Những hiểu biết mới về cuộc khởi nghĩa Phan Ðình Phùng

Những hiểu biết mới về cuộc khởi nghĩa Phan Ðình Phùng
Vua Hàm Nghi.

Những hiểu biết mới về cuộc khởi nghĩa Phan Ðình Phùng

Sau khi vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần vương lần thứ nhất (18-7-1885) và chiếu Cần vương lần thứ hai (20-9-1885), một làn sóng yêu nước chống xâm lược Pháp dâng lên từ bắc đến nam. Từ miền xuôi đến miền ngược, từ rừng núi xuống vùng biển dấy lên các cuộc khởi nghĩa hưởng ứng. Nổi lên sớm và trở thành mạnh mẽ nhất là phong trào khởi nghĩa của sĩ phu và nhân dân Hà Tĩnh.

Lực lượng khởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi, như là Lê Ninh, Phan Cát Tưu ở Ðức Thọ, Nguyễn Duy Chanh ở Can Lộc, Cao Thắng ở Hương Sơn, Nguyễn Cao Ðôn ở Thạch Hà, Hoàng Bá Xuyên ở Cẩm Xuyên, Ngô Quảng ở Nghi Xuân, Võ Phát ở Kỳ Anh, Trần Hữu Châu ở Hương Khê, v.v.

Phong trào lúc đầu chỉ mang tính tự phát ở các địa phương riêng lẻ, nhưng đến 1887 yêu cầu thống nhất đã trở nên cấp thiết, các lực lượng khởi nghĩa lẻ tẻ ở các huyện đã được tập hợp lại. Ðến 1889 khi Phan Ðình Phùng ở ngoài bắc về thì việc thống nhất các lực lượng trong toàn tỉnh được thực hiện.

Phan Ðình Phùng là người trực tiếp hưởng ứng chiếu Cần vương của nhà vua, được tiếp kiến vua Hàm Nghi tại Sơn Phòng (Phú Gia – Hương Khê, tháng 10-1885) đứng ra tập hợp các sĩ phu yêu nước trong tỉnh dưới cờ Cần vương và chiếu chỉ nhà vua để kháng chiến chống Pháp. Ðây là nét mới của phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX.

Phong trào Cần vương của Phan Ðình Phùng được xây dựng và phát triển từ 1885 ở làng Ðông Thái, huyện Ðức Thọ. Sau khi giặc Pháp chiếm đóng kinh thành Huế và chiếu Cần vương lần thứ nhất được ban bố, Phan Ðình Phùng (quê ở làng Tùng Ảnh, huyện Ðức Thọ) nguyên là quan Ngự sử bị triều Nguyễn bắt hồi hương vì chống lại việc phế truất vua Dục Ðức, đã chiêu mộ binh sĩ đứng ra lãnh đạo khởi nghĩa chống Pháp.

Những ngày đầu quy mô còn nhỏ bé, nhưng lực lượng khởi nghĩa được phát triển nhanh chóng nhờ việc phối hợp với nghĩa quân của Lê Ninh ở Trung Lễ (Ðức Thọ), nghĩa quân của Cao Thắng ở Cồn Chùa (Hương Sơn). Sau đó Phan Ðình Phùng đã cử Cao Thắng lãnh đạo nghĩa quân với toàn quyền tổ chức và xây dựng lực lượng để ông ra bắc gây dựng và mở rộng phong trào. Nghĩa quân chuyển địa điểm từ Ðông Thái về Thượng Bồng, Hạ Bồng (thuộc hai xã Ðức Bồng, Ðức Lĩnh, huyện Vụ Quang ngày nay). Chính ở đây Cao Thắng đã cùng với Lê Phất (người Trung Lễ), Lê Quyên (người Yên Hồ), Ðặng Duy Truy (người Uy Viễn) chế tạo thành công loại súng trường hiện đại vào thời đó.

Sau một thời gian củng cố, đến năm 1889 lực lượng nghĩa quân đã lên đến hàng nghìn người. Nhờ được tập luyện chu đáo, được trang bị loại súng mới, được tổ chức thống nhất và có kỷ luật nghiêm nên có sức chiến đấu cao.

Thời gian này ngoài khởi nghĩa Phan Ðình Phùng ở Hà Tĩnh, thì ở Thanh Hóa có khởi nghĩa của Tống Duy Tân, Cầm Bá Thước; ở Nghệ An có khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn; ở Quảng Bình có khởi nghĩa của Nguyễn Phạm Tuân… Rõ ràng yêu cầu thống nhất lực lượng dưới sự chỉ đạo chung để tăng cường sức chiến đấu đã trở thành bức thiết.

Nghĩa quân bốn tỉnh đều đồng lòng tôn Phan Ðình Phùng làm người chỉ huy, đảm nhận trọng trách thống lĩnh phong trào khởi nghĩa (9-1889). Phan Ðình Phùng đã phân bố lực lượng thành 15 quân thứ (Khê thứ, Can thứ, Lai thứ, Hương thứ, Diệm thứ, Diễn thứ, Anh thứ, Lễ thứ, Nghi thứ, Cẩm thứ, Thạch thứ, Kỳ thứ, Lệ thứ, Bình thứ, Thanh thứ). Ông đã thống nhất được lực lượng chống Pháp ở bốn tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình cả về mặt ý chí tư tưởng, cả về mặt chỉ huy, trang bị vũ khí, thông tin liên lạc… Ðây là nét mới nữa của phong trào kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ XIX.

Sự thống nhất các lực lượng đã mở ra một giai đoạn mới cho cuộc khởi nghĩa Phan Ðình Phùng. Hoạt động nổi bật nhất của nghĩa quân ở giai đoạn này là chủ động đánh đồn, diệt viện, bảo vệ căn cứ. Ðược nhân dân ủng hộ các đơn vị nghĩa quân thường xuyên tổ chức những cuộc tập kích vào các đồn lẻ, hoặc tập kích đánh địch trên đường hành quân.

Càng đánh, lực lượng nghĩa quân càng mạnh, địch tăng cường đàn áp nhưng với lối đánh “thiên biến vạn hóa” nghĩa quân đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề. Ví như trận đánh tiêu diệt quân Pháp khi chúng đánh vào Trung Lễ đêm 26-6-1890. Nghĩa quân đã khôn khéo một mặt đánh chặn địch ở ngoài làng, phối hợp với nhân dân trong làng đứng lên chống cự quyết liệt, mặt khác chặn đánh lính tiếp viện từ Linh Cảm xuống, vì vậy địch không đánh vào làng được mà lại bị tổn thất lớn.

Sau những năm 1890, nghĩa quân vừa chiến đấu vừa xây dựng đã trưởng thành nhanh chóng. Lực lượng nghĩa quân từ rừng núi tràn về đồng bằng và các địa phương trong bốn tỉnh, đã có thể tập trung chống càn dài ngày (như trận chống càn từ ngày 5 đến ngày 9-8-1892 từ Trại Chè, Thạch Hà đến Khê Thượng, Hương Khê), hoặc tập trung đánh địch những đồn trọng điểm, đánh vào huyện lỵ, tỉnh lỵ (đánh vào tỉnh lỵ Hà Tĩnh ngày 23-8-1892)… Nhiều lần địch đem quân vây ráp, tấn công đánh vào căn cứ quân khởi nghĩa nhưng nhờ sự chiến đấu anh dũng của nghĩa quân và được nhân dân bảo vệ nên cả một vùng căn cứ rộng lớn từ Thượng Bồng, Hạ Bồng đến Hói Trùng, Hói Trí lên Ngàn Trươi, Vụ Quang được giữ vững.

Giặc Pháp biết rõ mối quan hệ mật thiết giữa quân khởi nghĩa với nhân dân, sự cưu mang đùm bọc của nhân dân với nghĩa quân, nên chúng tìm mọi cách ly khai nhân dân với quân khởi nghĩa. Ngoài việc đóng đồn và tuần tiễu bao vây các vùng căn cứ của nghĩa quân hòng cắt đứt sự liên hệ của nhân dân với căn cứ địa, thì chúng còn bắt dân rào làng, đặt các điểm canh. Ở những vùng nghĩa quân hoạt động mạnh như Tổng Yên Ấp (Hương Sơn), Tổng Thượng Bồng (Vụ Quang)… chúng bắt nhân dân phải rào làng thành một hệ thống rào bao quanh từng làng, chạy từ làng này qua làng khác cách biệt với bên ngoài gọi là “dè phân ly”. Chúng đặt các điểm canh, sáng chiều dân đi làm đồng phải theo lệnh trống. Ban đêm có tuần phu canh gác lùng sục.

