu kể y chang chuyện Chàng Ngốc cho ba mẹ nghe. Bữa nào không kể chuyện thì lại đố vui.

Ngày đầu đi Mẫu giáo, Như biểu diễn một màn khóc ngoạn mục. Mười ba tháng tuổi đã đi nhà trẻ cô Ngọc, đã quen gửi trẻ nhưng khi đến trường Mẫu giáo Nhà thiếu nhi, thấy các bạn khóc như ri, Như mếu máo theo. Khi ba mẹ chào cô, ra khỏi lớp, Như liền tuôn chạy ào theo. Cửa đóng không ra được, Như phóng ào lên bệ cửa sổ, tay bấu chặt song sắt, miệng gào lên inh ỏi ‘’Ba ơi mẹ ơi cho Như về’’. Cả lớp hoảng hốt nín bặt tiếng khóc, đồng loạt quay lại trố mắt nhìn Như! Ấy thế mà Như làm quen rất nhanh với cô, với lớp, được các cô chọn vào đội Múa đi biểu diễn khắp nơi. Hết năm Bồ Câu, Như đã tự mày mò đọc được chữ bằng cách hỏi mẹ từng vần khi bí, cũng từ việc quá ham đọc và quyết đọc cho bằng được các tập truyện cổ tích. Từ khi đọc được sách, Như bắt đầu ít bắt ba kể chuyện, mà suốt ngày cắm cúi đọc, đọc cả khi ăn, đọc trước khi ngủ, len lén đọc khi bị ba mẹ cấm vì sợ ảnh hưởng sức khỏe. Rất ngoan, từ đầu năm lớp Một, Như đã biết tự xem thời khoá biểu để sắp xếp sách vở, tự lo vệ sinh khi thức dậy và mặc quần áo chuẩn bị đến trường, tự lo chuyện học bài khi về nhà, ít khi để ba mẹ phải nhắc nhở la rầy. Như rất sợ mỗi khi ba nổi giận. Như bảo: Mẹ giận chỉ là trời mây mù, ba nổi giận là sấm sét, là… kinh khủng.

Từ lớp Một đến lớp Năm, năm nào Như cũng có ba giấy khen, ba phần thưởng. Ngoài phần thưởng diện nhất nhì ba nhà trường tặng thành tích học tập xuất sắc, là các phần thưởng năng khiếu: Đàn, Tiếng Anh, Vi tính. Chỉ tội tính hiền, rụt rè, nói nhỏ, sổ liên lạc năm nào cũng được cô giáo góp ý: Cần hoạt động nhiều hơn, phải nói to hơn khi phát biểu trong lớp. Mẹ phải chấn chỉnh mãi, Như mới tiến bộ được chút ít, mà mãi đến nay cũng chỉ có chút ít tiến bộ đó thôi. Mỗi khi gặp khách, ba lại phải nhắc ‘’Con chào bác to lên’’, nếu không, Như lại chào bác lí nhí, bác rõ tai đến mấy cũng chẳng thể nghe thấy được. Mẹ vẫn bảo: ‘’Như ở nhà cả ngày cũng chẳng biết, vì suốt ngày cứ chúi vào một góc nào đó đọc sách, chẳng nghe được tiếng nói’’. Dĩ nhiên là trừ lúc chơi đùa với em Văn.

Khi mẹ sinh em Văn, Như có hơi buồn một chút, vì bị các cô chú các dì trêu: Từ hôm nay Như bị ra rìa rồi nhé! Nhưng khi vừa nhìn thấy em cu lần đầu ở khoa sản bệnh viện, Như đã ôm chầm lấy em, và tức khắc trở thành một bà chị cực kỳ mẫu mực, cưng em nhất nhà. Tên Văn của cu là do chị Như chọn, khi còn đứng chờ mẹ sinh em ở bệnh viện. Cu Văn thì cái gì cũng nhất nhất chị Như, suốt ngày bám chặt lấy chị, đi trẻ về là hỏi ngay chị Như đâu, không thấy chị là bắt tìm cho bằng được. Mỗi lần ba mẹ chở đi chơi, cu Văn luôn đẩy chị lên ngồi trước cho yên tâm, rồi mới chịu lên xe. Đến nỗi khi ngủ mê, Văn ta cũng mớ: ‘’Chị Như ơi, sao lại thế này! ‘’Ây hẳn là lúc cu đang mơ thấy mình chơi vi tính mà mở không ra trò chơi, phải cầu cứu đến bàn tay thiện nghệ của chị Như. Chưa biết chữ nào, nói chưa rành câu, mà suốt ngày Văn ôm lấy máy vi tính, dĩ nhiên là luôn kéo chị ngồi kè kè một bên để bày cái này, chỉ cái kia, riết rồi Văn ta cũng rành vi tính ra phết, thực hiện các thao tác mở máy start run browse OK chuột trái chuột phải nhanh như xiếc, mẹ phải tròn mắt thán phục và lắc đầu chào thua cậu con trai mới hơn bốn tuổi của mình.

Như học vi tính ở Nhà thiếu nhi từ năm lớp Bốn. Say mê Tin học từ khi ba mua máy về. Lúc đầu, ba định mua máy về là để Như làm quen và chỉ dần cho Như học. Nhưng mới có nửa năm, Như đã phải chỉ lại cho ba nhiều điều. Như trở thành cô thư ký vi tính nhí của ba, lúc nào cũng phải sẵn sàng cho ba kêu: Như mở cái này cho ba, Như chỉnh ngay cái kia cho ba, Như nhập bài này cho ba. Ba khoẻ re, mà Như cũng có điều kiện để nâng cao tay nghề! Rồi Như lại phải làm thầy giáo vi tính cả cho mẹ, cho em Văn…

Hội thi Tin học không chuyên thành phố Đà Nẵng năm 2003, Như đạt giải nhì Toán – Tin, giải nhất Phần mềm sáng tạo.

Rồi Hội thi Tin học không chuyên Toàn quốc lần thứ IX được Trung Ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cùng với Bộ Giáo dục Đào tạo- Bộ Bưu chính Viễn thông – Bộ Tài chính…  long trọng tổ chức tại Đà Nẵng từ  28 tháng 7 đến 31 tháng 7 – 2003, Nguyễn Kim Hoàng Như bé bỏng của ba mẹ một ngày bỗng như vụt lớn lên, rất tự tin, rất chững chạc qua các kỳ thi gay go trước hàng trăm đối thủ của hơn năm mươi đoàn bạn ở khắp các tỉnh thành trong Nam ngoài Bắc. Ba mẹ hồi hộp theo con mỗi ngày thi, hồi hộp dõi theo từng dáng vẻ, từng câu trả lời của con qua màn hình Đài Truyền hình Đà Nẵng truyền trực tiếp buổi thi Phần mềm sáng tạo. Cả bà nội, cả em Văn cũng lên Nhà hát Trưng Vương cổ vũ Như thi. Và cả nhà ta mừng muốn rơi nước mắt khi bé Như bước lên Hội trường nhận giải thưởng: Giải nhất Phần mềm sáng tạo ‘’Phát âm Tiếng Anh Lớp 6’’ – Huy chương Tuổi Trẻ Sáng tạo của Trung Ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo; Giải ba Toán – Tin  toàn quốc – Bằng khen của Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn -và thật vinh dự, giải Phần mềm Sáng tạo gây ấn tượng nhất cuộc thi của Báo Lao Động đã dành riêng cho Như. Kể ra thành thật mà nói, đó là những điều kỳ diệu bất ngờ, đầy may mắn, nhưng cũng xứng đáng với công sức bé Như đã miệt mài hàng tháng trời, ôm bộ máy vi tính quên ăn quên ngủ để tập trung cho kỳ thi lớn. Và cả ba cả mẹ và em Văn nữa luôn bên Như. Và công lao của thầy Phát, thầy Cáp, thầy Nam, các thầy cô Nhà Thiếu nhi, Trung tâm Tin học Đà Nẵng, Sở Giáo dục Đào tạo Đà Nẵng đã hết lòng dạy dỗ hướng dẫn Như bao tháng ngày liền. Như liên tục được các báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Tiền Phong,Lao Động, Giáo dục và Thời đại, Thiếu Niên… đưa tin, viết bài, đăng ảnh, được tin về cuộc thi trên chương trình Thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam VTV1 hình ảnh lễ nhận giải, rồi được Đài Truyền hình Đà Nẵng DVTV bình chọn là “Thí sinh tự tin nhất“ trong phim phóng sự  cuộc thi. Đài PTTH Đà Nẵng DRT còn ưu ái quay riêng cho Như bộ phim “Cô kỹ sư Tin học tương lai“ phát liên tục mấy buổi liền. Những niềm vui dồn dập đến, nhưng vẫn không làm thay đổi được tính rụt rè cố hữu của Như. Xem bài phóng sự  trên DVTV, Như cười: “Con sợ bắt chết chứ tự tin gì đâu, rứa mà họ bảo con tự tin nhất!“ “Thế sao con trình bày chững nhạc lưu loát vậy?“ – “Con nghĩ tới ba mẹ, tới thầy cô nên cố bình tĩnh hết sức”.

Con ngước lên nhìn về phía ánh sáng… Con ngước lên nhìn về phía bầu trời… Con đang bước vào một tương lai rộng mở với những hòan cảnh và điều kiện hơn hẳn thời ba mẹ, nhưng trước hết con phải là đứa con ngoan hiền, là người chị yêu thương của cu Văn. Đó mới thực sự là những phần thưởng ba mong mỏi nhất cho cuộc đời con gái cưng của ba mẹ…

…và cu Văn

Mang thai Cu Văn sáu tháng, ba đưa mẹ đi siêu âm. Bác sĩ thông báo: con gái! Cả nhà ỉu xìu. Ba bảo:

– Thêm một Như em nữa càng hay, chả sao.

Đến ngày sinh, siêu âm lại. Kết quả: Con trai! Cả nhà vừa mừng, vừa lo. 17h ngày 27/6/1999, ba bế Cu Văn đỏ hỏn trên tay các bác sĩ ở cửa phòng sinh: quả thật là một thằng Cu!

Mọi người chúc mừng. Ba khoe:

– Trong ba tháng, phải đổi từ con gái sang con trai là một công việc vất vả vô cùng. Phải là nhà khoa học đầy tài năng mới làm được!

Bà nội từ quê nghe tin lật đật ra ngay. Đến bệnh viện, việc đầu tiên là bà giở ra xem cái chim của thằng Cu có thật không. Cái chim thì bé xíu, cái miệng cũng bé xíu mà gào khóc ỏi trời, điếc tai cả dãy phòng hộ sản bệnh viện quận Nhất.

Một tuổi, ba mẹ đưa chị Như và Cu Văn về quê. Ở nhà bà nội, cu Văn khoái nhất lũ mèo con mới sinh. Mèo mẹ chăm lũ con ở xó nhà, suốt ngày gầm gừ vì cu ta cứ bò vào tranh bắt lũ mèo con. Mèo mẹ thấy cu con chắc cũng dễ thương như lũ con nên không nỡ cào, chỉ meo meo phản đối.

Còn cu ta lấm lem bụi đất, mạng nhện, loay hoay chui ra chui vào mãi vẫn không bắt được chú mèo con nào, gào lên át cả tiếng mèo mẹ mèo con.

Lên hai, lại được về quê. Vừa về đến nhà nội, Cu Văn đã lon ton xông vào chỗ xó nhà có lũ mèo con năm ngoái. Quái lạ, cái ổ trống trơn, chẳng có một chú mèo nào, cả mẹ lẫn con. Chui vào tìm kiếm một hồi, chui ra Cu Văn òa khóc: Meo meo đâu, meo meo đâu?

Lũ mèo con đi đâu?

Chúng chẳng đi đâu cả. Chúng chỉ… lớn lên. Một năm, lũ mèo con đã thành mèo lớn, theo mẹ đi bắt chuột cả rồi. Vậy mà Cu Văn vẫn còn khóc nhè đòi mèo con!

Mẹ đón Cu Văn ở nhà trẻ Tiên Sa về. Trời đổ mưa. Vừa được mẹ bế lên xe Cu Văn đã hét toáng lên:

– Trời mưa rồi. Mẹ ơi, đắp mền cho con mau lên!

Hóa ra, ở nhà khi ngủ, Cu Văn vẫn luôn được đắp chăn cẩn thận, dù thường xuyên tè đêm ướt cả mền gối. Trời mưa, phủ lên người áo mưa, nó cũng hơi giống cái sự đắp mền lên người khi ngủ. Cu ta đòi mau mau đắp mền lúc này là phải quá rồi còn gì.

Mẹ phủ áo mưa kín bít, bịt bùng cả người. Cu ngồi im thin thít trên xe, rất ngoan. Ắt hẳn đã yên tâm lắm sau khi được đắp mền để đi trong mưa.

Cuối tuần, chiều thứ sáu, cô mẫu giáo phát cho Cu Văn cái phiếu có hình bông hồng rất đẹp. Cô tập  cho Cu:

– Khoanh tay lại, cảm ơn cô đi con.

Cu Văn khoanh tay, lễ phép:

– Con cảm ơn cô.

Về nhà, ba đang nằm đọc sách. Cu Văn loay hoay mở cặp ra tìm, rồi chạy ù đến bên ba, rối rít khoe:

– Ba ơi, ba! Cái cảm ơn cô nè ba.

Thì ra là cái phiếu Bé ngoan. Lần đầu tiên cu ta được phiếu Bé ngoan.

Lên ba, cả nhà đưa Cu Văn đi chụp ảnh sinh nhật. Một tuần sau, lấy ảnh về. Cu Văn giành xem, chỉ từng người, hớn hở:

– Bà nè. Mẹ nè. Chị Như nè.

Đến ảnh Cu Văn, Cu ta… bí, chỉ mãi vẫn không biết đó là ai! Bèn quả quyết:

– Cái thằng Cu.

Buồn cười quá, mẹ dắt Cu Văn vào soi gương , bảo: “Thằng Cu Văn đó kìa, biết chưa!”. Nhìn mình trong gương một lúc, Cu chạy ra, chỉ vào ảnh mình:

– Cái thằng Cu Văn!

Văn đòi chở đi chơi, gào khóc inh ỏi. Thấy ba giả lơ không nói gì, Văn bèn… chui xuống gầm giường khóc tiếp. Ba bảo:

– Thôi nín đi rồi ba cho đi .

Nghe ba nói thế, Văn càng gào to hơn, tức tưởi:

– Con lỡ khóc rồi! Con muốn dừng (nín) lại quá mà không dừng được!

Nói xong, nức nở khóc tiếp.

Văn có tật xấu gặm cắn móng tay. Ngồi một mình là… đưa tay lên gặm chơi cho đỡ buồn, đến nỗi đầu các ngón tay nham nhở lỗ chỗ hết, có khi rướm máu. Bị la hoài Văn vẫn chưa bỏ được thói quen này. Một hôm ngồi xem tivi, Văn đưa tay lên gặm thì bị mẹ la. Văn ta vội vàng bỏ tay khỏi miệng, chối ngay:

– Con đâu có gặm móng tay. Con… gãi răng chứ bộ.

Hết năm mẫu giáo lớn, nghỉ hè, cả nhà theo đoàn cơ quan ba đi tham quan cửa khẩu Lao Bảo. Nghỉ ở khách sạn, Văn ta khoái quá, suốt ngày đòi đi thang máy và chui vào bồn tắm nằm soài mở nước tung tóe. Sáng ra, cả nhà còn đang ngủ thì Văn đã lồm cồm bò dậy, ra mở cửa sổ ngắm trời ngắm đất. Buổi sớm, mây và sương mù mờ mịt che phủ bao bọc dày đặc dãy núi phía cửa khẩu. Văn lật đật chạy vào kéo ba dậy:

– Ba ơi dậy đi. Dậy đi xem mây!

Ba ngái ngủ làu bàu:

– Con ngủ nữa đi. Chưa có xe đâu, còn sớm lắm.

            Văn nằn nì:

– Thì mình đi bộ đi ba. Năn nỉ ba đó mà. Con thích xem mây quá.

            Ba kêu khổ thầm : Ba lỡ dại thỉnh thỏang có làm thơ. Thằng cu con này ngó bộ còn có vẻ thi sĩ hơn cả ba nó rồi!

Ngày Quốc tế phụ nữ 8-3. Đường phố rực rỡ các nơi bán hoa và thiệp mừng. Đón Văn ở cổng trường, ba hỏi:

– Văn có mua hoa tặng mẹ và chị Như không đây? Có biết hôm nay là ngày gì không?

             Văn lơ ngơ nhìn ngó chỗ bán hoa, chạy đến chăm chú đọc các tấm thiệp gắn trên các lẵng hoa, rồi hớn hở trở lại trả lời ba chắc nịch:

– Dạ, con biết rồi. Hôm nay là ngày lễ tám trừ ba bằng năm đó ba.

Văn đang học các phép toán cộng trừ ở lớp Một Nhà thiếu nhi và rất hăng hái siêng năng thực hành mà.

            Học bài và nhất là khi làm toán, chỗ nào khó là Văn ta chạy bay lên phòng chị Như đòi chị Như chỉ. Vẽ thì chị vẽ sẵn rồi ngồi cặm cụi tô màu lem luốc hết cả tranh.Một hôm chị Như học bài, Văn lẳng lặng ngồi lấy sách vở chị ra xem, không đòi chị giúp gì. Xem một lượt hết sách vở chị Như bày ra đó xong, Văn hớt ha hớt hải chạy xuống tầng dưới kêu ba, mếu máo:

– Ba ơi ba! Lớp chị Như khó lắm ba ơi! Con đọc vở chị Như không hiểu gì hết ba. Thôi con học lớp Một thôi, không học lên lớp chị Như đâu. Khó lắm!

Học lớp Một mà kêu chương trình lớp Tám khó quá, để ba viết thư cho Bộ Giáo dục – Đào tạo xem lại chương trình vậy. Nhưng thương thằng cu con biết lo xa quá!

            Cuối năm học, Văn khoe với ba:

– Lớp con một học sinh khá, bốn mươi học sinh giỏi, không có học sinh nào dốt hết.

            Văn tự kiểm điểm, rất nghiêm túc:

            – Văn được học sinh giỏi. Văn học cũng thông minh, đúng không ba? Chỉ tại Văn ham chơi vi tính  với thích đá bóng quá nên còn chữ xấu với có điểm kém thôi…

Văn khuyến học chị Như:

– Chị Như ơi, ở trường Văn có thầy dạy vẽ vi tính cho lớp Hai hiền lắm. Bạn nào vẽ không được thầy vẽ dùm chứ không có đánh. Chị Như đi học đi chị Như. Chị Như học lớp Tám giỏi rồi, chắc học lớp Hai không khó đâu, lớp Hai mấy (ý là lớp 2/1, 2/2, 2/3…) chị Như cũng học được thôi. Chị Như đi học đi chị Như.

            Mỗi khi nghịch phá bị ba quát và doạ cho ăn roi là Văn rất sợ. Nhưng không chạy trốn, mà lại chạy đến ôm ba cứng ngắc, mặt tái xanh miệng méo xệch, mếu máo năn nỉ:

            – Con xin lỗi ba. Ba cười lên đi. Mặt ba trông ghê quá. Con sợ nhiều rồi!

            Tối hai chị em cứ rục rịch nói chuyện đùa giỡn không chịu ngủ. Ba nẹt khuya rồi, ngủ đi. Văn yêu sách:

            – Ba cười lên đi con mới ngủ.

Một bữa Văn ta đã lên giường, tự nhiên phóng xuống chạy ào vào phòng ba, leo lên cửa sổ nhìn ra con tàu đang xình xịch chạy ngoài ga, bảo:

– Con tưởng ba cười. Thì ra là… cái tàu cười!

 

XÓM NHỎ TRONG VÒNG TAY SÔNG TRẦU

Nhắm mắt lại, tôi vẫn có thể hình dung ra xóm nhỏ ấy.

Một ngày cuối thu năm 1980, mẹ đưa chân tiễn tôi rời quê lên đường vào đại học. Đến đầu xóm, mẹ dừng chân, ngóng theo bóng con. Tôi vừa bước đi, vừa ngoái đầu nhìn lại cái hình dáng gầy gò nhỏ bé của mẹ đang nhoà nhạt dần vào những hàng cây xanh um của xóm nhỏ đang mỗi lúc một xa rời tôi…

Từ bao giờ xóm nhỏ đã có cái tên thật bình yên: Đông An.

Bắt nguồn từ Núi Chúa, Hòn Rơm, Bảng Lầu xa tít tắp phía mặt trời lặn, con sông Trầu của xã Tam Mỹ nhỏ xinh như một dòng thơ chảy đến đồng Ông Già bỗng phân ra hai nhánh, làm nên một vòng tay ôm với xuống đập Giang Trai đêm ngày ầm ào đổ nước. Xóm nhỏ Đông An của tôi nằm vừa đủ gọn trong vòng tay ôm của sông ấy,bốn bên đồng Bộng, đồng Cây Da, đồng Mù U, đồng Phú Quý quanh năm biển lúa mướt xanh rì rào trong gió, xóm nổi lên như một cù lao sẫm màu cây cối nhà cửa nồng nàn, êm đềm. Mười chín nóc nhà san sát bên nhau, hầu như đều là anh em chú bác ruột thịt của nhau những họ Nguyễn, họ Trần, họ Đỗ…, trừ nhà cô Hưng và nhà ông Anh đầu và cuối xóm lại tách biệt hẳn ra một đỗi ruộng, cứ như hai vọng gác nhỏ cho cả xóm yên lành, hoặc như hai trạm chào mừng khách xa ghé xóm. Đi học về tối, hay đêm khuya rủ nhau thăm câu soi cá, nhìn những ngọn đèn hai ngôi nhà đầu cuối xóm vẫn còn đỏ lửa là lũ trẻ chúng tôi yên tâm dạn dĩ hẳn lên, tan biến mọi nỗi sợ ma lẫn bóng đêm.

Xóm nhỏ đẹp, nên thơ. Nhưng mà nghèo, nghèo lắm. Những năm sau chiến tranh rồi gặp liên tiếp mấy cái hạn, ruộng vườn xơ xác, giếng nước khô kiệt, cả xóm đêm ngày thức trắng đào sông vét từng gàu nước tưới tát cho lúa cho khoai, thế mà vẫn đói, đói triền miên suốt năm, đói cả xóm. Ngày mùa, ngày giỗ tết, lũ trẻ mới được bát cơm trắng, miếng thịt mỡ, còn thì khoai sắn vĩnh cửu. Nhiều bạn lứa tôi phải bỏ học, lên rừng chặt củi, ra đồng mót lúa lượm khoai chăn trâu cắt cỏ vất vả lam lũ như người lớn, thường xuyên ốm đói gầy teo tóp. Cả xóm, lên cấp III chỉ còn tôi với Kỳ là còn gắng gượng lội bộ mỗi ngày bảy tám cây số đến trường, bữa đói bữa no, thiếu thốn đủ bề.

Nghèo, nhưng bà con trong xóm đối với nhau thật như bát nước đầy. Lúc gieo neo, túng bấn, tránh sao khỏi điều nọ tiếng kia, có khi còn xô xát nữa, nhưng khii một nhà có việc, là cả xóm xúm tay vào, chia sẻ, giúp đỡ nhau qua cơn hoạn nạn, xem như chuyện của chính nhà mình. Ngày cha tôi lâm bạo bệnh rồi qua đời, ngày anh em tôi đều xa nhà học đại học rồi công tác biền biệt, để lại mỗi mẹ già ở quê, nếu không có sự chia sẻ nâng đỡ đó của bà con trong xóm, có lẽ chúng tôi đã không đủ sức vượt qua một chặng đời đầy trắc trở, nhất là đận mẹ tôi đau ốm tưởng không qua khỏi. Xóm nhỏ mà tình sâu nghĩa nặng mênh mang.

Mùa mưa, Đông An biến thành xóm Mồ Côi. Chỉ cần một cơn mưa lớn là bốn bề đồng ruộng trắng xoá nước. Gặp lũ quét, những cây cầu tre lắt lẻo mong manh vẫn nối liền xóm với thế giới bên ngoài bị gãy sụp hoặc chìm sâu dưới nước, xóm nhỏ hoàn toàn bị cô lập. Đứng trên cầu Hào nhìn xuống, Đông An cô độc buồn hiu như một ốc đảo trơ trọi giữa biển nước. Chỉ có lũ trẻ chúng tôi là mừng rơn, suốt ngày chạy ra đường nghịch nước, í ới rủ nhau đi đặt lờ cắm câu giăng lưới bắt những con gáy con diếc con rô béo nung núc bụng đầy trứng, nướng lên mỡ chảy tắt bếp thơm điếc mũi trong những ngày lụt đầu mùa.

Sau mỗi trận lụt, đường trong xóm nhoe nhoét bùn, lội ngập đến đầu gối, lỗ chỗ trồi sụt ổ gà ổ voi, hoạ hoằn ai có việc cần kíp đến xóm cũng lắc đầu ngao ngán. Mùa lụt nọ nước cuốn trôi cầu Ngân, đi học tôi và Kỳ phải vòng quanh qua Giang Trai mất thêm cả cánh đồng lội bộ, cực hết xiết.

Người các nơi đã  có câu hát rằng:

Đừng ham gạo trắng trên sàn

Gả con về xóm Đông An bùn lầy

Không hiểu sao, tôi vẫn thường nhớ về những bầy chim dồng dộc. Mỗi mùa hè, chim dồng dộc bay từng đàn sa số về rối rít thi nhau làm tổ vắt vẻo lúc lỉu đầy các ngọn tre, ngọn sộp, ngọn mù u, cãi nhau chí choé với lũ chim sẻ, chào mào,hối hả sà vào những sân thóc, những đụn rơm mổ tha về làm tổ. Không gian xóm nhỏ inh ỏi dày đặc tiếng chim ríu ran. Ngọn sộp già cỗi ngự tại miễu xóm là nơi bầy chim tụ về đông nhất. Những năm sau này, tự nhiên bầy chim về thưa thớt rồi gần như vắng bóng. Không biết bầy chim dồng dộc đã đi đâu về đâu rồi.

Đấy, xóm nhỏ Đông An của tôi hai mươi ba năm về trước…

Bây giờ, có dịp về Đông An, chắc rất khó để cảm nhận được một Đông An như những điều tôi đã kể trên. Bởi lẽ, Đông An hôm nay đã hoàn toàn thay đổi, một sự đổi thay như sự lột xác mà đến ngay cả người trong cuộc – trong xóm chứng kiến mỗi ngày cũng phải ngạc nhiên khi nhìn lại xóm mình. Người ở xa trở về nhìn sự đổi thay của xóm nhỏ mừng vui muốn trào nước mắt.

Đông An không bao giờ còn là xóm Mồ Côi nữa! Những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi đẹp đẽ khang trang bề thế của ba mươi hộ mới cũ nối tiếp nhau chạy dọc theo con đường bê tông như cột xương sống kiên cố giữa lòng xóm uốn lượn một cách ngoạn mục từ cầu Ngân lên đến cầu Hào cầu Quang rực rỡ ánh điện ban đêm và ồn ã tiếng nói cười của mọi người ban ngày là diện mạo khái quát của xóm nhỏ Đông An trong sự đổi thay đó. Con đường bê tông và những ngôi nhà mới đã nối cho Đông An liền nhịp với Tam Hiệp phía cuối xóm, với các xóm trên thôn Tư phía đầu xóm, trên đường lúc nào cũng giòn giã tiếng xe máy, xe công nông lên xuống, đến tận khuya. Người đi đường nói cười râm ran. Ngày trước ban đêm xóm nhỏ chìm trong tiếng ếch nhái rền rĩ, tiếng cuốc kêu thảng thốt, tiếng cú ăn đêm rờn rợn. Bây giờ rộn rã tiếng tivi, tiếng nhạc catset, tiếng trẻ nô đùa…

Đông An có điện  từ năm 1994. Đó thực sự là một sự kiện trọng đại mở đầu cho mọi đổi thay nơi xóm nhỏ heo hút này. Anh Tám Nhung kể:

– Ngày đó điện mới kéo về đến ấp Năm thôn Ba. Nhưng bà con trong xóm ai cũng háo hức, bàn nhau quyết tâm đóng góp mua dây mua đồng hồ, chặt tre lấy gỗ làm trụ cùng nhau ”thỉnh”  điện về. Đêm đầu tiên đèn điện sáng trưng cả xóm là một đêm không thể nào quên của Đông An mình.

Tôi bỗng nhớ lại cảm giác của mình trong dịp về thăm quê năm ấy. Đêm, ngồi trong nhà hàn huyên với mấy anh em trong xóm bên ly rượu gạo cay nồng, nhìn ngắm ánh đèn điện sáng trưng trên bàn thờ, sáng rỡ ràng nhà trên nhà dưới, sáng bên nhà hàng xóm, sáng cả ngoài đường mà cứ ngỡ mình đang nằm mơ, đang lang thang trong một cõi thần thoại cổ tích kỳ diệu nào!

Có điện rồi, cả xóm lại họp bàn tính chuyện làm cầu, làm đường. Nói không ngoa, Đông An là xóm đầu tiên của cả xã Tam Mỹ, và có thể của cả huyện nữa, quyết chí làm được cầu bê tông, rồi đường bê tông trong xóm, kiên cố hẳn hoi, bằng sự đóng góp của bà con và sự hỗ trợ của chính quyền. Anh Tám kể:

– Năm 92, xóm mình đã làm cầu Ngân thông xuống Khương Thọ Tam Hiệp, nhưng là cầu gỗ, không được chắc chắn lắm. Năm 94, xóm quyết tâm thay bằng cầu bê tông. Huyện hỗ trợ cho 6 triệu, bà con trong xóm đóng góp 24 triệu, không kể công xá, cát sạn ai cũng tự nguyện góp thêm vào. Làm liền tù tì một tháng thì xong cầu. Còn đường, có vất vả hơn, phải nói cực hơn nhiều. Một ngàn hai trăm mét đường, huyện giúp 80 triệu, vận động mỗi hộ trong xóm đóng góp từ ba trăm đến năm trăm ngàn, lại góp thêm mỗi hộ 20 đến 40 ngày công,làm đến chín tháng, từ tháng 3 đến tháng chạp (2001) mới xong. Thời gian làm lại gặp phải ba vụ lụt tháng chín tháng mười, hai vụ gặt tháng ba tháng tám bắt buộc phải tạm dừng. Mà làm, kể ra cũng kỳ công lắm. Có đầy đủ các ban: Ban kỹ thuật, Ban theo dõi thi công, Ban huy động vốn. Rồi thôn, tổ phụ nữ, tổ đoàn kết, người cao tuổi cũng nhiệt tình động viên, hỗ trợ, bà con các xóm trên cũng hăng hái xuống tham gia công sức nhiều ngày. Cực, nhưng rất vui, nhà nào cũng tham gia, vừa làm vừa hát hò, trò chuyện như đi hội.

Cực chứ. Xóm có 30 hộ, thì đã đến 8 hộ già cả neo đơn, 40 lao động trong tổng số 120 khẩu thì phần lớn đã đi làm ăn xa. Nhiều nhà chỉ mới bước ra khỏi đoạn chật vật, chưa được dư dả gì. Nhưng đồng lòng, quyết chí thì sẽ làm được hết! Đường đổ bê tông đến phần ruộng ai, chủ ruộng lập tức… hiến ruộng. Trên một ngàn mét vuông ruộng đã được hóa thân thành đường. Để  đường được thẳng, bớt tốn kém, bà Tâm, chị Ba Hiệu đã hiến luôn một phần vườn ngàn mét vuông cho con đường chạy ngay vào vườn nhà mình. Anh Tám Nhung, chú Huệ, bác Sáu Điểu, chú Lan, chú Bốn Thẩn, chú Út Trung, Út Quý, Ba Lan, Ba Nhạc, Năm Sơn… trong các Ban ngày đêm lăn lộn, theo dõi, vận động, bám theo từng mét tới của con đường. Nhà nhà tham gia làm đường. Người ở xa gửi về lời động viên, ít tiền ủng hộ. Huyện, xã, thôn lui tới thăm hỏi. Con đường bê tông Đông An là con đường của sự quyết tâm, sự đoàn kết và của rất nhiều những tấm lòng! Ngày hoàn thành, hơn bốn trăm khách khắp nơi đã về chia vui với Đông An.

Đông An hôm nay đã có cái dáng dấp của một thị tứ nhỏ rộn ràng.

Làm nên sự đổi thay này là công sức, mồ hôi của cả xóm, của nhiều nguồn nhiều cấp giúp đỡ hỗ trợ. Nhưng trong những người đi tiên phong, có lẽ phải nhắc đến anh Tám Nhung đầu tiên. Em trai của hai liệt sĩ, thoát ly từ trưóc 1975, hiện anh đang công tác tại Hội Nông dân huyện, có điều kiện nắm bắt thông tin, có các mối quan hệ thuận lợi để vận động, nhưng đáng nể nhất là lòng nhiệt tình vì việc xóm việc làng ở anh. Kéo điện, làm cầu, làm đường, anh là người đầu tiên đề xướng, vận động, tổ chức thực hiện. Anh tổ chức các buổi hội họp, các đợt tập huấn khuyến nông ngay tại chính nhà mình, đảm nhiệm một lúc cả vai chủ trì lẫn chủ chi. Tâm sự với tôi, anh cho biết giờ anh đang nghĩ đến việc xây dựng một sân bóng chuyền, lập một Quỹ khuyến học, tổ chức một tủ sách cho xóm… Đáng quý biết bao những suy nghĩ như vậy, những suy nghĩ sẽ còn tiếp tục làm nên những đổi thay nên vóc nên dáng mỗi ngày một đẹp hơn vui hơn cho xóm nhỏ Đông An.

Mà bây giờ cũng đã có biết bao niềm vui. Anh Tám cho biết, trong xóm chưa giàu, nhưng cũng không còn hộ đói nữa. Nhiều gia đình con cái học hành thành đạt. Cái xóm nhỏ như lòng bàn tay chưa đến hai mươi nóc nhà nhưng từ xóm nhỏ ra đi đã có con em trưởng thành, là nhà thơ nhà báo Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, có thạc sĩ kỹ sư, trên mươi cử nhân, hai ba chục cậu tú cô tú… Những niềm vui, những hy vọng đã lấp lánh đã tỏa sáng từ xóm nhỏ bình yên.

Mỗi lần anh em tôi về, thế nào bác Sáu, anh Tám Nhung, chú Lan, chú Út Trung, chú Bốn Thẩn… cũng ghé vào nhà chơi, ngậm ngùi:

– Tiếc là cha con mất sớm quá, không còn sống để nhìn được con cái trưởng thành, xóm làng mình thay đổi như hôm nay.

Mẹ tôi một thoáng trầm ngâm. Bác Sáu bị câm điếc bẩm sinh, cũng ngồi gật gù, vẻ đã hiểu câu chuyện.

Câu chuyện về xóm nhỏ Đông An nằm vừa đủ gọn trong vòng tay ôm hai nhánh con sông Trầu yêu thương của tôi.

TIẾNG GỌI TỪ HƯƠNG SẮC NÚI THÀNH

Dường như có một tiếng gọi vẫn vang vọng từ đâu đó gần như thường trực mỗi khi tôi bước đi trên những nẻo đường quê hương Núi Thành. Tiếng gọi thầm lặng mà rõ ràng. Vô hình mà gần gũi. Tiếng gọi sâu lắng và đằm thắm.

Tiếng gọi cơ hồ được cất lên từ đất. Cất lên từ đất rồi nhẹ nhàng bay lên mông lung lan tỏa khắp các khoảng không, lan tỏa rồi lại tụ quyện để rồi lại nhẹ nhàng đậu rất khẽ xuống vào bờ vai tâm tưởng con người, và lại nối tiếp một bước lan tỏa để thấm rất sâu rất đượm vào những ngõ ngách sâu kín nhất của tâm hồn.

Đã nhiều lần tôi cố công tìm kiếm định hình tiếng gọi kia. Một cố gắng hầu như vô ích và bất lực. Là tiếng gọi thiêng liêng con người vẫn thường lắng nghe được ở mảnh đất chôn nhau cắt rốn chăng? Có thể. Là tiếng gọi hiển nhiên vẫn được hình thành từ bề sâu đa chiều của sức cuốn hút văn hóa và tiềm năng nhiều mặt của một vùng đất chăng? Có thể. Là tiếng gọi bí ẩn huyền hoặc vẫn làm nên một sự nối kết mạnh mẽ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai để con người được tồn tại và phát triển chăng? Có thể. Hay đơn giản, đó chỉ là tiếng gọi vẫn thường toát lên từ hấp lực tự nhiên của cảnh sắc, của con người ở một vùng quê giàu truyền thống yêu thương đùm bọc nhau và giàu cả lòng hiếu khách?

Có thể, mà lại không hẳn hoàn toàn là như vậy.

Bởi, tiếng gọi ở Núi Thành khác biệt lắm. Một tiếng gọi chỉ có thể nghe thấy được khi người ta toàn tâm toàn ý bước đi trên mảnh đất Núi Thành. Đi và nhìn. Đi và lắng nghe. Đi và suy nghĩ. Đi và cảm nhận. Tiếng gọi không thể đến được với người thờ ơ vô cảm bước đi một cách hững hờ trên vùng đất đầy nắng đầy gió đầy sóng biển này.

Đi về phía biển, người ta cảm thấy tiếng gọi được bắt đầu từ gió. Gió biển Núi Thành là loại gió biển nguyên chất, thổi tự cổ xưa thổi từ ngàn khơi của triền miên ba mươi lăm kilômét bãi bờ nồng mặn kéo từ giáp giới Tam Phú Tam Kỳ đến Bãi Rạng Vạn Tường. Mùa hè nắng gắt, sau một ngày làm việc, sẫm chiều cùng làm một cuộc tụ họp ở Bãi Rạng, ngồi bên những cốc bia sủi bọt vàng óng, phóng tầm mắt thoải mái nhìn ra lô nhô các đảo lớn đảo nhỏ Hòn Chim Hòn Hang Hòn Dứa và xa xa nữa Vũng Quít vẫn được gọi nhầm là Dung Quất ẩn hiện trong nhấp nhô tàu thuyền và sóng biếc, sẽ có thể hiểu được rành rẽ đặc trưng gió biển Núi Thành. Lẫn trong cái vị mặn mòi rất chung muôn thuở của biển, ở đây có cái hương vị riêng thơm nồng, thơm ngầy ngật, thơm ngan ngát, thơm sát sườn của con cá chuồn gành nướng. Loại cá chuồn gành hình như chỉ có ở Bãi Rạng do thiên nhiên ưu đãi cho con nước vùng này thế nào đó mà chúng chỉ chọn hiếm hoi nơi này trong số mấy ngàn cây số biển nước Việt để tụ họp về làm mùa sinh sản cùng lúc với những làn gió nồm trữ tình tháng ba tháng tư, và hình như chỉ được dùng để nướng, mà chỉ có nướng con chuồn gành tươi rói mới tạo lập nổi mùi thơm dễ gây sự với các loại bia như vậy. Song hành với chuồn gành nướng, cứ như một dàn hợp xướng tri kỷ kẻ tung người hứng, là mùi vị của các loại ốc, sò điệp luộc, mú hanh hấp, mực nửa nắng… Có nhà thơ đã kết luận rằng mực Bãi Rạng là tinh hoa của các loài mực bể Đông. Kể cũng không phải ngoa ngôn, nếu xét đến cái độ ngọt đậm, ngọt giòn, ngọt tươi, ngọt nhức đầu lưỡi của miếng mực luộc Bãi Rạng, cứ như vừa được chưng cất đâu từ tám vạn dặm dưới đáy Thái Bình Dương được các thuyền thúng vớt thẳng về đây bày lên các đĩa. Ngồi ở Bãi Rạng, uống không sợ say, tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu, lỡ có say cũng không sợ phải ân hận, mọi mỏi mệt sau một ngày làm việc dường nghe tan biến hết. Mọi tâm trạng cứ thênh thang ra trong sự hào phóng rộng rãi của thiên nhiên. Tiếng nói cười hồn nhiên nổ như pháo trước ngày cấm pháo, mọi nét mặt giãn ra, tươi ra. Ở  Bãi Rạng không có chỗ cho ưu phiền stress, nhà thơ cứ làm thơ, nhà chính trị cứ hoạch định quốc kế dân sinh, nhà kinh tế cứ khảo sát một vùng kinh tế mở, nhà đầu tư cứ lên phương án làm ăn lớn… trong sự cởi mở, thân thiện, trong tinh thần mã đáo thành công. Tôi rành điều này, vì đã không ít lần cùng nhiều bạn bè ngồi lúy túy càn khôn chiều Bãi Rạng với các anh Khương, anh Quyện, anh Hòa, anh Thi và các anh lãnh đạo Núi Thành mỗi dịp về đây làm việc. Cái không khí cởi mở, chân thành giữa người với người nơi đây đã là bí quyết đầu tiên của mọi thắng lợi rồi. Nên dễ hiểu vì sao, Núi Thành sâu lắng trong lòng văn nghệ sĩ cả nước đến thế.

Rời Bãi Rạng ngược chiều gió qua phà Tam Quang đến đảo dừa Tam Hải là đến Bàn Than. Các nhà kinh tế quả có con mắt xanh tinh đời khi chọn Tam Hải làm khu du lịch sinh thái trong dự án kinh tế mở Chu Lai. Chưa cần đến hàng chục hàng trăm triệu USD đổ vào, bảo thân đảo dừa Tam Hải đã là một vùng sinh thái vàng ngọc. Nằm sát bên cạnh Cảng Kỳ Hà tấp nập tàu thuyền vào ra, hối hả các hoạt động công nghiệp, Tam Hải vẫn giữ nguyên vẹn được cho mình một vùng trời đất yên tịnh mang đậm màu sắc truyền thống xứ biển Trung bộ. Những hàng dừa nối tiếp nhau râm mát. Cát mịn màng ẩm ướt ôm vừa đủ gọn bàn chân trên các con đường nhỏ. Từ cát từ dừa từ gió thoảng đưa lại vị mặn của biển, mùi thơm đậm của mắm, của cá lưu cữu làm nên một hương sắc rất riêng cho Tam Hải. Và Tam Hải lại có Bàn Than như của trời cho, của để dành. Bàn Than với các mỏm đá Hòn Đụn Hòn Che kỳ ảo dầm mình quanh năm trong biển, mát lạnh kỳ thú trong biển, với Bãi Bấc Bãi Nồm ôm giữ trong mình bao nhiêu câu chuyện tình rất đẹp rất thơ của bao nhiêu thế hệ trai gái đã đến đây thủ thỉ. Đến hôm nay các đôi lứa yêu nhau vẫn kể cho nhau nghe một câu chuyện tình Trống Mái Bàn Than rất có hậu, rằng một anh dân chài vạm vỡ đẹp trai đã cứu sống một cô nữ sinh trung học xinh đẹp thoát khỏi cái chết hiển nhiên khi bị trượt rơi xuống vực Tử Thần. Cảm vì ơn đức, và nhất là vì vẻ đẹp nghệ sĩ ăn sóng nói gió của chàng, cô nữ sinh đã tự nguyện ở lại cùng chàng bên xứ biển suốt kiếp hồng nhan. Đồn rằng, bây giờ họ vẫn còn sống bên nhau rất hạnh phúc ở đó, con cháu đề huề, những nhân vật đã bước ra từ một truyền thuyết tình yêu có thực. Để chiều chiều, Trai gái lớn lên họ lại nối theo nhau – Họ lại nhắp vị ngọt ngào thuở trước như nữ thi sĩ Onga Bécgôn đã viết, với Bàn Than.

Phía Bắc Tam Hải có một lối đi vượt qua vũng biển đến đất Tam Hòa. Lối đi của biển. Tam Hòa với những vũng hàu tự nhiên xuất hiện vào độ tháng ba tháng tư hằng năm, ngư dân cứ tự do đem thúng đem rổ vớt xúc tặng vật ngon tươi hằng hà của biển. Từ Tam Hòa có thể lên Tam Anh ghé chân thưởng thức món Mì Quảng Cây Trâm nổi tiếng khắp một miền từ thời Chín Năm, món mì Quảng được làm bằng gạo quê gạo Ba Trăng, thứ gạo đẫm mồ hôi dằng dặc ba tuần trăng liền của người dân quê, có sắc đỏ làm nên sợi mì vàng nghệ cái độ cứng dai vừa phải, tô mì rải vài con tôm đỏ rực điểm xuyết giữa mớ rau sống nhấp nhổm, dịp may mắn đúng tuần trăng lại có thêm con cua bấy mềm thau chiễm chệ ngự ở giữa, đủ sức để cảm hóa được bất kỳ vị thực khách khó tính nào. Tiếc một điều, khi cuộc sống trở nên bề bộn với đủ thứ nhu cầu như bây giờ, cái hương vị độc đáo kia của tô mì Cây Trâm hình như đã phai nhạt đi nhiều, nghe đâu cả địa điểm quán cũ cũng không còn ở chợ Kỳ Chánh nữa, mà đã được dời ra đâu tận mãi Bầu Bầu. Ôi vật đổi sao dời ứng nghiệm ngay cả đến tô mì Quảng thật thà chân quê!

Tam Xuân, điểm giới phía bắc Núi Thành phân cách với Tam Kỳ bởi một dòng sông, quê hương của nguyên Chủ tịch nước Võ Chí Công, ngan ngát xanh  những đồng lúa, những vườn cau vừa êm đềm thơ mộng vừa đem lại những hiệu quả kinh tế thiết thực, lại có thêm xóm Ông Nghè Phú Nam hiếu học tô điểm như một nét son trên bức tranh quê phẳng lặng thanh bình. Tam Hiệp, lẫn vào thị trấn vào kinh tế mở, vẫn giữ cho mình khu vườn nhà cụ Nguyễn Kế nơi một thời nhân dân chở che đùm bọc các đồng chí Tố Hữu, Chu Huy Mân ra vào hoạt động từ những ngày đầu có Đảng.

Và Tam Giang, đất của muối,của những đầm tôm, của cầu Ông Thuật đã đi vào chuyện kể dân gian. Và Tam Nghĩa, với căn cứ quân sự Chu Lai một thời ghê gớm bậc nhất Đông Dương, với Núi Thành trận đầu thắng Mỹ, với Chùa Hang và những câu chuyện huyền thoại thực hư mờ ảo.

Từ Tam Giang Tam Hiệp Tam Nghĩa ngược lên phía núi về phía  Tam Trà Tam Sơn Tam Thạnh, dường như tiếng gọi hương sắc Núi Thành được mênh mang cất lên từ đất. Đất mở lòng ra với những con đường nhựa, đường bê tông còn nồng mùi xi măng quanh co uốn lượn xuyên qua những đồi những núi điệp trùng màu cây lá xanh non mượt mà cho từng đàn trâu đàn bò đàn dê béo múp nhởn nhơ gặm cỏ sườn đồi. Con đường trải nhựa dở dang từ Tam Mỹ – quê hương của các nhà cách mạng Nguyễn Sắc Kim, Nguyễn Phùng – dẫn lên xứ núi Tam Trà có điểm dừng chân thú vị Tứ Mỹ, Giang Thơm. Tứ Mỹ, vùng giải phóng sớm nhất khu V từ đầu năm 1960, nơi nhà văn Phan Tứ miệt mài  sáng tạo Về làng, Mẫn và tôi, Gia đình Má Bảy ghi dấu ấn vào lịch sử Văn học Việt Nam hiện đại, nhiều nơi còn lưu lại dấu chân thân thiết của nhà văn – chiến sĩ Lê Khâm Phan Tứ. Giang Thơm, còn được gọi Xen Thơm, Dương Thơm tùy thuộc cảm tình ngữ âm của du khách, quyến rũ mọi lứa tuổi bởi làn khí trời mát rượi dưới 20 độ C bốn mùa, cây cối và các loại dây leo nguyên sinh chằng chịt vây quanh các thác nước hàng mét cao ào ạt đổ nước đêm ngày, biến cái mát rượi thành mát lạnh khi ta ngâm mình dưới làn nước suối trong veo róc rách ngay cả giữa trưa hè khi nhiệt độ các nơi lên đến ba tám ba chín độ C ngầy ngật. Tứ Mỹ Giang Thơm luôn quyến lòng du khách là vì thế.

Tam Mỹ còn nổi tiếng với một đặc sản: nếp bầu. Khách quý hay sui gia đến nhà, bà chủ xuống bếp nấu một nồi xôi, mùi thơm dậy lên cả xóm. Luộc thêm quả trứng vịt dằm vào chén mắm nước dầm ớt tỏi, mâm xôi nếp bầu dẻo quánh ngào ngạt đã làm nên một bữa chiêu đãi thịnh soạn, thích hợp cả sáng trưa chiều tối, xắn một đũa cho vào miệng miếng ngon nhớ đời. Nấu bánh tét, nếp bầu giữ bánh tét dẻo thơm ra đến giêng hai.

Càng ngược về phía núi, tiếng gọi của đất càng trở nên rõ rệt, nhiều sắc thái. Những con đường nhỏ dẫn về các xóm Kor men dọc theo bờ suối, róc rách tiếng nước chảy, ríu ran tiếng chim hót, tiếng cu gù, hoa rừng khoe rực rỡ sắc đỏ vàng tím lẫn trong những tán cây xanh um rậm rạp. Hai mươi ba năm về trước, cư dân lòng hồ Phú Ninh từ giã quê cũ nhường đất cha ông cho công trình đại thủy nông thế kỷ, lên vùng đất mới Tam Sơn Tam Trà xây dựng cuộc sống khởi đầu nan đã đem lại cho xứ núi còn heo hút này một sinh khí mới, rộn ràng và ấm áp. Những ngôi nhà người Kinh, người dân tộc lẩn vào các vườn tiêu, vườn quế, keo, trẩu mơn mởn, hứa hẹn vụ bội thu trong một tương lai gần. Tam Sơn Tam Trà lắng sâu vào núi, màu xanh cây cối nhà cửa chìm vào màu xanh của núi. Còn Tam Thạnh, lại khéo vươn mình một góc ra hồ Phú Ninh, nơi những sáng tinh mơ và những chiều bãng lãng, khói núi quyện hòa vào hơi nước là đà mặt hồ in bóng núi non làm nên một cảnh thần tiên hư ảo huyền hoặc nao lòng.

Tiếng gọi Núi Thành, là một tiếng gọi đa chiều, đa cung bậc.

Đi tìm chiều sâu, Tiếng gọi Núi Thành là tiếng gọi của một bề dày văn hóa mấy ngàn năm, đã hình thành đã kết tụ lại từ mấy ngàn năm trên mảnh đất này. Di tích khảo cổ Bàu Dũ  làm sống lại một giai đoạn sơ kỳ đá mới con người đã sống, lao động ở đây, gần gũi với nền văn hóa Hòa Bình cách sáu, bảy ngàn năm về trước, đã biết sử dụng lửa, chế tạo công cụ lao động, làm đồ gốm, khai thác biển. Di tích Bàu Nê, Bàu Trám tái hiện lại cuộc sống con người cùng thời nền văn hóa Sa Huỳnh cách hai, ba ngàn năm, đã biết dùng các màu sắc rực rỡ trong nghệ thuật trang trí, biết chế tạo đồ thủy tinh. Tháp Chàm Khương Mỹ Tam Xuân, Khu Mộ Chum Tam Mỹ, Tam Giang, khu Mả Não Tam Nghĩa ghi lại dấu ấn vàng son một nền văn hóa Chămpa bí ẩn, oai linh, bi tráng và miên viễn. Những tinh hoa của các nền văn hóa đã được người Việt di cư trân trọng, giữ gìn, kế thừa phát triển cho đến ngày nay, có thể nhận ra được ngay trong cuộc sống đời thường từ tập tục, lễ hội, giao tế đến cách ăn cách nói kiểu mặc hằng ngày. Văn hóa Núi Thành hiện đại là tổng hòa của mọi nền văn hóa.

Đi tìm độ dài, Tiếng gọi Núi Thành đồng thời là tiếng gọi của một bề dày lịch sử sáu trăm năm, từ thuở cha ông ta mang gươm đi mỡ cõi . Từ cuộc di dân lần thứ nhất 1403 đời Hồ Hán Thương, cuộc di dân lần thứ hai 1474 đời Lê Thánh Tông, từ các cuộc di dân thời Trịnh – Nguyễn… đến những cuộc kháng chiến thần thánh giữ cõi giữ nước trường kỳ trong lịch sử cận đại và hiện đại. Và hôm nay, là sự xuất hiện rộn ràng của Khu Kinh tế mở Chu Lai. Một thời kỳ mới, một vận hội mới tương thích với hương sắc Núi Thành đã được mở ra vào giai đoạn giao thừa giữa hai thiên niên kỷ…

Khi âm thầm thấm vào bên trong, khi mạnh mẽ tỏa sáng ra bên ngoài, vẫn mãi mãi Núi Thành cất lên tiếng gọi. Tiếng gọi của nghĩa tình, của sự thủy chung, của niềm tin của hy vọng. Tiếng gọi từ đất từ cát từ gió từ lòng người muôn đời chân thành rộng mở.

Sao có thể khép lòng không nghe thấy tiếng gọi tha thiết Núi Thành?

MẮT PHỐ TRONG VEO

Nhiều khi tôi lẩn thẩn tự hỏi: Vậy thì, trong cuộc sống hiện tại, khi mà mức sống và mọi điều kiện phục vụ cho cuộc sống ở quê và phố na ná như nhau, không đến nỗi chênh lệch nhau quá thể như cái ngày xửa ngày xưa cách đây không mấy lâu, thì giữa thành phố và miền quê, cái gì làm nên đặc trưng khác biệt có thể dễ dàng nhận thấy nhất? Cái gì làm nên sự khác biệt rõ ràng giữa phố và quê mà ta nhận thấy ngay tắp tự, đập ngay vào mắt ta, khi ta đóng vai là người ruộng vườn lần đầu tiên đặt chân đến phố chẳng hạn… Cái gì làm nên phố để phố quyến rũ được ta ngay lúc ban đầu ấy, cái gì mà ở quê ta chưa từng có, ở quê ta thiếu thiếu… Ừ, cái gì vậy nhỉ?

Một lần, tôi đưa một anh bạn nhà thơ từ Hà Nội vào thăm Khu Kinh tế mở Chu Lai – Núi Thành quê tôi. Thăm thú, hàn huyên khắp các nơi đến lúc dứt áo ra về được thì đã gần mười hai giờ đêm. Đường Non Nước vắng lặng, xe êm ru, tôi lim dim mắt mơ màng, mặc anh bạn một mình thưởng thức cảnh khuya. Bỗng tôi giật nẩy mình khi nghe nhà thơ thốt lên một tiếng “Ôi“ kinh ngạc. Mở choàng mắt, tôi sững sờ không kém: Một vùng hào quang rạng rỡ chói loà,lộng lẫy lung linh muôn màu sắc bởi hàng trăm bóng đèn rực rỡ trên trời dưới nước thi nhau phản chiếu như muốn làm bùng nổ bóng đêm tĩnh mịch đột ngột hiện ra trước mắt chúng tôi, khi xe vừa từ Non Nước ra đến bùng binh cầu Tuyên Sơn. “Về đến Đà Nẵng rồi!” – Tôi giả bộ điềm nhiên bảo. Anh bạn gật gù nắc nỏm: “Đô thị loại I có khác. Kém gì Hồng Kông Thượng Hải đâu nhỉ. Mà này, đêm kỳ ảo như thế này bờ Sông Hàn ăn đứt bến Thượng Hải ấy chứ”. Tôi cười, không giấu được sự tự hào về thành phố mình trước lời thán phục rất chân thành của một nhà thơ đến từ đất kinh kỳ.

Trong khoảnh khắc ấy, đột nhiên tôi tìm ra câu trả lời cho mình về điều vẫn băn khoăn: Những ngọn đèn phố đêm! Đó chính là những ngọn đèn làm nên sự toả sáng rạng rỡ tạo nên một vẻ đẹp thần kỳ cho phố về đêm.

Cử đầu vọng minh nguyệt. Đê đầu tư cố hương – nhìn trăng sáng thi tiên Lý Bạch đau đáu một nỗi niềm cố hương khi sống giữa Tràng An đô hội. Cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ ấy. Cứ đêm đêm nhắc nhở gọi ta về là tiếng gọi da diết của… phố, phố đang bị tạm chiếm với nhà thơ Việt Nam thời chống Mỹ. Quê gọi người bằng vầng trăng muôn thuở. Phố gọi người bằng cái vầng sáng, bằng những ngọn đèn chong chong trong đêm của mình. Trăng là mắt là hồn của quê, những ngọn đèn đêm là mắt là hồn của phố. Đêm đêm mắt phố lung linh. Đêm đêm mắt phố trong veo.

MỤC LỤC

  1. TRIỀN SÔNG THƠ ẤU.
  2. MA ĐỒNG BỘNG.
  3. LÃO SẦM.
  4. MÂY BAY VỀ PHÍA HÒN RƠM.
  5. KHO CỦA.
  6. MỐI TÌNH ĐẦU.
  7. ĐÔI MẮT XANH VÀ TẬP VỞ ĐỂ QUÊN
  8. MẢNH TRỜI XANH LẤP LÁNH.
  9. NGỒI BUỒN NGÓ BÂNG QUƠ.
  10. CON BÒ.
  11. NGƯỜI VỢ TUYỆT VỜI.
  12. KHI VỢ LÀ SẾP.
  13. MÓN TIỀN TIẾT KIỆM CỦA VỢ.
  14. KÍNH GỬI CÁC BÀ.
  15. KÝ SỰ MỘT ĐÁM CƯỚI.
  16. GIẤC MƠ CẬU QUÝ TỬ.
  17. THÁNH THƯỢNG MUÔN NĂM HAY LÀ…
  18. CÓC XANH KIÊU HÃNH VÀ 12 HÒN CUỘI ĐỎ 12 HÒN CUỘI TRẮNG.
  19. NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ.
  20. CON CHÒ CHỈ LOẰNG QUẰNG.
  21. TÔI ĐI HỌC.
  22. CHUYỆN BÉ NHƯ CHUYỆN CU VĂN.
  23. XÓM NHỎ TRONG VÒNG TAY SÔNG TRẦU.
  24. TIẾNG GỌI TỪ HƯƠNG SẮC NÚI THÀNH.
  25. MẮT PHỐ TRONG VEO.

 

NGƯỜI NỔI TIẾNG

Hai Kiểu làng Đông Mỹ là một người nổi tiếng. Làng Đông Mỹ có câu thành ngữ “ Nói láo như Hai Kiểu”. Nghĩa là Hai Kiểu nổi tiếng… về tài nói láo. Nói láo mà không ai ghét, lại có ý thương phục, người ta vui vẻ kể cho nhau nghe như những giai thoại, thế mới giỏi.

Ngày nọ mưa dầm, trời rét ngọt. Năm đại hạn, tiếp đến mưa lũ dầm dề, mất mùa to, cả làng Đông Mỹ đói. Nhà Hai Kiểu thì không đợi đến lúc mất mùa mới đói, ngặt nỗi lúc này càng gay go, vì những chỗ có thể vay mượn được cũng đều thất bát. Lũ trẻ đói quay quắt, khoai sắn cũng không còn mà nấu, suốt mấy ngày cả nhà húp cháo rau má loãng cầm hơi. Hai Kiểu nhìn lũ con hồi lâu, bỗng hỏi:

– Này, có muốn ăn bánh xèo không?

Lũ trẻ mừng rỡ dạ rân. Hai Kiểu bảo:

– Vậy thì chui vào giường nằm, rên to lên !

Không hiểu gì, nhưng lũ trẻ cũng răm rắp làm theo lời cha. Một lát tiếng rên hừ hừ vang lên khắp nhà. Hai Kiểu lật đật cầm cái bát mẻ chạy sang nhà bà Hai:

– Bà Hai ơi, nhà còn dầu phộng cho xin một ít! Bọn trẻ ăn sắn non say nằm quay lơ một đống ở nhà bà ơi. Nghe nói chỉ có uống dầu phộng mới hết được.

Lạ gì tình cảnh nheo nhóc nhà Hai Kiểu, bà Hai tin ngay, kiếm chai dầu phộng giấu kỹ dưới gầm giường ra rót đầy bát, lại giở ghè bốc thêm nhắm  gạo bỏ bọc dúi vào tay Hai Kiểu:

– Tội nghiệp! Đem về nấu bát cháo cho chúng đỡ xót ruột.

Từ nhà bà Hai về, Hai Kiểu lại chạy sang nhà ông Ba, bà Bốn, ông Bảy… Đi khắp lượt hết các nhà gọi là còn chút khá giả trong xóm, Hai Kiểu quay về thì cũng đủ gạo, đủ dầu để nổi lửa… đúc bánh xèo. Không nhưn nhị thịt cá hành tỏi gì, nhưng cũng là bữa đại tiệc ngon lành cho cả nhà đang đói rát ruột ngày mưa gió.

Không ngờ, được bữa no căng bụng lại ngon miệng, lũ trẻ nhà Hai Kiểu đi khoe khắp xóm. Câu chuyện vỡ lỡ. Người ta kể cho nhau nghe như chuyện tiếu lâm của làng lúc giỗ chạp, rảnh rỗi, lúc làm đồng, đi núi. Hai Kiểu bỗng dưng thành một người nổi tiếng khắp làng Đông Mỹ. Ông Hai mất đã mấy mươi năm, mà câu “ Nói láo như Hai Kiểu” vẫn được bọn trẻ sinh sau đẻ muộn không hề biết mặt ông đem ra áp dụng sinh động vào câu chuyện mỗi ngày. Những khi giỗ chạp, cưới hỏi, người ta lại kể chuyện Hai Kiểu rôm rả, thú vị với những mẩu chuyện vừa có thật, vừa bịa thêm – mà phần lớn là bịa thêm về ông. Thành ra khuất bóng đã lâu, mà ông Hai vẫn như đang sống giữa làng, chẳng hề bị lãng quên chút nào.

Kể xong câu chuyện, ông giáo Ba nhắp hớp trà, kết luận thật đột ngột:

  • – Ngẫm ra, ở đời có nhiều cách để nổi tiếng. Nói láo… cũng có thể được lưu danh, nếu như nó mang lại niềm vui cho mọi người, làm cho cuộc sống vốn luôn khốn khó đỡ bớt đi sự tẻ nhạt. Khi đó, mọi người sẽ yêu mến anh và luôn nhớ đến anh…

 

           THẬT LÀ LÃNG MẠN

            Anh lặc lè những va ly, hòm xiểng, túi to túi nhỏ cái trên vai, cái trên lưng,cái kéo trên đất, đầm đìa mồ hôi, thở hổn hển lê bước đằng sau. Chị tung tăng phía trước, chiếc xắc nhỏ xinh xắn mỹ miều trên tay, váy lụa Thượng Hải xòe ra phất phới trong gió, miệng nhoẻn cười, gương mặt sáng bừng phấn khích.

Đường núi gập ghềnh, lắm dốc, nhưng cảnh vật tuyệt đẹp. Hoa rừng còn ngậm sương, nở rộ ven đường, rực rỡ. Mỗi lần nhìn thấy một bông hoa lạ, chị dừng lại, ngồi xuống vuốt ve bông hoa, thốt lên đầy kinh ngạc thú vị:

– Ôi đẹp quá anh ơi! Lãng mạn quá!

Nghe câu trầm trồ của chị, anh vội vàng tìm chỗ quăng đại mớ đồ, lấy máy ảnh giơ lên ngắm nghía, chụp cho chị một kiểu. Chị cười tươi hơn cả những bông hoa trước ống kính. Như nàng tiên. Nhưng chưa xong cảnh này, thì nàng tiên đã ngước đôi mắt ngây thơ tràn ngập niềm vui nhìn sang cảnh khác, giọng vẫn đầy kinh ngạc thú vị:

– Ôi chỗ kia mới đẹp mê hồn làm sao. Lãng mạn quá đi mất anh ơi!

Anh cầm máy ảnh lúc thúc chạy theo chị.

Đến câu cảm thán hồn nhiên trong trẻo thứ một trăm lẻ một của chị, anh ngã lăn ra đất, ngất xỉu. Ngỡ cảnh vật hữu tình làm anh tràn ngập cảm xúc đòi yêu ngay giữa thiên nhiên hoa lá, chị chớp chớp đôi mắt ướt rượt kêu lên kinh ngạc thú vị:

– Ôi, anh yêu của em. Lãng mạn quá. Thật là lãng mạn!

Ba mươi năm sau.

Bà hớn hở đem khoe với ông xấp ảnh cưới vừa tình cờ tìm được trong đống đồ cũ khi dọn dẹp nhà cửa để lo cưới vợ cho cậu con trai đầu cách đây nửa tháng:

– Ông xem này. Ảnh đám cưới và chuyến đi hưởng tuần trăng mật của mình nè. Ông còn nhớ những ngày đó chứ?

Ông giở xem từng tấm ảnh:

– Đẹp thật. Mà này, chỉ toàn là ảnh bà, chẳng thấy tôi ở đâu cả!

Bà tủm tỉm:

– Ông ở trong nụ cười của cô dâu đó.

Ông chưa kịp trả lời thì cửa mở. Cậu con trai và cô vợ mới cưới đã trở về sau tuần trăng mật. Cô dâu tươi tắn nhanh nhẩu lấy tập ảnh ra khoe. Bà kêu lên:

– Sao chỉ toàn là ảnh cô dâu với lại hoa hiếc thế này? Chú rể đâu rồi?

Ông nhìn cậu con trai khuôn mặt hốc hác bơ phờ đang ngả người ngồi thở trên ghế salon:

  • Lãng mạn lắm, phải không con?

 

CHẤT XÚC TÁC

            Lấy nhau trên mười năm, đã có hai mặt con đủ nếp đủ tẻ, cuộc sống vợ chồng đơn điệu kéo dài đã làm cho cả anh và chị đều cảm thấy mệt mỏi buồn chán, dù chẳng ai nỡ nói ra. Những lời yêu đương nồng nàn, những câu thơ tha thiết bay bổng của mối tình sinh viên đã tàn lụi từ lâu theo những đòi hỏi thiết thực ngày càng dồn dập chất chồng khi bọn trẻ lớn lên. Giờ, khi cần thiết lắm họ mới trao đổi nhau những câu nói ngắn gọn, rõ ràng,không cảm xúc nhưng rất dễ hiểu, như những mệnh lệnh quân sự. Thường, họ chỉ im lặng, nhất là khi bọn trẻ vắng nhà.

Xúc tác. Phải có chất xúc tác hâm nóng lại ngọn lửa tinh yêu đã nguội ngắt của họ. Một hôm anh nghĩ vậy và quyết định tìm cho ra chất xúc tác ấy. Anh vốn là kỹ sư ngành Hóa học, lại thường đọc các sách tâm lý mỗi khi rảnh rỗi.

Và anh đã tìm ra.

Ngày chủ nhật. Bọn trẻ đi học thêm, ở lại nhà cô giáo đến tối mới về. Giờ này chị đang giặt giũ. Anh ngồi vào bàn làm việc, canh chừng lúc chị phơi xong đồ trở vào liền vớ lấy ống điện thoại, bấm nhanh một số di động bất chợt vừa kịp nghĩ ra trong đầu. Một giọng nữ thanh thoát trẻ trung trả lời anh ngay:

– Alô. Tôi nghe đây. Xin lỗi ai ở đầu dây đấy ạ?

Anh nói nhanh, giọng khẩn thiết:

– Xin lỗi cô. Thật ra tôi và cô chưa từng quên biết nhau đâu. Nhưng xin cô hãy giúp đỡ tôi một chút, tôi rất biết ơn. Cô chỉ việc im lặng giữ máy dùm tôi, không cần trả lời gì cả, và cũng đừng ngạc nhiên trước bất kỳ điều gì tôi nói nhé. Xin cô giúp cho.

– Nhưng, tôi…

Tiếng chân vang lên rất nhẹ ở phía sau. Chị đã trở vào. Anh vội vã nói nhanh vào máy, khẽ nhưng rành rọt:

– Tôi hiểu. Cô đừng ngạc nhiên, đừng ngắt máy. – Giọng to hơn, nồng nhiệt – Anh biết, anh biết lắm chứ.

Anh cảm thấy rất rõ tiếng chân của chị đã dừng lại. Chị đang lắng nghe. Anh hạ giọng thầm thì vừa đủ vọng đến nơi chị đứng.

– Anh nhớ, anh nhớ em vô cùng. Nhớ từng câu nói từng nụ cười của em, nhớ niềm say mê khao khát trong mỗi nụ hôn ngọt ngào của em…

– Này anh…

– Em là tình yêu của anh, là nỗi cay đắng dịu dàng của anh, là ý nghĩa cuộc sống của anh…

– Anh gì ơi…

– Em mới chính là tình yêu đích thực của anh, tình yêu mà anh tìm kiếm đã hơn nửa cuộc đời…

– Anh có bị thần kinh không đấy?

– Xin cô, đừng bỏ máy. Anh sẽ giữ mãi mãi tình yêu của em, bóng hình thần tiên trong trắng của em…

– Tôi tắt máy đây. Đồ dở hơi.

– … trong lòng anh. Cô hãy giúp tôi, một giây nửa thôi. Xin cô… Anh mong nhớ khao khát những giây phút được gần gũi bên em…

– Rõ ràng là chập mạch rồi!

-… Ừ, anh sẽ đến ngay. Vẫn quán cà phê Tiếng Xưa, em nhé. Hãy đợi anh. Chỉ mươi lăm phút nữa là mình sẽ lại có nhau…

– Hâm tỉ độ !

– Xin cô. Ừ, anh sẽ đọc cho em nghe những câu thơ cháy bỏng từ nỗi nhớ triền miên, sẽ hôn em những nụ hôn nồng nàn muôn thuở.

– Tít…tít…tít. Cuộc gọi tạm thời bị gián đoạn, mong quý khách…

– Hôn em. Hẹn lát nữa em nhé.

Anh bỏ máy, nghe rất rõ tiếng chậu rơi loảng xoảng phía sau, tiếng nấc bị nghẹn lại rồi tiếng chân chị bước nhanh vào nhà bếp. Giả bộ không biết gì, mọi việc vẫn bình thường như mọi ngày, anh thay đồ, cố ý chải chuốt ngắm vuốt hơi lâu một chút, rồi dắt xe rời khỏi nhà.

Nhưng đi loanh quanh vòng vèo không mục đích trên phố mãi rồi cũng thấm mệt, anh tự nhủ mình phải ghé vào đâu đó nghỉ ngơi một lát, cho bình tâm, trước khi về nhà nghiệm thu kết quả cuộc cách mạng tình yêu của mình. Và cũng để có thời gian cho chị lãnh hội, suy nghĩ. Tại sao mình không ghé vào cà phê Tiếng Xưa nhỉ? Lúc nãy tự nhiên buột miệng thốt ra, biết đâu lại có sự xui khiến vô hình nào đây?

Anh vừa dừng xe, cô chủ quán đã đon đả chạy ra, nở nụ cười rất xinh:

– Anh có hẹn phải không ạ ? Chị ấy đến rồi, ngồi chờ anh đã lâu.

Anh ngạc nhiên toan lắc đầu bảo cô nhầm rồi, nhưng lại đổi ý, lẳng lặng theo cô chủ quán vào một chiếc bàn đặt khuất bên một góc quán. Và kìa…

– Ngồi xuống đi anh.

Chị điềm nhiên nói trong khi anh còn đứng ngây người sững sờ trước mặt. Tại sao chị lại có mặt ở đây? Và tự nhiên như là đã hẹn với anh rồi, như mười năm trước đây… Anh chưa kịp nghĩ tiếp thì chị đã cầm tay kéo anh ngồi xuống, ngả đầu lên vai anh, thầm thì:

– Ôm lấy tình yêu của anh đi. Và hãy hôn em nụ hôn nồng nàn muôn thuở, đọc cho em nghe những câu thơ cháy bỏng nỗi nhớ triền miên…

Chị nhìn vào mắt anh:

– Anh quên mất là điện thoại nhà mình có gắn máy ghi âm à? Thật là một ông chồng hậu đậu.

Chị dụi đầu vào ngực anh òa khóc khi vòng tay anh khép lại nồng nàn và miệng anh hé một nụ cười.

Nửa đêm, khi chị gối đầu lên cánh tay anh ngủ ngon lành thì điện thoại reo vang. Anh nhẹ nhàng nhấc đầu chị đặt xuống gối, bước ra nhấc ống nghe. Chị vẫn ngủ say.

– A lô…

– Anh gì ơi… Cho em xin lỗi những lời nóng nảy của em khi sáng nhé. Anh có thể nói cho em nghe những lời anh đã nói lúc ấy được không anh? Em đang rất buồn, đang cảm thấy mình cô đơn quá. Hãy giúp em…

Nguyễn Kim Huy

NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG – 2006