Theo dấu loa kèn – Tập truyện ngắn của Nhà văn Kiều Bích Hậu – Kỳ 2

Theo dấu loa kèn - Tập truyện ngắn của Nhà văn Kiều Bích Hậu - Kỳ 2

Truyện ngắn

Theo dấu loa kèn

 

BÓC LỊCH

Tác giả: Kiều Bích Hậu

Ông nội tôi là một chiến sỹ cách mạng kiên cường, suốt những năm hoạt động bí mật nằm hầm cơm vắt, ông ẩn hiện như thần, địch  không tài nào bắt được. Cách mạng thành công, ông trở thành một lãnh đạo cấp tỉnh, lại vốn là người “đầu nghĩ, miệng nói, tay làm, chân đi” nên việc chạy bon bon.

Khi ông nghỉ hưu, giữ thói quen lãnh đạo, lũ con cháu chúng tôi được ông nẹt đến nơi đến chốn. Ông mà giao việc gì thì phải làm “ngay và luôn”, nếu không thì ông nhắc việc ty tỷ lần, vẫn chưa động đậy thì ông nói bằng sống quạt nan và gậy, roi tre, vừa vụt, ông vừa bảo:

– Ngữ chúng mày phải “quân sự” mới xong!

Ông có hộp phấn trắng để cái tủ cạnh giường. Ông ghi nhật ký công việc trên nền gạch ngoài hiên nhà. Cứ bước ra cửa là nhìn thấy việc. Nếu có việc gì bí mật, ông trao đổi với ông chú họ bằng tiếng Pháp. Lũ trẻ tò mò chúng tôi có nghe hai ông nói oang oang, cũng chịu chết không hiểu.

Ông có thói quen bóc lịch tờ. Có tờ ông bóc xong ném toẹt xuống bếp. Có tờ ông cẩn thận giữ lại, ghi chi chít gì đó rồi kẹp vào sổ tay. Vì thế, lịch bloc là không thể thiếu được. Cứ cuối mỗi năm dương lịch, ông biến việc mua bloc lịch mới thành một việc rộn ràng. “Sắp bán lịch năm mới rồi đấy, hôm nào chợ huyện bán nhỉ? Có lịch mới là mua ngay cho ông nhé!”. Ông dặn mẹ tôi ty tỷ lần mỗi khi mẹ chuẩn bị dắt xe đạp ra ngõ đi dạy học trường huyện.

Không đứa nào giành được việc bóc lịch của ông. Mới ngủ trưa dậy, ông đã xăm xắn đi ra bức tường cạnh cửa, xé béng tờ lịch ngày hôm đó.

– Chưa hết ngày ông đã xé lịch – Mẹ tôi kể xấu bố chồng với em dâu – Cái gì ông cũng muốn nhanh, đến thời gian ông còn đẩy tốc đít!

Còn lũ 7X, 8X chúng tôi chả thiết gì đến lịch tờ. Ai cũng như chúng tôi thì phải xóa sổ lịch bloc mất. Chúng tôi xem ngày qua điện thoại, qua Net quen rồi. Có người quen cuối năm biếu tôi một bloc lịch to tổ bố, tôi ơ hờ treo lên tường, chả lẽ lại không treo. Nhưng chúng tôi không hình thành nổi thói quen bóc lịch tờ hàng ngày, bỏ quên có khi cả tuần mới xé cả tập vứt đi. Vứt xấp lịch ngày vào sọt rác rồi mới chợt nghĩ những ngày qua của mình sao mà vội vàng, sao mà vô nghĩa, mình đã làm cái gì vậy, với việc sống của mình? Mình thực sự có những ngày đấy không?

Ông tôi bước vào tuổi chín mươi. Mỗi lần về quê thăm ông, mà thường cũng hiếm hoi, tôi lại thấy ông chống gậy, quờ quạng run rẩy với những ngón tay khô, dăn deo co quắp vì gân co rút, bóc lịch trên tường. Có lúc bóc xong, ông nhìn kỹ tờ lịch, như cố tìm kiếm điều gì.

– Ông vẫn chăm bóc lịch nhỉ? Tôi cười bảo mẹ.
– Gớm, ai mà tranh được với ông. Mẹ tôi bĩu môi – chưa hết ngày đã ra bóc phắt đi. Làm cho xong việc ấy mà. Có hôm ông lại còn bóc kẹp díp mấy tờ một lúc. Bóc lịch trước cả mấy ngày đấy.