Mặc dầu vậy ở nhiều vùng lý trưởng, chánh tổng vẫn ngấm ngầm đôn đốc nhân dân đóng góp lương thực cho nghĩa quân, đêm đêm các đội tiếp tế vẫn bí mật vận chuyển lương thực vào núi. Ngay cả khi địch cho một lực lượng lớn rải ra lùng sục càn quét toàn vùng thì nhân dân các địa phương vẫn tiếp tế lương thực, gửi con em bổ sung cho lực lượng nghĩa binh. Ðiều đó chứng tỏ cuộc khởi nghĩa Phan Ðình Phùng không chỉ là sự kết nối giữa vua, quan, sĩ phu mà còn được nhân dân đồng tình ủng hộ, tập hợp được lực lượng đoàn kết từ vua đến dân vì mục tiêu chống thực dân Pháp. Ðây cũng là nét mới của cuộc khởi nghĩa Phan Ðình Phùng.

Cuộc khởi nghĩa Phan Ðình Phùng kéo dài suốt 10 năm (1885 – 1895), bắt đầu từ đốm lửa nhỏ, nhanh chóng cháy bùng thành một phong trào rộng lớn bao gồm nhiều tỉnh ở miền trung. Phong trào đã tập hợp được đông đảo lực lượng từ vua quan, hương lý, sĩ phu đến các tầng lớp nhân dân dưới ngọn cờ Cần vương.

Phong trào trên thực tế đã mang tính chất một cuộc kháng chiến của lực lượng yêu nước đứng lên chống thực dân Pháp và trở thành đỉnh cao của phong trào yêu nước ở cuối thế kỷ XIX. Tuy thất bại nhưng phong trào đã để lại bài học quý giá về đoàn kết tập hợp lực lượng, về đấu tranh vũ trang và chiến tranh du kích, về tinh thần quyết chiến và sáng tạo trong chiến đấu và xây dựng lực lượng, về động viên sức dân thực hiện chiến tranh nhân dân, v.v.

Những bài học đó sau này đã được Ðảng ta tiếp thu, vận dụng và bổ sung nâng cao, hoàn chỉnh, góp phần vào việc hình thành đường lối chiến tranh nhân dân trong cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất Tổ quốc.

* Hiệp ước Pa-tơ-nốt (6-6-1884), khoản 5:

– Cho phép Tổng trú sứ (Khâm sứ) Pháp được ở trong kinh thành.

– Tháng 7-1884, Khâm sứ Pháp lúc đó là Rây-na cho 2.300 lính Pháp ào ạt vào đóng đồn tại Trấn Bình Ðài (đồn Mang Cá), o ép triều đình.  

* Ngày 5-7-1885: Quân triều đình (phải chủ chiến) do Tôn Thất Thuyết, Tôn Thất Lệ, Trần Xuân Soạn… chỉ huy tấn công thực dân  Pháp ở đồn Mang Cá,  ngày 5-7-1885, thực dân phản công, chiếm được Kỳ đài và Hoàng Thành Huế.

Vua Hàm Nghi.

Vua Hàm Nghi xuất bôn ra chiếu Cần vương (giúp vua).

Chiếu viết: “Trẫm tuổi trẻ nối ngôi, không lúc nào không nghĩ đến tự cường, tự trị. Kẻ phái của Tây ngang bức, hiện tình mỗi ngày một quá thêm”. Với sĩ phu và dân trăm họ, tờ chiếu kêu gọi: “Phúc của tôn xã tức là phúc của thần dân, cùng lo với nhau thì cùng nghĩ với nhau”, “nghiến răng và dựng tóc, thề giết hết giặc”, “văn thân, sĩ phu các nơi, hào mục các làng và dân chúng cùng binh sĩ, tất cả đều tề tựu Cần vương”.

* Phong trào Cần vương lan khắp cả nước, kéo dài nhiều năm mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Phan Ðình Phùng. Chính viên đại úy quân xâm lược Pháp Sác-lơ Gô-sơ-lanh cũng thừa nhận: “Quan Ðình Nguyên Phan Ðình Phùng có tài điều khiển việc quân binh, biết luyện tập binh sĩ tốt… Cuộc phiến loạn do Phan Ðình Phùng cầm đầu đã tràn lan rất mau và có thanh thế rất lớn… Vì chính sách cai trị và vì không muốn dư luận bên Pháp xôn xao, sợ hãi cho nên ở đây người ta cố giấu giếm được chừng nào hay chừng ấy”.

(Nguồn: Lịch sử Việt Nam 1858-1896. Nxb KHXH.H 2003)

HOÀNG DUY

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây