Chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc

Quỹ hỗ trợ nghiên cứu Biển Đông là quỹ xã hội không vì lợi nhuận được thành lập từ năm 2013, theo Giấy phép thành lập và công nhận Điều lệ Quỹ số 934/QĐ-BNV do Bộ Nội vụ cấp ngày 14/08/2013, có mục tiêu thúc đẩy việc nghiên cứu và phổ biến kiến thức về Biển Đông, góp phần bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam và gìn giữ hoà bình, ổn định và hợp tác phát triển trong khu vực. Trong đó, giải thưởng Nghiên cứu Biển Đông bao gồm: Giải bài nghiên cứu xuất sắc về Biển Đông trong giới học sinh, sinh viên; Giải công trình nghiên cứu Biển Đông xuất sắc dành cho giới học giả, cán bộ nghiên cứu; Giải báo chí xuất sắc viết về Biển Đông.

Vansudia.net xin giới thiệu chùm bài viết “Chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc” của nhóm tác giả: Phan Thanh Đà Hải (bút danh Anh Dũng) và Nguyễn Quốc Toàn (bút danh Bảo Khương) – Báo Tài nguyên & Môi trường đạt giải Báo chí đặc biệt xuất sắc về biển Đông năm 2018.

 

CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC 

Dấu ấn từ Kinh thành

Ý thức sâu sắc tầm quan trọng của biển đảo về vị trí quân sự, giao thông, mậu dịch, khai thác các nguồn lợi thủy hải sản… triều Nguyễn đã có một hệ thống chính sách nhất quán về biển đảo. Đó là xây dựng hệ thống phòng thủ ven biển, xây dựng lực lượng hải quân, ban hành và thực hiện các chính sách về quản lý thuyền bè, tuần tra, cứu hộ, cứu nạn và chống hải tặc trên biển, xác lập và thực thi chủ quyền trên các đảo và hai quần đảo Hoàng SaTrường Sa.

Cửu Đỉnh tại Thế Miếu thuộc Kinh thành HuếCửu Đỉnh tại Thế Miếu thuộc Kinh thành Huế

Từ những đội thủy quân tuần tra biển đảo

Triều Nguyễn được thành lập từ năm 1802, nhưng trước đó hơn 200 năm, kể từ năm 1558, các đời chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần đã có công lao to lớn trong việc mở mang bờ cõi, bao gồm toàn bộ đất miền Nam và vùng biển đảo phía Nam và Tây Nam của Tổ quốc.

Theo Đại Nam nhất thống chí, nhà Nguyễn đã xây dựng gần 100 pháo đài, đồn lũy, cửa tấn tại các vùng cửa biển, trên các đảo gần bờ từ Quảng Yên đến Hà Tiên. Dưới thời vua Gia Long, đội thủy quân của nhà Nguyễn có 1.482 chiếc thuyền, trong đó có 490 chiến thuyền, 77 đại chiến thuyền, 66 thuyền lớn kiểu châu Âu. Hạm đội hải quân của triều Gia Long ở Biển Đông có cả những pháo thuyền chở được 16 đến 22 khẩu đại bác. Triều Nguyễn có cả một xưởng đóng tàu ở cảng Sài Gòn, kỹ thuật có thể cạnh tranh với những xưởng tốt nhất ở châu Âu.

Minh Mạng – vị vua thứ hai của nhà Nguyễn là người đã tiếp nối chính sách của vua cha là Gia Long về phát triển thủy quân, đưa thủy quân triều Nguyễn trở thành lực lượng hùng hậu ở Đông Nam Á thời bấy giờ. Dưới triều Gia Long, thủy quân có khoảng 17.000 người, đến thời Minh Mạng tăng lên đến gần 29.000 quân.

Thư tịch cổ thời NguyễnThư tịch cổ thời Nguyễn

Minh Mạng là vị vua có ý thức học hỏi, tiếp thu khoa học kỹ thuật đóng thuyền tiên tiến của Phương Tây. Năm 1822, vua Minh Mạng cho mua một chiếc tàu bọc đồng của Pháp đưa về công xưởng tại Huế làm mẫu để đóng các thuyền khác. Năm 1838, vua Minh Mạng cho mua một chiếc tàu máy hơi nước của Pháp, đem về tháo ra nghiên cứu đóng thử. Một năm sau, Việt Nam đã đóng thành công hai tàu máy hơi nước, và hai chiếc tàu đó được đặt tên là Vân Phi và Vụ Phi. Như vậy, từ năm 1839, Việt Nam đã có ba chiếc tàu hơi nước. Điều đó cho thấy, từ thời Minh Mạng, thủy quân Việt Nam đã rất hùng mạnh.

Xây dựng lực lượng thủy quân, ban hành và thực hiện các chính sách về quản lý thuyền bè, tuần tra, cứu hộ, cứu nạn và chống hải tặc trên vùng Biển Đông, nhà Nguyễn đã thể hiện tầm nhìn chiến lược đối với lãnh hải quốc gia. Từ thời các chúa Nguyễn đến thời các vua Nguyễn, việc thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngày càng được đẩy mạnh. Thời các chúa Nguyễn đã thành lập Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải để thực thi các nhiệm vụ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Các vua Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng đã thực thi hàng loạt các hoạt động thể hiện chủ quyền như thăm dò, kiểm tra, kiểm soát, đo đạc, vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, trồng cây để người qua lại dễ nhận biết, khai thác hóa vật, hải sản, tổ chức thu thuế. Trong lịch sử khai thác và thực thi chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, triều Nguyễn đã khẳng định được vị thế độc tôn và mang lại hiệu quả to lớn cho đất nước trong một thời gian dài.

Châu bản triều NguyễnChâu bản triều Nguyễn

Tất cả những việc làm của các chúa và vua nhà Nguyễn đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là việc làm cấp nhà nước, có nguyên tắc, khen thưởng và xử phạt theo phép nước phân minh. Rất nhiều tài liệu như thư tịch cổ, bản đồ, khảo cổ học ở Việt Nam đều chứng minh chủ quyền không chối cãi của Việt Nam ở hai quần đảo này.

Đến những châu bản thời Nguyễn

Thống kê của Trung tâm lưu trữ quốc gia 1 cho biết châu bản triều Nguyễn xếp thành 734 tập, với hàng ngàn đơn vị văn bản, trong đó có nhiều văn bản liên quan đến Hoàng Sa. Những châu bản hiện nay nói về công việc thực thi nhiệm vụ của các đội Hoàng Sa, ngư dân ở quần đảo này được thể hiện rất rõ ràng. Nhiều cơ quan của triều đình cùng tham gia, mọi công việc đều có báo cáo cụ thể, việc thưởng, phạt được ban chiếu chỉ theo đúng nguyên tắc nhà nước.