Ông nội đã có biểu hiện lẫn lộn, nhưng ông vẫn thỉnh thoảng giao việc cho con cháu, và thúc làm cho xong thật nhanh. Chân yếu, nhưng ông vẫn cố lết đến chỗ treo lịch, bóc đi một tờ để chờ đến ngày mai. Ông mong gì ở ngày mai mà ông bóc lịch sớm vậy? Hay ông không thích ngày hôm nay, thấy nó vô nghĩa, dù gì, thì ông vẫn biết rõ được ngày đó đã thực sự qua rồi. Và ông nhìn thấy một tờ lịch mới, một ngày mới, sờ thấy được, vò nó trong tay, ném nó đi, hay trân trọng giữ nó như một kỷ niệm hiện hữu.

Mức độ lẫn lộn của ông tăng theo thời gian, sức khỏe sút đi, ông quên hầu hết những điều thường cho là quan trọng, nhưng kỳ lạ là ông không quên việc bóc lịch hàng ngày. Ông đi lại khó khăn, run lẩy bẩy, hay ngã nên mẹ tôi thuê một bác giúp việc, chăm sóc ông. Dù phải có người đỡ bên cạnh, nhưng ông vẫn đòi ra cửa bóc lịch.

Sợ ông ngã, năm đó mẹ tôi chủ trương không mua lịch bloc. Sau khi nghe ông chửi mấy ngày đêm, mẹ tôi đành nhượng bộ, đi mua bộ lịch xâu xấu về treo lại chỗ cũ để ông có cái mà bóc hàng ngày.

Ông chỉ còn ăn được mỗi món cháo xay nhuyễn như trẻ ăn dặm, nhưng lịch thì ông vẫn lạng quạng ra bóc đi, bóc xong bỏ vào túi áo quân phục cũ, hoặc đánh rớt trên nền nhà. Mẹ tôi đến nhặt đi, lẩm bẩm:

– Biết ngày nào với ngày nào nữa mà còn bóc lịch!

Một buổi, bác giúp việc ra vườn tưới rau, quay trở vào thấy ông tôi ngã quay lơ ngay dưới bloc lịch, đầu đầm đìa máu. May mà ông không bị tai biến gì, chỉ yếu hơn và lẫn lộn hơn, vệ sinh không tự chủ, phải đóng bỉm như trẻ con.

Cuối năm rồi, mẹ tôi cương quyết không mua lịch bloc nữa. Ông cũng có chửi loáng thoáng vài câu, mẹ tôi xí xóa:

– Ôi giào, đằng nào cũng quá một tháng rồi, mua lịch làm gì nữa.

Nhưng theo thói quen, ông nội vẫn lần sờ cập quạng ra chỗ bóc lịch. Những ngón tay gày khô co rút quơ lên bức tường trống không. Ông ngơ ngẩn bảo:

– Con mẹ mày tệ quá! Sao không mua lịch cho ông? Mua lịch đi, chợ huyện bán đấy.

Ông lẫn cẫn rồi, ông có chửi thì mọi người trong nhà cũng chỉ nhe răng cười.

– Ông vào giường ngủ đi! – Bác giúp việc quát.
– Để vài ngày nữa, sờ không thấy lịch, ông sẽ quên thôi. Chứ cứ để ông đi lại như thế, lạng quạng ngã thì toi – Mẹ tôi giải thích.

Hơn một tháng sau thì ông nội tôi mất, mất rất nhanh. Ông đang ăn cháo, đến miếng cuối cùng thì nghẹn. Cứu không được. Thế là ông đi.

Tôi ở Hà Nội đôn đáo chạy xe về quê trong cơn mưa lạnh. Ông nội nằm đó, mặt phủ tấm giấy bản. Tôi không khóc được lúc ấy, chỉ vơ vẩn nghĩ: Không có lịch bloc để bóc nữa, hay là ông buồn, ông không có cảm giác ngày mai đến nữa, nên ông đã tắt đi?

 

CẦU GON

Kiều Bích Hậu

Đang phất như diều gặp gió trong ngạch đại lý bất động sản, Đoan đột ngột bàn giao việc điều hành cho Phó Giám đốc của mình để tập trung vào một công việc có vẻ lẩn thẩn: nghiên cứu bảo tồn, trùng tu cầu Gon ở quê anh. Phải chăng máu nghề của một kỹ sư xây dựng trong anh lại nổi lên?

Chiếc Jeep được độ năm lần bảy lượt trông hung dữ như một quái thú ầm ầm bò qua cầu Gon đầy vẻ uy hiếp. Chi ngồi ghế sau ngoảnh mặt nhìn cầu Gon như liếc tình địch. Cứ như cây cầu kỳ dị này sắp chiếm mất Đoan của cô. Thanh ngang chắn cầu vẽ lên nền trời một cánh cung đậm được bọc một lớp áo mỏng hồng nhạt màu bình minh.

– Đẹp đấy chứ?! Đoan hất đầu, lập bập điếu thuốc trên môi, nói với người yêu. Chi nghiêng đầu, né tàn thuốc bay vèo qua, nhăn mặt.
– Cũng chẳng thể nào giữ em lại đây được. – Giọng cô thờ ơ.

Chi bỗng đứng thẳng lên, tay bám chặt lưng ghế Đoan. Mái tóc dài mềm của cô, gió thổi bay về phía sau xe. Cô vươn người đón gió. Cảnh tượng ấy đóng khung lại trên mặt sông Gon. Thôi thì mặc kệ ngày mai!

Thả Chi vào ngôi nhà gạch cổ của bà họ mình, rồi Đoan nện giày đinh cồm cộp ra sân, biến mất!

Chi hì hụi cùng bà họ mổ gà, nấu một nồi cháo to và trả lời những câu hỏi bất tận của bà về gia thế, công việc của cô, về mối quan hệ giữa cô với Đoan… Đến quá trưa thì Đoan gọi điện, bảo cô cứ ăn cơm với bà, anh đang thịt rắn nhắm rượu với chú họ rồi.

Cháo gà ngọt thỉu. Chi vừa ăn vừa tò mò nhìn chiếc thìa nhôm mòn vẹt một phía. Nó đã được dùng vài chục năm rồi. Tiếng nó va vào bát sứ cũng đủ ngân lên trong ngôi nhà quá tĩnh lặng.

Tối đến, giữ ý với bà họ, Chi nhất định không chịu nằm chung với Đoan. Cô trằn trọc trên chiếc giường dát tre ọp ẹp, nghe trên tấm phản góc nhà, Đoan đã ngáy đều. Thỉnh thoảng cô lại bật điện thoại xem giờ. Mong sao trời chóng sáng để cô trở lại thành phố. Công việc của cô tuy căng thẳng và nhàm chán, nhưng cô đã quen với nó rồi, hơn là ở đây, dù Đoan ở đây. Giữa công việc và đàn ông, thì đàn bà bây giờ sẽ chọn công việc, dù sao họ sẽ có công việc đến cuối đời, còn đàn ông thì chỉ có một thời.

*        *        *

Sông Gon ngăn cách làng Gôm với làng Kèo. Làng Gôm nằm trên đất bằng còn làng Kèo vắt lên núi. Làng Gôm có thóc còn làng Kèo có vải. Dân hai làng trao đổi thóc và vải cho nhau qua dòng sông Gon. Đò ngang đi đi về về ngày đêm, đầy ắp thóc gạo, vải vóc, dầu đèn… và cả những đám rước dâu. Sợ nhất là mùa lũ tháng chín, nước từ núi tràn về sông Gon, lật thuyền nuốt người. Mùa lũ nào hai làng cũng mất vài mạng người, đến nỗi hai đầu bến đò đều xây hai cái miếu thờ những người bỏ mạng ở khúc sông này. Bên cạnh miếu người ta trồng một cây si, cây si lớn dần thành cổ thụ, mọc thêm nhiều chân, ôm gọn cái miếu vào trong. Bây giờ muốn thắp hương trong miếu người ta phải vất vả luồn tay qua những rễ si lớn.

Trăm năm trước, một nhà buôn xứ Lang sa về đây ngắm cảnh, bước chân lãng du đưa ông qua sông Gon, đến làng Kèo trên núi. Mê một cô gái Kèo đẹp nhất làng, ông bỏ nhiều vàng ra để mua nàng, khi ấy mới mười sáu tuổi và mang về nước. Ba năm sau ông trở lại, xin chính quyền bảo hộ cho ông xây một cây cầu kiên cố bắc qua sông Gon, như để trả nghĩa cho làng Kèo. Cầu được xây bằng kỹ thuật tối tân nhất do chính người ngoại quốc đảm nhiệm, nhân công giỏi cũng thuê tận đẩu đâu, dân hai làng Gôm và làng Kèo chẳng ai được mó tay vào xây cầu, chỉ ngày ngày kéo ra đứng chật hai bờ sông, chống mắt lên xem. Hai bên sông, nơi gần cây si và cái miếu, có hai cái máy to gấp bốn ông voi, ngày ngày gầm rú nhả ra thứ vật liệu lạ để xây cầu. Rồi chính một ông kỹ sư ngoại quốc đã ngã vào máy, trong lúc trèo lên kiểm tra kỹ thuật, và bị xay nhuyễn. Xương thịt ông vĩnh viễn nằm lại trong cầu Gon. Khi cây cầu hoàn tất, người ta đã khắc tên ông lên thành cầu để tưởng nhớ. Đôi khi, nhập nhoạng tối, dân làng Kèo từ lưng chừng núi quả quyết đã nhìn thấy ông kỹ sư Lang sa mặc bộ đồ màu ngà, đội mũ phớt, đứng hút tẩu giữa cầu Gon hóng gió.

*        *        *

Chi tò mò ngắm cánh cửa gỗ thịt với những nét chữ nguệch ngoạc bậy bạ viết bằng phấn trắng của trẻ mỏ “Con Tím vẩu ăn cứt chó khô vè mép”; “Hòe hen bú dái ông già”… Cô ấn mạnh mép cửa nhẵn đen vết tay. Cánh cửa bật mạnh vào phía trong làm Chi giật mình. Cô hơi do dự nhìn vào khoảng không mờ mờ trong cửa, chưa kịp quyết định gì thì như bị bàn tay đẩy mạnh vào lưng, cô dúi dụi lao vào trong căn buồng, nhưng chân cô không chạm vào đâu cả, mà cô lập tức rơi xuống, hàng tỷ lớp mạng nhện quấn thít lấy cô, cô vùng vẫy và không thở được, hơi thở phồng lên trong ngực, thổi phồng hai bầu vú căng to như hai quả bóng khổng lồ, cô há miệng ra kêu thì lập tức mạng nhện ập vào miệng, có cả một con nhện đực với những cái chân lông lá lao vào miệng cô, những cái chân gai của nó quặp chặt mặt cô.

– Chi! Sao thế!?

Đoan phát mạnh vào vai cô. Chi mở choàng mắt, hoảng hốt ngồi dậy. Cô đưa hai tay lên ngực. Không, ngực cô vẫn nhỏ bình thường. Thì ra là ác mộng.

Đoan cúi người nhìn lom lom vào mặt Chi, anh như muốn bảo “lạ nhà khó ngủ hả cô nàng?”

– Đêm qua em trằn trọc mãi. – Chi lấy tay che miệng ngáp, quay mặt đi tránh Đoan – Vừa chợp mắt một tý thì mê sảng. Cái nhà này ám khí kinh quá!
– Bậy nào! Ám trong đầu em thì có. Anh vừa đặt lưng là ngủ như lợn, chẳng mê  mẩn gì!

Chi ngồi im, định thần lại một lúc. Cơn ác mộng rõ rệt đến nỗi cô vẫn nhớ từng chi tiết.

– Cái cánh cửa… Cô thốt lên thành lời.
– Cái cánh cửa gì? Đoan vừa hỏi vừa vươn tay tháo dây màn, gấp lại giúp người yêu.

Chi hấp tấp tụt khỏi giường, bước ra ngoài hiên, cô đi về phía trái, nhìn chằm chằm vào cánh cửa gỗ đóng chặt. Có gì ở trong buồng sau cánh cửa kia?

– Buồng đấy của cụ nội anh. Sau đến ông bà nội anh ở. Hồi bà nội mất thì đóng chặt cửa, con cháu ở thành phố cả. Bà họ anh trông nom nhà này, cũng ít khi mở ra quét dọn. – Đoan đứng sau lưng Chi, giải thích.

Chi khẽ chạm tay lên dòng chữ phấn trắng: “Con Tím…”

– Tím là tên bà cô ruột của anh – Đoan phân trần, các cụ xưa cũng nghịch khiếp!
– Nhưng tại sao em nhìn thấy đúng dòng chữ này, trong giấc mơ…
– Chắc là chiều hôm qua, em tò mò định mở cửa này vào xem, nên tối ngủ mơ đấy hẳn? Đoan hỏi.

“Chiều hôm qua mình chỉ lẩn thẩn ra vườn chơi, chứ có đứng trước cánh cửa này đâu nhỉ?” Chi nghĩ.

Cô giơ tay ra, bàn tay lơ lửng trong không khí. Vừa nãy mình mừng vì thoát khỏi ác mộng, giờ lại định mở cửa làm gì? Chi lưỡng lự trước thôi thúc muốn tìm ra nguyên cớ của ác mộng. Nhưng mà, cô đã quyết định đầu tư tương lai của mình vào Đoan đâu?

– Căn buồng này là nơi bọn trẻ chúng anh bị cấm vào. Lệnh cấm nghiêm đến nỗi bây giờ anh vẫn còn chùn chân mỗi khi định mở cửa đấy.

Đoan đút hai tay vào túi quần, nhìn cánh cửa gỗ loằng ngoằng vết phấn, những vết bẩn, vết dao khắc tên, tất cả đều mù mờ trong lớp bụi phủ của thời gian. “Căn nhà này thiếu vắng hẳn sự chăm sóc của một thế hệ. Đó là thế hệ cha mẹ anh, họ thoát ly ra thành phố. Còn anh chỉ có bảy năm đầu đời gắn với căn nhà”. Đoan chợt lắng lại suy tư.

– Có ai… chết trong buồng này không? Chi chợt hỏi.
– Có chứ. Cụ ông, cụ bà, rồi ông, bà nội anh đều hấp hối rồi đi trong đó cả. Cụ nào đi rồi thì con cháu đốt  dát giường, chiếu, dọn sạch để thế hệ kế tiếp vào ở.
– Thế thì… không có ai chết trẻ ở trong buồng đâu nhỉ. Chi lẩm bẩm.
– Làm gì có… cơ hội! – Đoan nói – các cụ già mới ở trong buồng, các con cháu ở cả nhà ngoài. Ơ, mà sao em hỏi linh tinh chuyện chết chóc làm gì thế nhỉ? Đi rửa mặt rồi kiếm cái gì ăn sáng.

Bà họ đã để một rổ khoai lang tím giữa hiên bốc khói thơm ngọt. Bà lụi cụi lôi dưới gầm chõng ra ba cái ghế gỗ con đặt quanh rổ khoai. Đoan tong tả vào nhà bê ra cái khay gỗ sơn đựng chén, ấm ủ nước vối. Đoạn, anh nắm tay Chi kéo xuống ngồi cạnh rổ khoai.

– Bữa sáng của Thượng Đế đây!

Đoan xuýt xoa thổi phù phù củ khoai nóng hổi rồi bóc vỏ đưa cho Chi. Bà họ nhăn nheo cười độ lượng, nhấp một ngụm nước vối đặc cho đỡ tắc cổ rồi lại cúi xuống củ khoai lang tím bóc dở. Buổi sáng sớm thu trong veo, lác đác vài tiếng cu gáy rúc đầu hiên, gió xạc xào bâng khuâng bứt vài chiếc lá nhãn vàng già thả xuống sân gạch đỏ au. Ba người ngồi giữa hiên như những pho tượng, hòa vào với cảnh sắc, tan vào không khí mùa thu. Một khoảnh khắc thiền định không có ranh giới sống – chết.

Thật lạ, Đoan khoái và sung sướng cho dù bữa sáng của anh không có cà phê, thuốc lá và một tờ Thanh niên mới.

Chi ngậm miếng khoai lang bở như đỗ, ngòn ngọt trong miệng. Dù sao thì cô vẫn cứ đi.

Bà họ nhấp liền hai ngụm nước vối. Giờ ăn cái gì cũng nghẹn. Lũ trẻ mà không có đứa nào về giữ nhà giữ đất trông nom bàn thờ tổ tiên thì bà muốn đi đâu cũng chẳng được, dù là đi lên thiên đàng. Bà hấp háy cặp mắt đục lờ nhìn Đoan hy vọng.

*        *        *

Dần ngồi tựa lưng vào thành cầu Gon. Gió sông vi vút luồn qua thành cầu, thổi phồng tấm áo vải mộc mới của Dần. Đêm nay mùng chín lịch âm, gió thơm mùi trăng non, nhưng chẳng thể làm dịu nỗi ấm ức trong lòng Dần. Chàng hít sâu, thèm một hơi thuốc rê bà nội chàng tự quấn. Thứ thuốc lá hái trong vườn nhà, thái nhỏ, ủ, phơi, sao rồi tự quấn bằng giấy bản, xịt hương liệu va-ni nhập từ Lang sa, điếu to bằng ngón cái, hút rất đã. Làm cả điếu thì đến trâu cũng say đổ kềnh. Ờ, mà sao giờ này chàng lại nghĩ đến thuốc, có lẽ để thời gian chờ Hòe bớt dài. Nàng có thể đến muộn, nhưng chưa bao giờ lỡ hẹn với người yêu. Cả ngày, cả đêm lòng chàng chỉ nghĩ về Hòe, nhớ từng lời nàng nói, nhớ ngực áo phồng lên tròn trịa, nhớ bàn tay ngón nhỏ ấm nồng rất hiếm khi chàng nắm được, nhớ những nốt ruồi nhỏ trên cặp má mịn màng, trên cánh mũi, trên cằm nàng… Chàng có nhớ bao nhiêu cũng không đủ nỗi ham muốn nàng. Chỉ có thể cưới nàng về làm vợ, giữ chặt nàng trong buồng cưới, để nàng chỉ là của riêng chàng thôi. Vậy mà, Hòe lại là chị họ của Dần. Bà nội Dần và ông ngoại Hòe là hai anh em ruột. Nhất định, các cụ hai bên cấm tiệt, Dần không thể cưới Hòe, chị họ gần của chàng, làm vợ được. Thế là loạn luân. Nhưng mà, chàng thiết tha biết bao được ngấu nghiến cặp môi dày, mềm thơm của nàng, sục đôi bàn tay khao khát vào ngực áo nàng, mà chàng cảm nhận rõ nó rung rinh nhẹ theo mỗi bước chân nàng trên đường. Thế giới này ngọt ngào xiết bao khi có nàng. Chỉ có gần gũi nàng cách ấy thì chàng mới cảm nhận một cuộc sống an toàn và ấm áp, đủ đầy. Chàng biết chắc, chàng sinh ra là để sống với nàng. Những người đàn ông trong dòng họ Mạc nhà chàng, người đầu cơ thóc, người buôn vải lẫy lừng bến Gon, người mở mang điền địa… nhưng chàng từ ngày vướng vào ánh nhìn phiêu diêu của Hòe, và nỗi ám ảnh từ đôi gò bồng đảo căng dưới lần áo lụa trắng của nàng, thì chàng chẳng thiết tha gì với nghiệp vận tải cha chàng hướng cho. Chục cái xe ngựa kéo chạy tuyến đường nối huyện với thôn kìn kìn hàng ngày bây giờ cũng bữa đực bữa cái. Chàng hầu như bỏ bê chuyện làm ăn từ hôm cha chàng cấm tiệt chàng đi lại với Hòe…

Cánh mũi Dần động đậy. Mùi thơm non da thịt thiếu nữ thoảng qua chàng. Chàng ngoảnh mặt về phía làng Gôm. Bóng áo lụa rõ lên trong trăng non. Trong gió sông se lạnh, chàng đã cảm nhận hơi ấm của nàng. Chàng đứng bật dậy, đi về phía nàng. Hòe xõa tóc trông càng đẹp, mái tóc dày của nàng vờn quanh gương mặt tròn đông phương bí ẩn, đổ xuống bờ vai như mời mọc ánh mắt hút xuống. Có lẽ nét quyến rũ nhất là bộ ngực tròn căng của nàng cứ lồ lộ dưới lớp áo lụa. Dần đưa tay ra đón nàng, họ ập vào nhau, chẳng hề thốt một lời nào nữa. Có đến hàng thế kỷ đã trôi qua, đôi trẻ không được gặp nhau. Cấm đoán của hai dòng họ như đổ thêm dầu vào lửa.

Dần để Hòe tựa vào thành cầu Gon, tay trái đỡ eo nàng, ta phải chàng tham lam lùng sục. Môi chàng đã khóa kín miệng nàng tự thuở nào. Ngực nàng, căng nở to và ấm đến mức không chịu đựng nổi. Chàng để dành nó đã quá lâu rồi. Chàng cuống quít đặt nàng xuống mặt cầu Gon, rời khỏi môi nàng, vục mặt vào ngực nàng, hai tay chàng vội vã lần xuống cạp quần lụa của nàng. Nàng rên khẽ, tuồng như chống đối, nhưng hai bàn tay nàng lại xoắn chặt lấy vai chàng. Nàng đã ướt nhẹp và tỏa hương quyến rũ, bàn tay chàng bóp nắn cuống cuồng, rồi không chịu đựng thêm nữa, chàng đưa thẳng vào trong nàng, cứng ngắc và mạnh mẽ. Nàng kêu lên trong sự hòa trộn khó tả của đau đớn lần đầu với khoái cảm trào dâng. Cả vũ trụ, cả dòng sông Gon cuồn cuộn chảy hút vào bên trong nàng. Nàng ưỡn mãi lên nhịp vào đam mê, đón hứng hòa tan và bay bổng.

Cả dòng sông thấm đẫm mùi yêu đương, cả ánh trăng cũng thế, dù non nớt. Dần cố ghìm nhịp thở, tay run rẩy gài lại khuy áo ngực cho nàng, ngực nàng lớn quá và vẫn nở căng, tay chàng gài trật mấy lần. Mắt chàng nhòa đi, nàng như tan biến vào lòng cầu Gon, cả chàng cũng thế. Bây giờ, chàng và nàng đã hòa làm một rồi, không gì có thể chia cắt, không luật lệ nào có thể ấn định. Hai thân thể họ, vượt qua mọi định kiến, đã nối liền với nhau bằng một kết giao nghi thức thiêng liêng của vũ trụ.

*        *        *

Chi trở lại thành phố rồi. Đoan ngồi bệt lên hai hòn gạch kê góc vườn với một bao ba số. Khói thuốc thơm lởn vởn lặng lẽ trong nắng chiều nhàn nhạt. Anh nhớ cô và băn khoăn. Dù anh đã biết trước và chuẩn bị tư tưởng. Ngày hôm nay trôi chậm và nặng như đá đeo, đành chịu, bởi cái gì cũng cần thời gian cho nó. Ngày mai Đoan sẽ nghĩ về cầu Gon. Trước mắt anh là cầu Gon. Anh đã chọn gắn với nó như một ý nghĩa của cuộc đời mình. Một cây cầu cổ, cũ kỹ, giá trị thì cũng còn tùy mà một trai trẻ có chút tài kinh doanh như anh lại chọn gắn với nó thì cũng bất thường trong mắt mọi người. Nhưng anh cần gì mọi người!? Thị trường bất động sản, khi anh đã quá rành và hiểu đến tận gốc rễ, thì anh lại không thích nó nữa. Nó như một con đĩ xanh đỏ phồng phào làm hàng, với những giá trị chưa bao giờ là thật, hoàn toàn phù phiếm và mang tính kỹ thuật.

Phía trước anh là cầu Gon, với nhiều điều chưa biết về nó. Cây cầu bẻ gãy bàn tay tham lam của thần chết tại khúc sông tử thần thay đổi diện mạo kinh tế của hai làng, đẩy mạnh nhịp sống, nhưng cũng làm nhiều thêm thói điếm đàng, cùng những đứa con hoang. Số con hoang thể hiện sự phóng túng của làng… Nhưng vì thế mà hai làng giống nhau hơn, làng nọ bắt chước làng kia, mà thói hư tật xấu lại luôn lẹ chân hơn lẽ phải. Và rồi ông kỹ sư ngoại quốc kia nữa, không chỉ gửi thân xác trong cầu, ông còn gửi vào đó ý nghĩa kết nối nào, phải chăng thượng đế đã sắp đặt điều ấy? Để cây cầu bắc qua cõi sống và cõi chết?

Đoan dụi mạnh đầu mẩu thuốc xuống gốc cỏ, đứng lên phủi đít quần rồi lững thững đi về hướng nhà chính. Anh đã thấy trước mặt mình là cánh cửa buồng cụ ông cụ bà. Hôm qua, Chi đã lưỡng lự và cuối cùng không mở nó ra. Đoan ngửi thấy mùi mốc, mùi đồ đạc cũ tỏa ra đậm đặc từ cánh cửa, cái mùi giằng giữ con người với quá khứ, dễ làm người ta mủi lòng với ký ức. Anh giật nhẹ cái ổ khóa đồng to bằng bao diêm:

– Bà họ ơi, cho cháu mượn chìa khóa buồng này tý?

Bà họ anh xẩm xờ lại gần, vạch mấy lần vạt áo cánh, lôi cái chìa khóa đồng buộc mẩu dây điện ố vàng từ túi áo trong, đưa cho anh, nó ấm hơi thân thể bà.

– Anh vào mà thắp hương cho các cụ – Bà đưa ngón cái quẹt nước cốt trầu rịn ra hai mép, rồi xoa vào lòng bàn tay – Giờ bà mệt rồi, chỉ tuần rằm mồng một mới vào quét dọn. À, mà anh đừng xê xích đồ đạc của các cụ nhé.

Đoan cực khâm phục các thế hệ trước mình về cái quan điểm tôn trọng lịch sử ấy. Căn buồng này được trang bị đồ đạc từ năm đời trước, cái gì ở đâu, vẫn đặt nguyên đó, các thế hệ sau vào ở có thể thêm vài món mới, trên nguyên tắc đồ giản tiện, bền, quý, thật quý giá để con cháu có thể sử dụng, và vì tiếc mà không nỡ bỏ đi. Anh ít khi vào căn buồng gia tộc này, nhưng ấn tượng mạnh mẽ đến nỗi, anh tưởng như vẫn nhìn thấy ông bà mình đang ngồi hai cái ghế lim với tựa lưng cẩm thạch kia, nhìn anh với cặp mắt nghiêm nghị mà ấm áp.

Anh chợt chú ý đến một khung ảnh đen trắng treo trên tường, ngay phía trên hai lưng ghế cẩm thạch. Như sự thức tỉnh, như sự lôi kéo, anh tò mò gỡ khung ảnh, mang ra ngoài hiên để xem cho rõ dưới ánh mặt trời. Bụi phủ mờ kính, điểm vệt cứt gián lốm đốm đen, nhưng anh vẫn thấy một cụ ông quắc thước râu dài, đội khăn xếp, mặc áo the, xung quanh là ba cặp vợ chồng trung niên, một đàn đông đúc cháu chắt đứng ngồi. Ảnh cũ là công cụ hữu hiệu nhất để lần lại lịch sử, quá khứ.

Đoan chợt bị hút vào một gương mặt trai trẻ, tóc cạo nhẵn xung quanh, để chỏm ngắn dựng đứng điệu nghệ và kỳ quặc, vẻ mặt ma mị với đôi mắt sâu hoắm, ánh tia nhìn tinh quái.

Anh với cái giẻ cũ vắt trên dây phơi, lau đi lau lại mặt kính khung ảnh.

– Bà họ ơi, đây là ông trẻ Dần phải không ạ?

Bà họ anh cẩn thận chấm hai khóe mắt cập kèm bằng tấm khăn mù xoa cũ mốc đen, rồi nhìn bức ảnh hồi lâu, giọng lo ngại.

– Ừ, ông trẻ Dần đấy chứ ai! Mà sao cháu lấy khung ảnh xuống làm gì? Xui xẻo lắm! Bà lắm lúc còn chẳng dám lau bụi nữa là…
– Cháu khỏe vía hạng nhất bà ạ, đừng lo! – Đoan xoa xoa lưng bà họ, yên ủi – Ma mãnh gặp cháu là chạy mất vía.
– Để rồi anh xem – Bà họ như muốn né ra khỏi bức ảnh – Chứ tôi thì chứng kiến mấy bận, hãi lắm. Ông nội anh chuyển ảnh treo chỗ khác, thế là hôm sau chặt cây tre cũng chặt phải ngón tay, mất luôn ngón trỏ. Rồi thằng Bò, gỡ ảnh xuống lau, bỏ quên trên bàn đúng một ngày, thế mà đi bừa thế nào lại bị răng bừa xiên vào bắp chân sâu hoắm…
– Tai nạn chẳng may trùng lặp thôi bà ơi. Cháu muốn treo ảnh này ra phòng ngoài để con cháu về chơi còn nhìn thấy các cụ. À, mà ông trẻ Dần làm sao chết trẻ vậy bà? – Đoan tay cầm khung ảnh, mắt ngó nghiêng tìm vị trí thích hợp trên tường phòng khách để treo bức ảnh quý.

Bà họ chắp tay trước bụng, đứng cách anh một quãng, sẽ sàng kể:

– Hồi ông trẻ chết, hai làng đồn đại nhiều lắm. Sự thực thì chỉ người chết với một người nữa biết. Người còn lại đã lưu lạc nơi nào. Hồi ấy ông trẻ Dần là con nhà giàu, nhiều gái mê lắm, nhưng trộm vía ông đổ đốn ra mê bà Hòe, là chị họ gần. Chuyện rắc rối to, các cụ hai bên họp họ, ra chỉ cấm tiệt. Quẫn lên, ông trẻ Dần kéo bà Hòe lên cầu Gon tình tự rồi rủ nhau lao xuống sông Gon tự vẫn. Dân làng móc máy bảo là ông Dần nhảy trước, rồi bà Hòe sợ quá không dám nhảy, ngồi trên cầu khóc đến sáng rồi bỏ làng đi. Ông Dần thành ma rồi, mà đợi mãi không thấy bà Hòe đâu, nên không thỏa chí. Thỉnh thoảng ông ấy vẫn hiện lên cầu, dụ dỗ con gái nhảy xuống sông đấy cháu ạ.

Đoan cười thành tiếng:

– Thế từ hồi ấy đã có cô nào nghe xúi dại mà theo ông xuống sông chưa, bà họ?
– Có ba cô chứ ít đâu – Bà họ dường như say câu chuyện do chính mình kể, đứng sát lại gần Đoan, giọng thì thào như sợ người nghe trộm – Gần nhất là cô H