Nhiều đoàn khảo sát liên tục được cử ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để cắm mốc, đo vẽ bản đồ. Mỗi đội đi về đều có báo cáo. Châu bản ngày 12/2 năm Minh Mệnh thứ 17 (1836) của Bộ Công ghi rõ tên người trưởng đoàn thuyền đi cắm cột mốc chủ quyền là Phạm Hữu Nhật, giữ chức Chánh đội trưởng thủy quân, lời phê của vua rất rõ “Các thuyền được phái đi Hoàng Sa, mỗi thuyền mang 10 mộc bài (cột gỗ), mỗi cột dài 4 đến 5 thước, dày 1 tấc, các viên cai đội thủy quân vâng mệnh đi Hoàng Sa khảo sát, đến đó thì cắm mốc đánh dấu. Hãy tuân mệnh”- Đó là dấu mốc rất quan trọng trong việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam.

Châu bản ngày 21/6 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838)Châu bản triều Nguyễn

Châu bản ngày 21/6 năm Minh Mệnh thứ 19 (1838) cho biết kết quả của đoàn khảo sát Hoàng Sa năm 1838 đã khảo sát được 25 đảo trong đó có 13 đảo được khảo sát lần đầu. Châu bản ghi rõ “Theo viên dẫn đường Vũ Văn Hùng, toàn bộ xứ Hoàng Sa có 4 vùng, lần này khảo sát được 3 vùng, vùng ở phía Nam, khá xa, gió Nam thổi mạnh, việc khởi hành không tiện, xin đợi sang năm đến đó, lại xem xét 4 bản đồ mang về, cùng một bản nhật ký chưa được tu sửa hoàn chỉnh, xin cho Bộ thần (Bộ Công) thẩm tra kỹ cho họ chỉnh sửa hoàn chỉnh mới dâng trình. Như vậy, từ đầu thế kỷ XVII thời các chúa Nguyễn đến nửa đầu thế kỷ XIX thời nhà Nguyễn, Đội Hoàng Sa đã làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa. Điều này khẳng định, Việt Nam đã xác lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa theo đúng quy tắc của luật pháp quốc tế.

Sách Đại Nam thực lục chính biên (1848) cũng như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ đều ghi chép rất rõ về các chuyến đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành có vệ thuỷ quân là chính, phối hợp với vệ giám thành và tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định. Vua Minh Mạng đã nhiều lần ra chỉ dụ thưởng, phạt. Thường thì dân binh Đội Hoàng Sa luôn được thưởng 1 hay 2 quan tiền và miễn thuế vì sự vất vả và nguy hiểm.

Châu bản ngày 13/7 năm Minh Mạng 16 (1835) ghi rõ về trường hợp cai đội được phái đi Hoàng Sa, khi trở về dềnh dàng quá hạn…bị phạt đánh đòn 80 trượng nhưng gia ân cho tha, ba thành viên có trách nhiệm vẽ bản đồ chưa rõ ràng cũng bị phạt 80 trượng nhưng đều chuẩn cho tha.

Cùng với những tư liệu thư tịch cổ, 9 chiếc đỉnh đồng (Cửu Đỉnh) Châu bản triều Nguyễn

Cùng với những tư liệu thư tịch cổ, 9 chiếc đỉnh đồng (Cửu Đỉnh)  hiện đặt ở trước sân Thế Miếu trong Đại Nội (Kinh thành Huế hiện nay) cũng là một nguồn tư liệu chứng tỏ Việt Nam có chủ quyền trên biển Đông. Chín chiếc đỉnh đồng được đánh giá là “Một bộ Đại Nam nhất thống chí bằng hình ảnh vô cùng độc đáo. Những hình ảnh được khắc trên chín đỉnh đồng là hình ảnh của đất nước với đầy đủ núi sông, lãnh hải, cửa biển, cửa ải, động vật, thực vật, những thành tựu về kiến trúc, binh khí, xe thuyền…  Đặc biệt trên ba chiếc đỉnh của ba vị vua đầu triều Nguyễn là Cao Đỉnh, Nhân Đỉnh và Chương Đỉnh đều có khắc hình ảnh biển Đông, biển Tây và biển Nam.

Núi, sông, lãnh hải được xem là hình ảnh tượng trưng của đất nước. Trên Cửu Đỉnh, chúng ta có thể tìm thấy 9 ngọn núi lớn của cả ba miền đất nước, đó là núi Thiên Tôn, Ngự Bình, Thương Sơn, Hồng Lĩnh, Tản Viên, Núi Duệ, Đại Lãnh, Hải Vân, Hoành Sơn; 9 con sông lớn là sông Hậu, sông Tiền, sông Mã, sông Bạch Đằng, sông Hồng, sông Hương, sông Gianh, sông Thạch Hãn, sông Lam.

Hình ảnh biển Đông rộng lớn được thể hiện trên chiếc đỉnh lớn nhấ
Châu bản triều Nguyễn

Hình ảnh biển Đông rộng lớn được thể hiện trên chiếc đỉnh lớn nhất, cao nhất, là trung tâm của 9 chiếc đỉnh, đó là Cao Đỉnh (ứng với vua Gia Long). Biển Đông chỉ vùng biển phía Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam, thông với Thái Bình Dương ở phía Bắc. Trong biển Đông có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trên Nhân Đỉnh (ứng với vua Minh Mạng) thì có biển Nam. Biển Nam chỉ vùng biển phía Nam thuộc chủ quyền của nước ta. Trong vùng biển này có nhiều hòn đảo như đảo Đại Kim, Mãnh Hỏa, Nội Trúc, Phú Quốc, Thổ Châu, chúng ta cũng tìm thấy hình biển Tây trên Chương Đỉnh (ứng với vua Thiệu Trị). Biển Tây là vùng biển nằm về phía Tây thuộc chủ quyền của nước ta, tiếp giáp với hải phận của Thái Lan, được gọi chung từ xưa là vịnh Thái Lan.

Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh là ba đỉnh to cao nhất và quan trọng nhất, tượng trưng cho ba vị vua đầu tiên của triều đại, trên ba chiếc đỉnh đó đều có hình ảnh vùng lãnh hải Việt Nam – Đó là những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam trên biển đảo.

Theo nhà nghiên cứu Dương Phước Thu thì “Nhà Nguyễn chỉ khắc trên đỉnh những gì thuộc về mình. Cho nên, những gì có trên Cửu Đỉnh chính là thuộc về Việt Nam”. Thực tế, trên Cửu Đỉnh không hề có hình khắc biển Bắc.

Triều Nguyễn – Triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam, cũng là triều đại có công lao to lớn trong việc xác lập và thực thi chủ quyền của người Việt trên toàn bộ vùng biển đảo và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những gì cha ông để lại cho chúng ta ngày hôm nay là những trang sử anh hùng, thấm đẫm máu, mồ hôi và trí tuệ của nhiều lớp người đi trước trong việc bảo vệ, xây dựng đất nước Việt Nam rộng lớn.

Đến làng mạc

Việc các làng lưu giữ được những văn bản quý là một minh chứng hùng hồn cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa không chỉ ở tầm quốc gia mà còn ở Thế giới bởi ghi lại người thật, việc thật với nội dung rất rõ ràng. Điều đáng trân quý là chính những người nông dân đã góp công sức trong việc lưu giữ, cung cấp những bằng chứng còn nguyên giá trị lịch sử này, đó cũng là ý thức và niềm kiêu hãnh về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia…

Thầy Thích Pháp Niệm chỉ rõ tên ngài cai đội Hoàng Sa, Nguyễn Hữu Niên được khắc trên đại hồng chung còn lưu giữ ở chùaThầy Thích Pháp Niệm chỉ rõ tên ngài cai đội Hoàng Sa, Nguyễn Hữu Niên được khắc trên đại hồng chung còn lưu giữ ở chùa.

Bảo vật Hoàng Sa từ làng quê

Hàng năm cứ vào độ cuối đông, đầu xuân cũng là lúc bà con họ tộc Nguyễn Hữu làng An Nông, xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế đem Tập phổ hệ – một báu vật của họ tộc ra phơi ủi ngăn nắp. Đối với họ tộc Nguyễn Hữu, việc làm này vừa có ý nghĩa bảo vệ được sắc phong quý báu khỏi ẩm ướt do thời tiết của mùa đông kéo dài, một phần giúp bà con trong dòng họ gợi nhớ ơn công đức ngài cai đội Hoàng Sa đã quên mình bảo vệ biển đảo, đem lại ấm no, danh dự cho xóm làng.

Cầm trên tay Tập phổ hệ vừa mới đem phơi nắng, ông tộc trưởng Nguyễn Hữu Hùng dùng bàn tay đặt nhẹ trên bàn, miệng rỉ rả những câu chuyện xung quanh báu vật của họ tộc mà chính ông là người cất giữ bấy lâu nay, ông tự hào kể: “Thời ông cụ thân sinh của tui còn sống thường hay kể tôi nghe câu chuyện về ngài cai đội của họ tộc vinh dự được vua ban tước Hiến Đức hầu. Theo lời kể của ông cụ thân sinh hồi đó, cả làng An Nông có Chiếu Vua ban tìm người ra trấn ải vùng biển đảo, trong làng có trên 50 trai tráng mạnh khỏe đăng ký tham gia vậy mà duy chỉ có ngài Nguyễn Hữu Niên được triều đình chọn. Khi cụ được chọn ra làm cai đội ở Hoàng Sa cả làng và họ tộc Nguyễn Hữu vinh dự  lắm. Ngoài việc được vua ban thưởng trọng thị, cứ đến XuânThu nhị kỳ, con dân làng và họ tộc Nguyễn Hữu được miễn, giảm tô thuế”.

Bài vị ngài Nguyễn Hữu Niên được đặt trang trọng sau hậu điện chùa Tiên LinhBài vị ngài Nguyễn Hữu Niên được đặt trang trọng sau hậu điện chùa Tiên Linh

Những điều ông Nguyễn Hữu Hùng kể lại được tìm thấy trong gia phả việc ngài cai đội Nguyễn Hữu Niên, làng An Nông, xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc được vua nhà Nguyễn phong tước Hiến Đức hầu vì có công trấn giữ Hoàng Sa đã được nêu rõ trong tập phổ hệ mà chính ông tộc trưởng dòng họ Nguyễn Hữu đang cất giữ, trong đó ghi rõ: “Đệ cửu thế Tiên Tổ khảo nguyên tiền thừa thụ Tây triều thượng thị châu ấn đại đô uý, tái thụ Nguyễn triều khai quốc sắc phong khâm sai cai đội dinh, Sách Trường hầu Nguyễn Hữu Niên quý công, tam nguyệt thập lục nhật kỵ, mộ táng Cồn Bàng tọa canh hướng giáp,… Tiên tổ danh tước do bản xã tự tịnh hồng chung hiện hữu phụng tự minh chí”.

Dịch nghĩa: “Đời thứ chín Tiên tổ khảo là ngài Nguyễn Hữu Niên trước có nhận của triều Tây Sơn chức đại đô uý, sau đến đầu triều Nhà Nguyễn lại nhận sắc phong chức khâm sai cai đội tước Sách Trường hầu, kỵ ngày 16 tháng 3, mộ táng tại Cồn Bàng, tọa canh hướng giáp… Danh tước ngài tiên tổ do chùa bản xã thờ tự và hồng chung khắc ghi”.

Đình làng Mỹ Lợi nơi còn cất giữ những bản sao hiện vật liên quan về chủ quyền Hoàng Sa là của Việt NamĐình làng Mỹ Lợi nơi còn cất giữ những bản sao hiện vật liên quan về chủ quyền Hoàng Sa là của Việt Nam

Qua một số tư liệu chúng tôi thu thập trong quá trình thực hiện bài viết, ngài cai đội Hoàng Sa Nguyễn Hữu Niên được phong rất nhiều chức vụ, danh tước, nhưng qua thời gian, bây giờ chỉ còn lại những tấm bằng đã mục nát và được ghi lại trong sổ sách gia phả. Về sau, khi ngài qua đời, những thế hệ trước cai quản chùa khắc lên 4 tấm bài vị, trên chuông đồng cổ (gọi là Hồng chung) nặng 451kg .

Để hiểu rõ hơn về danh tính vị Cai đội Đội Hoàng Sa người Thừa Thiên Huế, ông trưởng tộc Nguyễn Hữu Hùng đã giới thiệu đến chùa Tiên Linh để gặp thầy Thích Pháp Niệm trụ trì chùa. Tại đây thầy Pháp Niệm đã giới thiệu về đại hồng chung được xem là báu vật rồi phiên dịch từng chữ Hán vẫn còn ghi rõ trên chuông. Riêng 4 phía mặt bên ngoài chuông đồng khắc chữ Hán liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa, trong đó phần chính ở phía mặt trước chuông có ghi rõ: “Hội thủ cai đội Niên Trường hầu Nguyễn Hữu Niên…”. Dịch nghĩa: “Hội thủ là Nguyễn Hữu Niên chức cai đội tước Niên Trường hầu…”. Riêng bài vị hiện thờ tại hậu điện chùa Tiên Linh ghi: “Đại Việt cố hiển linh Hoàng Sa đội cai đội Hiến Đức hầu quý công chi vị”. “Bài vị của ngài cai đội Đội Hoàng Sa tước Hiến Đức hầu”.

Qua những tư liệu quý đó cho chúng ta biết Nguyễn Hữu Niên đời thứ chín họ Nguyễn Hữu làng An Nông, vốn trước là quan chức của triều Tây Sơn, sau đầu triều Nguyễn nhận chức cai đội Đội Hoàng Sa.

Văn bản tư liệu về Hoàng Sa tại Đình làng Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc
Văn bản tư liệu về Hoàng Sa tại Đình làng Mỹ Lợi, huyện Phú Lộc

Như vậy, từ thời các chúa Nguyễn tiếp đến thời Tây Sơn rồi đến hết triều nhà Nguyễn, nhà nước Việt Nam đều liên tục quan tâm đến biển Đông và từng bước xác lập vững vàng chủ quyền vùng lãnh hải của đất nước. Những tư liệu trên góp phần củng cố lập trường xác định chủ quyền của Việt Nam. Xưa nay theo thư tịch cổ Đội Hoàng Sa dưới thời các chúa Nguyễn và triều Nhà Nguyễn đều tuyển dụng người xã An Vĩnh (trong đất liền cũng như ngoài đảo Lý Sơn), Quảng Ngãi. Nay phát hiện thêm một vị cai đội Đội Hoàng Sa là người Thừa Thiên Huế. Đây là một vị quan chức từ triều Tây Sơn qua triều Nhà Nguyễn. Dưới thời Thái tổ Võ Hoàng đế Nguyễn Văn Huệ vẫn tiếp tục Đội Hoàng Sa, nhưng bắt đầu tuyển dụng người ở Thừa Thiên Huế vì lúc bấy giờ từ Quảng Ngãi trở vào thuộc quyền Nguyễn Văn Nhạc.

Như vậy, từ thời các chúa Nguyễn tiếp đến thời Tây Sơn rồi đến hết triều nhà Nguyễn, nhà nước Việt Nam đều liên tục quan tâm đến biển Đông và từng bước xác lập vững vàng chủ quyền vùng lãnh hải của đất nước. Những tư liệu trên góp phần củng cố lập trường xác định chủ quyền của Việt Nam. Xưa nay theo thư tịch cổ Đội Hoàng Sa dưới thời các chúa Nguyễn và triều Nhà Nguyễn đều tuyển dụng người xã An Vĩnh (trong đất liền cũng như ngoài đảo Lý Sơn), Quảng Ngãi. Nay phát hiện thêm một vị cai đội Đội Hoàng Sa là người Thừa Thiên Huế. Đây là một vị quan chức từ triều Tây Sơn qua triều Nhà Nguyễn. Dưới thời Thái tổ Võ Hoàng đế Nguyễn Văn Huệ vẫn tiếp tục Đội Hoàng Sa, nhưng bắt đầu tuyển dụng người ở Thừa Thiên Huế vì lúc bấy giờ từ Quảng Ngãi trở vào thuộc quyền Nguyễn Văn Nhạc.

Ngôi đình giữ văn bản quý

Xuôi về vùng biển, đình làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn còn giữ nguyên nét cổ kính của ngôi đình làng gần 300 tuổi. Năm 2010, một sự kiện làm cho người trong làng từ ngỡ ngàng đến tự hào chính là việc những nhà nghiên cứu đã phát hiện hai văn bản quý do làng lưu giữ có bút phê của vua liên quan đến Hải đội Hoàng Sa. Lật cuốn lịch sử của làng có lưu lại hình ảnh văn bản quý đã được làng bàn giao bản gốc cho Bộ Ngoại giao, ông Nguyễn Hải, trưởng ban nghi lễ làng Mỹ Lợi cho biết: “Dân làng Mỹ Lợi lưu giữ trong đình làng của mình một văn bản bằng chữ Hán, được lập cách đây 250 năm, trong đó khẳng định chủ quyền lãnh thổ không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”. Văn bản do làng Mỹ Lợi lưu giữ có từ năm Quý Hợi (1743), dưới thời nhà Lê, được viết bằng chữ Hán trên giấy dó, có nội dung xử lý một vụ kiện giữa phường Mỹ Toàn (làng Mỹ Lợi) và phường An Bằng (làng An Bằng) về việc nộp thuế vỏ tàu khai thác sản vật liên quan đến Hải đội Hoàng Sa.

Đại hồng chung khắc tên ngài cai đội Đội Hoàng Sa Nguyễn Hữu Niên
Đại hồng chung khắc tên ngài cai đội Đội Hoàng Sa Nguyễn Hữu Niên

Văn bản dịch: “Tuần quan cửa biển biên hải là Thuận Đức hầu phê cho phường Mỹ Toàn về phường An Bằng. Nguyên năm Quý Hợi (1743), phường An Bằng buộc phường Mỹ Toàn đón chiếc thuyền đội Hoàng Sa của lái Tin ở chỗ giáp ranh, kéo về đến bờ sông. Qua vụ thuế tiết liệu năm Mậu Dần (1758) khoản của thuyền thủ Trường, phường An Bằng lại bắt phường Mỹ Toàn cùng chịu, mỗi bên đem nộp tại chính điện. Đến nay, phường Mỹ Toàn thúc phường An Bằng cùng phường Mỹ Toàn đem nộp vô tàu nhưng phường An Bằng cố ý không đem nộp vô tàu ấy, phường Mỹ Toàn bèn trình đơn lên. Vậy giao cho phường Mỹ Toàn bắt phường An Bằng đền tiền ba quan. Nay phê như vậy. Ngày 19 tháng 9 năm Cảnh Hưng 20 (tức ngày 6/11/1759)”.

Trong thâm tâm của mỗi người con dân nước Việt hai từ Hoàng Sa luôn gợi nhắc về một vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Cũng như bao làng quê khác từ hàng trăm năm nay, những bảo vật Hoàng Sa luôn được bà con nông dân Thừa Thiên Huế trân quý gìn giữ bằng cả trái tim mình. Một ý thức và niềm kiêu hãnh thầm lặng về chủ quyền biển đảo Tổ quốc luôn tồn tại và truyền cảm hứng cho bao thế hệ trong từng làng mạc đến ngày hôm nay.

Tưởng niệm người đăng lính trên dặm dài sóng nước

Để nguyện cầu sự bình yên lẫn lời xua đuổi rủi ro cho những binh phu đi Hoàng Sa, những hình nhân và linh vị, cùng những thứ tượng trưng mà người đi lính Hoàng Sa, Trường Sa thường mang theo như gạo, muối, củi, nước ngọt, lưới… sẽ được bỏ chung cùng thuyền lễ bằng cây chuối rồi đem thả ra biển. Giữa bập bềnh sóng gió, hình nhân sẽ là kẻ thế mạng cho người đăng lính…

Tế lễ khao lề thế lính Hoàng Sa tại đảo Lý Sơn, Quảng NgãiTế lễ khao lề thế lính Hoàng Sa tại đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi

Khao lề thế lính Hoàng Sa

Nếu là để chia tay những người đăng lính thì đó là lễ thức khao lề thế lính, còn nếu là để tưởng niệm người đăng lính đã bỏ mạng trên dặm dài sóng nước, thì đó là lễ thức khao lề tế lính. Mà thường là cho cả hai, thế người còn sống và tế người đã chết.

Khao lề chỉ là lệ khao định kỳ hàng năm, như hình thức cúng việc lề mà một số nơi trong nước còn gìn giữ, song thế lính lại là nghi lễ mang đậm dấu ấn của đạo giáo nhằm thế mạng cho người đi lính, bởi người đi lính Hoàng Sa sẽ phải luôn đối mặt với bão tố, sóng ngầm.

Lần giở trong sử sách và lưu truyền trên đất đảo Lý Sơn, người lính Hoàng Sa năm xưa phải lênh đênh cùng sóng nước trong 6 tháng nhưng chỉ với những chiếc thuyền câu nên số phận xem như đành gửi theo mây trời, bọt biển.

Để có cơ may xác mình còn được yên lành trôi về bản quán, trước khi ra đi mỗi người đi lính Hoàng Sa phải tự chuẩn bị riêng cho mình 1 đôi chiếu, 7 đòn tre, 7 sợi dây mây và 1 thẻ bài. Nếu không may ngã xuống thì đôi chiếu, những chiếc đòn tre và các dây mây kia là vật dụng để bó xác người. Người chết sẽ được thả trôi trên biển cùng chiếc thẻ bài đã được ghi tên phiên hiệu. Nhưng chắc hẳn cũng chẳng mấy xác người được may mắn trên về được bản quán.

Cầu nguyện đưa những linh hồn người bảo vệ biển đảo năm xưa
Cầu nguyện đưa những linh hồn người bảo vệ biển đảo năm xưa

Những tên tuổi ghi trong sử sách như Cai đội Phạm Quang Ảnh (Ất Hợi, 1815), Chánh thủy quân suất đội Phạm Văn Nguyên (Ất Mùi, 1835), Chánh thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật (Bính Thân, 1836)… là những người được vua Gia Long, vua Minh Mạng cử đi Hoàng Sa, kiêm quản Trường Sa không chỉ để tìm kiếm sản vật, đo đạc thủy trình, tuần phòng trên biển đảo mà cắm mốc, dựng bia chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy biết khó cơ may trở về, nhưng con người vẫn hy vọng dù rất mỏng manh, như để cứu vớt niềm hy vọng ấy, trước khi ra đi, cùng với việc họ tộc bàn soạn lễ vật, thầy phù thủy sẽ nặn hình nhân thế mạng bằng bột gạo, hoặc bằng đất sét.

Theo Quốc sử quán triều Nguyễn sẽ rất ngạc nhiên khi biết cách đây 3, 4 thế kỷ, nhà Nguyễn bắt đầu ý thức đến nguồn tài nguyên vô tận, cũng như sớm xác lập chủ quyền lãnh thổ trên vùng biển Đông của Tổ quốc mà trước hết, đó là tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nên đã cử nhiều đội hùng binh ra đo đạc, cắm mốc, khai thác sản vật.

Xưa kia, hằng năm các chúa Nguyễn đã tuyển 70 dân đinh, giỏi nghề đi biển ở các làng An Vĩnh và An Hải tại vùng cửa biển Sa Kỳ đến dân đinh đảo Lý Sơn, giương buồm nương theo gió nồm vượt sóng ra quần đảo Hoàng Sa. Cứ tháng hai, tháng ba đến nhận lệnh ra đi và tháng tám trở về cửa Eo (Thuận An, Thừa Thiên Huế) để nộp cho Kinh thành Phú Xuân (Huế) những sản vật tìm được.

Theo gia phả, các bản khế ước, các sổ đinh, các văn bản định suất thuế khóa của các dòng họ trên đảo Lý Sơn và những gì lưu truyền trong trí nhớ của nhiều bô lão, 70 suất đinh định chế đi Hoàng Sa và sau này cả Trường Sa, nhiều nhất vẫn là người của làng An Vĩnh trên đảo Lý Sơn. 70 suất đó được phân đều cho các tộc họ, không phân biệt tiền hiền hay hậu hiền.

Lễ khao lề thế lính Hoàng SaLễ khao lề thế lính Hoàng Sa

Tri ân bậc tiền nhân

“Hoàng Sa trời nước mênh mông/Người đi thì có mà không thấy về/Hoàng Sa mây nước bốn bề/Tháng ba khao lề thế lính Hoàng Sa”. Người dân đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi gọi đó là “lời tóm tắt số phận” của những người đi lính Hoàng Sa, Trường Sa từ thưở xưa. Trước, vua Tự Đức gọi họ là hùng binh. Nay, các bậc cao niên vẫn gọi họ là tiền hiền, còn những người trẻ như chúng tôi muốn gọi họ là bậc anh hùng tiền bối bảo vệ chủ quyền biển – đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Trong 15 và 16 – 3 âm lịch mỗi ai có mặt tại huyện đảo Lý Sơn để đón dự Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa sẽ thấy hầu hết các họ tộc trên đất đảo Lý Sơn có người đăng lính Hoàng Sa, Trường Sa đều thực thi lễ thức này.

Cách xa Quảng Ngãi khoảng 14 hải lý, ẩn hiện trong trời biển là đảo Lý Sơn xanh mờ. Trông đảo như những phiến thạch “canh giữ” cho đất liền tổ quốc giữa trùng khơi mênh mông. Tàu càng gần đảo, nơi Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa diễn ra, bất chấp sự biến đổi của thời cuộc, của sóng gió biển khơi, người dân Cù Lao Ré – Lý Sơn vẫn giữ cho mình một nét văn hóa đặc sắc không phai mờ. Khi con tàu còn cách bờ chừng một hải lý, khách đã có thể trông thấy cờ hoa bay rợp trời, nghe tiếng hội lễ đã kề bên tai.

Đảo Lý Sơn khá đông đúc. Và một khi hàng vạn cư dân của đảo lớn và đảo bé cùng đi dự lễ thì đường sá cũng trở nên rộn ràng nhộn nhịp hơn. Lễ khao lề diễn ra trong hương khói nghi ngút thiêng liêng, lời phú chú lầm rầm trên nền nhạc bát âm hoặc ngũ âm xen lẫn tiếng mõ thị uy của thầy phù thủy với áo thụng, mũ tam sơn.

Bên cạnh hình nhân và linh vị là người lính Hoàng Sa – người lính ấy luôn đứng hầu thần suốt buổi tế bằng chính niềm tin là lời nguyện cầu của chính mình, của tộc họ thấu suốt đấng linh thiêng và ngón nghề ấn quyết của thầy phù thủy sẽ xua được tà ma quỷ ám trên dặm dài sóng nước. Sau khi lễ thức kết thúc những hình nhân và linh vị cùng những thứ tượng trưng mà người đi lính Hoàng Sa, Trường Sa thường mang theo như gạo, muối, nước ngọt, củi, lưới… được thả bằng thuyền chuối ra biển.

Bên tấm bia đá Chánh thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật, phường An Vĩnh, Cù Lao Ré, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng NgãiBên tấm bia đá Chánh thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật, phường An Vĩnh, Cù Lao Ré, huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

Hầu hết các họ tộc trên đất đảo Lý Sơn có người đăng lính Hoàng Sa, Trường Sa. Bởi vậy, thường hầu hết các họ tộc đều thực thi các lễ thức trong tháng hai âm lịch hàng năm. Sau các họ tộc là đến lễ hội chung, đông hơn và quy tụ hầu hết con dân xứ đảo. Một cán bộ văn hóa huyện đảo Lý Sơn cho hay: “Năm nào cũng vậy, bà con tổ chức rất linh đình, quy tụ. Bởi lễ hội là của chính họ, là dịp họ tỏ tấm lòng thành kính với các bậc tổ tiên đã quên mình mà bảo vệ chủ quyền biển – đảo của Tổ quốc thiêng liêng”.

Trong lễ hội này, có một nhân vật đặc biệt, người duy nhất có thể đọc thuộc lòng bài Chân tế Hoàng Sa – một trong hai bài tế bắt buộc trong nghi thức hành lễ, dài gần 5.000 chữ. Trong gần trọn buổi sáng bài chân tế của ông đã tạo nên một không khí nghiêm trang, một khí thế thổi vào lòng người dự lễ. Tôi còn nhớ ông là Nguyễn Trung Thành, lặn lội từ huyện Long Thành (Đồng Nai) về đây, là hậu duệ đời thứ 7 trong dòng tộc làm pháp sư tại đảo Lý Sơn.

“Tui đã vào sống ở miền Nam, cứ đến lễ là đứng ngồi không yên. Kiểu chi cũng phải bắt xe về quê. Cứ đến ngày lễ là lòng dạ nôn nao, nên không về không đặng” – ông Thành cho hay. Đời cố, đời ông nội, đến đời cha đã truyền lại cho ông bài chân tế.

Nay ông Thành đã vừa 80 tuổi, tuy không còn tế lễ từ nhiều năm nay, nhưng ông Thành vẫn kịp trao truyền lại cho vài người ở đảo Lý Sơn như để tiếp nối một “nghiệp đời” chân tế. Một đoạn bài văn tế lính Hoàng Sa não ruột bi ai sau đây đã được Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ ghi lại:

“Cúi nghĩ: Cõi u minh khó lòng tưởng tượng
Chất trong chất đục phong hóa từ đầu
Ngoảnh sang Đông, ngóng về Tây, hướng đi mơ màng dễ dàng lạc bến
Ôi sắc nước hương trời xa đôi nẻo, lòng dễ mến yêu
Thủy phủ khiến sức nước ngưng, buổi sáng trong veo như trang điểm
Cho hồn các vị tựa hàng tiên
Tiếng sóng động đông dài, tưởng niệm dấu thần phương nao mờ mịt
Ngóng hồn thiêng xa vời vợi mong được hàm ơn…”

Hoặc một đoạn bài văn tế khác còn lưu ở Âm Linh tự, và đình làng An Vĩnh:

“Hỡi ơi
Đất Việt trời Nam trải bao phen lao khổ
Nghĩ đến kẻ điêu linh từ thuở nọ
Cho hay: Sinh hề ký, tử hề quy
Ra đi có mà ít người trở lại
Thân ấy mất mà danh ấy còn sống mãi
Xót thương thay !
Liều thân vì Tổ quốc, son sắt một lòng
Ngang dọc chí nam nhi, phong ba vùi dập
Tuyết sương chẳng quản, mưa gió chẳng sờn
Quân vụ biên phòng, chạnh niềm viễn xứ
Quyết một dạ bảo vệ biên cương, bờ cõi
Hoàng Sa, Trường Sa lãnh hải, biển cả mênh mông, tháng năm vô định…”

Cứ thế, hễ đến ngày Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, những pháp sư trên đảo Lý Sơn vẫn mải miết lặng thầm như con sóng hôm nay liền vào con sóng trước để tạo nên sức mạnh mênh mông trên mặt biển khơi. Và chính họ, những người con đảo Lý Sơn lưu giữ và truyền cảm hứng từ đời này đến đời khác về lòng kính cẩn tri ân các bậc tiền nhân quên mình trên dặm dài sóng biển để canh giữ và bảo vệ biển, đảo Tổ quốc thiêng liêng.

Biểu tượng non sông

Hôm nay, chúng ta cùng có mặt ở đây để thực hiện nghi thức tiếp nhận đất thiêng của Cố đô Huế gửi ra Trường Sa – Vùng đảo thiêng liêng của Tổ quốc giữa trùng khơi. Cùng với đất thiêng tiếp nhận từ cả ba miền của Tổ quốc, những nắm đất từ Cố đô Huế sẽ hòa quyện vào đất Trường Sa, tiếp tục khẳng định chủ quyền non sông, tiếp nối sức mạnh của dân tộc để bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam”- Nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung trang trọng tại buổi tiếp nhận đất thiêng Cố đô Huế gửi Trường Sa.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Nguyễn Dung kính cẩn làm lễ đưa đất thiêng từ đảo Trường Sa hòa vào đàn Xã Tắc, Cố đô HuếPhó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Nguyễn Dung kính cẩn làm lễ đưa đất thiêng từ đảo Trường Sa hòa vào đàn Xã Tắc, Cố đô Huế

Tiếp nhận đất thiêng

Buổi sáng tháng 5/2017, hôm ấy trời xanh trong nắng vàng, nhà nghiên cứu Vĩnh Cao, một người thuộc dòng dõi Nguyễn phước tộc được chọn thay mặt đoàn thực hiện các nghi lễ trước giờ lấy đất. Trong tâm thế kính cẩn nghiêm trang với trang phục áo dài, khăn đóng ông thắp nén hương cùng cả đoàn khấn vái với đất trời xin phép lấy đất gửi Trường Sa.

Khi nén hương vừa tàn, cũng là lúc đoàn chọn một điểm đất ngay trong khuôn viên đàn Nam Giao, tất cả dường như lắng lại, đoàn hạ chiếc hộp gắn dòng chữ “Đất thiêng gửi Trường Sa – từ Cố đô Huế” rồi thận trọng xới đất đưa vào hộp. Đàn Nam Giao là nơi các vua Nguyễn tế trời để cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Nhà nghiên cứu Vĩnh Cao, chuyên gia về lễ nghi ở Huế, thành kính vốc bốn nắm đất ở bốn phương Đông Tây Nam Bắc, trang trọng đặt vào chiếc hộp gửi đi Trường Sa. Đoàn tiếp tục đi về phía đầu nguồn sông Hương nơi có Văn Miếu và Võ Miếu. Dưới chân hai hàng bia đá ghi danh những người có công lao bảo vệ đất nước, nắm đất từ Văn Miếu – Võ Miếu gửi ra Trường Sa là để nối liền hào khí bao đời của dân tộc

Đất thiêng từ Trường Sa vào đàn Xã TắcĐất thiêng từ Trường Sa vào đàn Xã Tắc

Tiếp đến đoàn dừng chân xin lấy đất ở đàn Xã Tắc nằm ở Kinh thành Huế, được xây dựng năm Gia Long thứ 5 (1806). Ý nghĩa và tính chất đặc biệt quan trọng của công trình khi xây dựng đàn Xã Tắc, tất cả các thành, dinh, trấn trên toàn quốc theo chỉ dụ của triều đình phải góp đất sạch để đắp đàn. Đàn Xã Tắc trở thành biểu tượng thiêng liêng của quốc gia – tượng trưng cho đất đai của cả nước.

Sau khi lấy xong nắm đất ở điểm cuối cùng là Hoàng thành Huế, nhà nghiên cứu Vĩnh Cao nói: “Trong khuôn đất này có đủ cả thiên – địa – nhân, trời – đất – con người nước Việt. Đặc biệt là đất đàn Xã Tắc là đất cả nước góp về Huế. Bây giờ đất Huế đưa ra Trường Sa. Hồn thiêng xã tắc quốc gia sẽ tạo vượng khí cho vùng đảo xa của Tổ quốc”.

Từ Kinh thành Huế, chúng tôi nghĩ về những đội hùng binh Hoàng Sa, Bắc Hải năm xưa và những người lính trên quần đảo Trường Sa hôm nay. Nắm đất từ Cố đô Huế thấm đẫm bao hồn người Việt sẽ hòa tan vào những tấc đất thiêng liêng của Trường Sa. Để Trường Sa luôn xanh tốt và vững chải trước sóng gió biển khơi.

Cột cờ Tổ quốc trên đỉnh núi Thới Lới, đảo Lý SơnCột cờ Tổ quốc trên đỉnh núi Thới Lới, đảo Lý Sơn

Và không chỉ ở Cố đô Huế, chương trình còn đi khắp cả nước tiếp nhận những khuôn đất thiêng được lấy từ Lũng Cú, đồi A1 Điện Biên Phủ, đất Tổ Đền Hùng, lăng Bác, dãy Trường Sơn, địa đạo Củ Chi và đất Mũi… Tiếp đến, đoàn công tác Quân chủng Hải quân Việt Nam đưa đất thiêng từ mọi miền ra và trộn lẫn với đất Trường Sa.

Không chờ đợi quá lâu, đến ngày 28/9/2017, đại diện báo Tuổi trẻ và Quân chủng Hải quân Việt Nam đã mang những khuôn đất từ các đảo thuộc quần đảo Trường Sa về với đất liền để hòa vào đàn Xã Tắc, với ý nghĩa xã tắc non sông vẹn toàn, Trường Sa luôn ở trong lòng người dân Việt. Ngay sau lễ tiếp nhận, nghi thức hòa đất thiêng của Trường Sa vào đàn Xã Tắc đã được tiến hành trong không gian nghiêm cẩn.

Chứng kiến khoảnh khắc hôm ấy, khi mỗi nắm đất hòa vào đất mẹ hôm nay là khát vọng chủ quyền non sông liền một dải từ đất liền ra biển, đảo bao la. Mỗi nắm đất là một phần máu xương của bao thế hệ người Việt ngã xuống góp phần bảo vệ biên cương, lãnh hải, tiếp thêm sức mạnh cho chiến sĩ, đồng bào đang ngày đêm bám biển và khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng.

Góp cờ Tổ quốc đến nhân dân đảo Lý SơnGóp cờ Tổ quốc đến nhân dân đảo Lý Sơn

Góp cờ Tổ quốc ra đảo

Chúng tôi thật sự bị tác động mạnh khi được Tiến sĩ Vũ Đình Bảy- Trưởng Khoa Giáo dục chính trị (Trường Đại học Sư phạm Huế), người khởi xướng chương trình “Góp cờ Tổ quốc” cho biết: “Chỉ sau 9 tháng phát động, chương trình đã nhận được gần 11.000 lá cờ Tổ quốc của hàng vạn đồng bào trên khắp mọi miền đất nước, của kiều bào và bạn bè nước ngoài gửi tặng”.

Tiến sĩ Vũ Đình Bảy cho biết trước đó, đoàn đã gửi tặng 3.500 lá cờ cho các chiến sĩ Trường Sa. Chương trình nằm trong khuôn khổ phát động để hưởng ứng kỷ niệm 20 năm thành lập khoa và 60 năm thành lập trường, đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ cộng đồng, đồng nghiệp, sinh viên, cho đến các cựu sinh viên, các cô chú tiểu thương, … từ mọi miền gửi về với những lời nhắn đầy xúc động.

“Có những cựu sinh viên lặn lội từ Hà Tĩnh, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng ra tận nơi để ủng hộ cờ. Cũng có những giáo viên, học sinh ở tận Bắc Kạn hay kiều bào ở Mỹ, Úc, Lào… tổ chức kêu gọi ủng hộ rồi đóng thùng gửi về cho chúng tôi. Tất cả những việc làm ấy góp phần vun đắp lòng yêu nước, yêu quê hương vô bờ của mỗi người con Việt Nam”- Tiến sĩ Bảy tâm sự.

Đại diện Lữ đoàn 146 (Vùng 4 Hải quân - Quân chủng Hải quân Việt Nam) tiếp nhận cờ Tổ quốc do Trường Đại học Sư phạm Huế trao tặng cán bộ, chiến sĩ Trường SaĐại diện Lữ đoàn 146 (Vùng 4 Hải quân – Quân chủng Hải quân Việt Nam) tiếp nhận cờ Tổ quốc do Trường Đại học Sư phạm Huế trao tặng cán bộ, chiến sĩ Trường Sa

Khi có cờ Tổ quốc gửi về số lượng rất lớn, đoàn thống nhất chọn kích thước cờ 0,8 – 1,2m. Cờ gửi tặng phải mới, chất lượng vải tốt để chống chịu được khí hậu thời tiết khắc nghiệt ở các đảo và nhà giàn, nhằm kéo dài thời gian treo cũng như lâu phai màu. Đặc biệt là trong suốt hành trình “Góp cờ Tổ quốc”, khi đi qua các tỉnh, đoàn còn nhận được nhiều sự ủng hộ từ các cán bộ phường, xã, trường học, các chiến sĩ cảnh sát… “Nhờ mọi người cho chúng tôi gửi tình yêu nhỏ này đến các ngư dân, chiến sĩ”, “Mong rằng, lá cờ này sẽ bay giữa Trường Sa thân yêu”, “Tất cả vì biển đảo quê hương” – Đó là những lời nhắn gửi đầy cảm xúc của các cán bộ, thầy cô giáo, chiến sĩ, người dân trong cuộc hành trình dài ngày mà đoàn có được.

Khi đoàn đến cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi), một buổi lễ trao tặng cờ diễn ra thật xúc động giữa đoàn và cán bộ cùng dân đảo nơi đây. 3.000 lá cờ Tổ quốc rất đỗi thân quen mà thiêng liêng vô cùng khi được đoàn trao tận tay ngư dân huyện đảo Lý Sơn. Để từ đây, lá cờ Tổ quốc mang theo tình cảm nồng ấm của đất liền sẽ sát cánh cùng ngư dân trong những chuyến biển xa.

Cờ Tổ quốc trên đảo Trường SaCờ Tổ quốc trên đảo Trường Sa

Tiếp tục hành trình về quân cảng Cam Ranh, đoàn tiếp tục trao những món quà ý nghĩa đến với quân và dân Trường Sa. Hơn 4.000 lá cờ Tổ quốc và 2.000 tập vở đã được gửi đến đại diện Lữ đoàn 146 – Vùng 4 Hải quân để chuyển cho quân và dân đang sinh sống, làm nhiệm vụ trên 21 điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Chính ủy Lữ đoàn 146 (Vùng 4 Hải quân) – Đại tá Nguyễn Văn Thắng thật sự cảm động trước những tấm lòng dành cho người dân, chiến sĩ đang ngày đêm cầm súng bảo vệ biển đảo Tổ quốc. “Ở đảo xa lúc nào cũng nhận được hơi ấm từ đất liền. Đó là nguồn động viên vô giá để chúng tôi dù bất cứ trong hoàn cảnh nào cũng quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo”- Đại tá Thắng hứa.

Chiến sĩ Hải quân Việt Nam trực sẵn sàng chiến đấu trên đảo Trường Sa
Chiến sĩ Hải quân Việt Nam trực sẵn sàng chiến đấu trên đảo Trường Sa

Suốt chặng đường rong ruổi về các miền biển đảo của Tổ quốc thân yêu để ghi lại những khoảnh khắc, hoạt động hướng về biển đảo, tôi thật sự cảm kích trước chương trình đầy nhân bản hướng tới niềm tự hào chủ quyền biển đảo thiêng liêng. Đặc biệt có chương trình “Góp cờ Tổ quốc” của thầy và trò Trường Đại học Sư phạm Huế. Chương trình đã thực sự có sức lan tỏa lớn, khi mà 11.000 lá cờ của nhân dân từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ các em nhỏ cho đến các cụ già và đồng bào ở nước ngoài gửi về. “Mong rằng những lá cờ Tổ quốc sẽ tiếp sức cho các chiến sĩ, ngư dân bền chí, vững tâm hơn trong công cuộc bảo vệ, khẳng định chủ quyền biển đảo.

Thật xúc động khi Lữ đoàn 146 (Vùng 4 Hải quân) đã gửi tặng lại 30 lá cờ Tổ quốc được đem về từ 21 điểm đảo thuộc quần đảo Trường Sa cho Trường Đại học Sư phạm Huế làm cho đoàn dâng trào cảm xúc. Mỗi thành viên đoàn khi được nhận lấy “Kỷ vật từ Trường Sa” ai cũng rưng rưng nước mắt vì cảm động. Đây là những lá cờ đã trải qua phong ba bão gió, cờ được treo ở các đảo, thể hiện chủ quyền của Việt Nam. Giữa muôn trùng biển khơi, những lá cờ này được các chiến sĩ đem trở về đất liền. Có những lá cờ tuy không còn nguyên vẹn bởi phong ba bão táp nhưng đã được các chiến sĩ nâng niu, gấp xếp tặng lại Trường Đại học Sư phạm Huế. Trên từng lá cờ ấy đều có đóng dấu và ký tên của chính trị viên điểm đảo đó.

Lễ chào cờ trên đảo Trường Sa ĐôngLễ chào cờ trên đảo Trường Sa Đông

Cũng từ đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), đoàn trường được quân và dân nơi đây trao tặng túi cát mang về từ Hoàng Sa cùng lá cờ từng được treo trên đỉnh núi Thới Lới. Đó là những tình cảm chan chứa, ăm ắp nghĩa tình của bà con, chiến sĩ xứ đảo thân yêu gửi về đất liền.

Qua sự kiện tiếp nhận đất thiêng từ cả ba miền đất nước hòa vào đất đảo và góp cờ Tổ quốc đến với quân và dân vùng biển, đảo quê hương… như biểu tượng của non sông thêm một lần nữa được “thắp sáng”. Và cùng với những Bạch Long Vĩ, Cô Tô, Bái Tử Long, Hạ Long, Hòn Mê, Hòn Mát, Hòn Ngư, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré, Cù Lao Thu, Côn Đảo, Hòn Khoai, Thổ Chu, Phú Quốc… luôn nhắc nhớ chúng ta hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là những phần đất thiêng liêng của Tổ quốc, do nhiều đời ông cha ta khám phá và thực thi chủ quyền từ xa xưa, mà trách nhiệm của các thế hệ người Việt Nam muôn đời sau phải quyết tâm gìn giữ và bảo vệ.

     


     

NGUỒNbaotainguyenmoitruong.vn
Bài trướcThừa Thiên Huế thay đổi quy hoạch Cồn Hến trên sông Hương
Bài tiếp theoMâm cỗ Trung thu có những gì?

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây