Miền tháp cổ – Tác giả Vũ Hùng – Kỳ 11 – Về cuốn sách “Phan Công Thiên và công cuộc trấn thủ đất Hóa Châu”

Tác giả Vũ Hùng - Kỳ 11 - Về cuốn sách “Phan Công Thiên và công cuộc trấn thủ đất Hóa Châu”

Miền tháp cổ - NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG

NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG

Nhà nghiên cứu Vũ Hùng

Tác giả Vũ Hùng

 

Về cuốn sách
“Phan Công Thiên và
công cuộc trấn thủ đất Hóa Châu”

Nhà nghiên cứu Vũ Hùng

Cuốn “Phan Công Thiên và công cuộc trấn thủ đất Hóa Châu” của tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú Phan Văn Bé, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, phát hành năm 2014. Sách có 98 trang, chia làm 2 phần: phần một là nội dung chính, phần hai là phụ lục ghi chép các đời trong dòng tộc, sự phân bố tộc Phan, sơ đồ, hình ảnh và tài liệu tham khảo.

Trong phần một, trừ tiêu đề và Lời giới thiệu, với 27 trang còn lại là của tác giả gồm Lời nói đầu, thân thế sự nghiệp Phan Công Thiên, vỗ về an dân, Hóa Châu (vùng Đà Nẵng) thời thuộc Minh (1407-1427), Hóa Châu thời hậu Trần, Hóa Châu thời hậu Lê và việc mở rộng biên cương phía Nam và Lời kết luận. Trong 27 trang, hơn một nửa là tác giả viết về Phan Công Thiên, trọng tâm của cuốn sách.

Có khá nhiều vấn đề có thể trao đổi với tác giả trong phần nội dung chính này của cuốn sách. Trong bài viết này tôi chỉ tập trung trao đổi một số thông tin – sử liệu mà tác giả đã thể hiện liên quan đến nhân vật Phan Công Thiên. Những ghi chép về vị Tiên công Phan Công Thiên trong “Phan tộc phổ chí Đà Sơn – Đà Ly nhị xã” (viết tắt là Tộc phả)(1), một tài liệu nền của cuốn sách, tôi chỉ trích dẫn khi đối chiếu với ghi chép của tác giả.

1. Theo tác giả, “Phan Công Thiên sinh ngày mồng 6 tháng giêng năm Mậu Ngọ (1318), tại Thanh Lamđộng, tỉnh Thanh Hóa (nơi sau này Lê Lợi tụ nghĩa khởi binh chống quân Minh)” và “ngày 14 tháng 4 âm lịch (1405), Thuận Quốc Công Phan Công Thiên qua đời”.

Ghi chép trên của tác giả phù hợp với Tộc phả về ngày sinh, ngày và năm qua đời của Tiên công Phan Công Thiên, nhưng năm sinh và nơi sinh cần trao đổi lại.

Theo Tộc phả, thủy tổ của dòng tộc “Thời thượng cổ lưu dấu cũ ở động Thanh Lam hiệu là bộ Việt Thường. Thời trung cổ dời vào Lâm Châu (nay là đất Lâm Bình)(2). Thời cận cổ lại dời vào Đà Bàn (nay là đất Bình Định) đổi hiệu là nước Chiêm Thành…”. Như vậy, động Thanh Lam không phải là nơi sinh của Phan Công Thiên mà là nơi phát tích của thủy tổ dòng tộc.

Năm 1989, con cháu của dòng tộc khi dịch Tộc phả sang chữ quốc ngữ đã cho rằng trước “Phan Công Thiên phải có nhiều đời Phan tiên công”. Tuy nhiên, ông được tôn là vị “Cao Cao tổ đời thứ nhất” của dòng tộc, mất năm 1405, nghĩa là ông sinh trong thế kỷ 14. Tộc phả không ghi ông năm sinh vào năm 1318 như tác giả nêu.

2. Về vị trí xã hội, chức tước và sắc phong của Tiên công Phan Công Thiên, Tộc phả có ghi một số đoạn như sau: “Hậu chúa chúng ta đi sứ triều cống Trung Hoa thấy tận mắt nền văn minh đã xâm nhập vào các lân bang của chúng ta là hai bộ Giao Chỉ và Tượng Quận nhà nhà kinh sử, xứ xứ cày bừa, không như tập tục lạc hậu của nước ta, chỉ biết đốn cây gieo lúa, đốt núi trồng ngô… Khi nghe tin Hậu chúa chết, ngụy Mật bèn giết phó chúa tự lập làm vua nước Đà Giang. Tiên công chúng ta là em ruột Hậu chúa… Tiên công ta liệu sức không thể chống cự lại được, bèn ủy quyền cho ông Bí động trưởng động Thượng Thành (nay là đồn Quy Nhơn) giữ nước, còn Tiên công mang quốc ấn và giấy tờ sổ sách của tộc chạy sang đất Giao Chỉ, tìm đến vua Trần xin binh tướng về diệt Mật…”. Nhà Trần đã phong cho Tiên công các chức tước: “Đô chỉ huy kinh lược chiêu dụ sử trí sứ”, “Thành hoàng tướng quân Thuận Quốc Công”. Thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, Tiên công được vua Lê phong “Hữu Dực thánh thành hoàng”.

Tuy nhiên, theo tác giả, Phan Công Thiên là vị Thuận Quốc Công “54 năm trấn thủ đất Hóa Châu”; năm 1339 ông là “Thượng tướng quân” hay “Đại tướng quân” tức Điện tiền chỉ huy sứ (gọi tắt là điện súy) chỉ huy quân cận vệ ” của nhà Trần; “năm 1346, Thái Thượng Hoàng Trần Minh Tông và Hoàng Đế Trần Dụ Tông ra chỉ dụ tấn phong” ông “là Đô chỉ huy kinh lược sứ”, “mang theo 20 phiên đoàn và một binh đoàn hải quân vào trấn giữ đất Hóa Châu”; “Quân đội thường trực của nhà Trần ở Hóa Châu, lúc nào cũng có có 20 phiên đoàn (ít nhất là trên 5 nghìn quân trở lên)”; ông “được vua Trần Dụ Tông ban tước Thuận Quốc Công”.

Nhiều thông tin mới lạ và cụ thể này không có trong Tộc phả. Chính sử Đại Việt cũng hoàn toàn không ghi chép về vị tướng Phan Công Thiên nào ở châu Hóa.

3. Đặc biệt, một thông tin chắc sẽ làm giới sử học không thể không ngạc nhiên sửng sốt khi tác giả cho rằng Phan Công Thiên 4 lần đánh bại Chế Bồng Nga trên đất Hóa Châu.

Theo tác giả, “trong các năm 1361, 1362, 1365, 1366, Chế Bồng Nga liên tục đưa đại quân gồm: Thủy quân, bộ binh, kỵ binh, tượng binh đồng loạt tiến đánh thủ phủ Trà Ngâm Động của Phan Công Thiên. Khi thủy quân hùng mạnh của Chế Bồng Nga giăng buồm đi vào cửa Đại Chiêm, cửa sông Cu Đê, cửa sông Hàn bị hải quân của Đại Việt dùng hỏa công đánh cho tơi tả, buộc phải rút chạy ra biển. Lực lượng bộ binh, kỵ binh và tượng binh của địch xuất phát từ Cổ Lũy, Chiêm Động vượt sông Thu Bồn, sông Cầu Đỏ tiến vào Trà Ngâm, Trà Na, Lầu Cấn, Nô Cố, Đồng Quang, Phú Thượng, Cổ Mân… thủy binh và các phiên đoàn hùng mạnh của quân Đại Việt đã chiến đấu anh dũng, đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch. Đặc biệt, đồng bào Chiêm đã mang phèng la, thanh la, cồng chiêng ra khua khiến tượng binh, kỵ binh của quân Chiêm hốt hoảng chạy tán loạn…”.

Trong Lời nói đầu, tác giả khẳng định: “Với trọng trách Đô Chỉ Huy kinh lược sứ đất Hóa Châu, ông là một vị tướng đã bốn lần đánh bại đội quân xâm lược hùng mạnh của Chế Bồng Nga, quốc vương Chiêm Thành, trên mảnh đất Hóa Châu (Đà Nẵng ngày nay)”.

Trong phần phụ lục, tác giả minh họa “Sơ đồ quân Trần trấn thủ Hóa Châu thế kỷ XIII”, trong đó miêu tả các mũi tấn công của Chiêm Thành và cách bố trí quân của nhà Trần (phải là thế kỷ XIV, không thể là thế kỷ XIII, V.H).

Tác giả cho rằng đã “phân tích, tổng hợp các nguồn sử liệu trong nước và nước ngoài, đặc biệt một số tác giả người Việt gốc Chiêm đang sinh sống và làm việc ở các viện nghiên cứu quốc tế (như giáo sư tiến sĩ Po Drama (Po Dharma, VH), Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp, của Thanh Trà…) mới được công bố trên nhiều phương tiện truyền thông, nhờ đó bước đầu làm sáng tỏ bức tranh lịch sử Nam tiến và bảo vệ biên cương của Thuận Quốc Công Phan Công Thiên”.

Nghiên cứu các tài liệu tham khảo của cuốn sách, nhất là của Po Dharma, Trà Thanh Toàn, đặc biệt là Tộc phả – một sử liệu duy nhất cho đến nay ghi chép về Phan Công Thiên, nhưng không có sử liệu nào ghi chép Phan Công Thiên 4 lần đánh bại Chế Bồng Nga như tác giả nêu.

Những chiến thắng oanh liệt như thế mà lẽ nào từ xưa đến nay giới sử học nước nhà hoàn toàn không hề hay biết.

Những chiến thắng lẫy lừng đánh bại vua Chế Bồng Nga, một vị vua từng tung hoành trên đất Đại Việt, nhiều lần đánh chiếm kinh đô Thăng Long, khoảng 30 năm của nửa cuối thế kỷ 14, thời nhà Trần, lẽ nào các bộ chính sử Đại Việt lại bỏ sót.

Tôi xin trích lại các đoạn chính sử về hoạt động quân sự của vương quốc Chiêm Thành trong 4 thời điểm mà tác giả nêu là các năm 1361, 1362, 1365, 1366 trong Đại Việt sử ký toàn thư, sau này Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng ghi chép theo.

Năm 1361, “Tháng 3, giặc cỏ Chiêm Thành vượt biển đến cướp dân ở cửa biển Dĩ Lý. Quân của phủ ấy đánh tan bọn chúng”(3). Cửa biển Dĩ Lý thuộc xã Lý Hòa, huyện Bố Trạch, phía bắc tỉnh Quảng Bình ngày nay, tức châu Bố Chính cũ.

Năm 1362, “Tháng 3, Chiêm Thành cướp Hóa Châu”(4). Sử chỉ ghi “cướp Hóa Châu” nhưng không ghi cụ thể ở đâu và cũng không ghi bị Đại Việt đánh bại. Lâm Bình nguyên là châu Địa Lý cũ của Chiêm Thành, nay là vùng phía nam của tỉnh Quảng Bình. Thuận Hóa gồm châu Thuận là đất Quảng Trị, châu Hóa là tỉnh Thừa Thiên Huế và một phần đất từ Hải Vân đến sông Thu Bồn. Thành Hóa Châu ở phía bắc thành phố Huế, thuộc huyện Quảng Điền, gần tỉnh Quảng Trị.

Năm 1365, “Mùa xuân, tháng giêng, người Chiêm Thành cướp dân đi chơi xuân của Hóa Châu. Trước đây, theo tục Hóa Châu, tháng giêng hằng năm, trai gái họp nhau ở Bà Dương chơi trò đánh đu. Người Chiêm đã nấp sẵn ở đầu nguồn Hóa Châu từ tháng 12 năm trước, đến khi ấy ập tới cướp bắt đem về”(5). Vậy là Chiêm Thành đã thành công trong việc bắt người ở Hóa Châu, họ không bị đánh bại. Địa danh Bà Dương của châu Hóa cũng không rõ ở đâu.

Năm 1366, “Tháng 3, người Chiêm cướp phủ Lâm Bình. Quan phủ Phạm A Song đánh bại chúng. Thăng A Song làm đại tri phủ Lâm Bình, Hành quân thủ ngự sử”(6). Lần này quân Chiêm Thành lại đánh ra tận Lâm Bình như năm 1361, vị tướng Phạm A Song đánh bại và được phong làm tri phủ của Lâm Bình, không liên quan đến Phan Công Thiên ở tận vùng đất phía nam núi Hải Vân.

Các sử quan Đại Việt không thể ghi chép đầy đủ tất cả sự việc đã diễn ra, nhưng rất khó tin rằng họ đã không biết và không ghi chép sự kiện chấn động của một vị ‘‘Thuận Quốc Công’’ 4 lần đánh bại đội quân hùng mạnh của Chế Bồng Nga như tác giả đã nêu.

4. Trong Lời nói đầu của cuốn sách, tác giả cho rằng: “có một Huyền Trân công chúa nên đã có một thành phố Đà Nẵng đẹp như hôm nay. Vậy mà ở thành phố này chưa hề có một am thờ, miếu thờ bà Huyền Trân công chúa!’’

Sau khi nhắc lại công lao của Phan Công Thiên và các con cháu của ông, tác giả cũng cho rằng: ‘‘Vậy mà khắp Đà Nẵng chẳng có một đường phố nào được “vinh dự” mang tên ngài và con cháu của ngài… Đó là lỗi của những người hậu thế ”.

Trên địa bàn Đà Nẵng, từ xưa đã có ít nhất 2 miếu thờ công chúa Huyền Trân, một ở Ngũ Hành Sơn và một ở ngay làng Nam Ô, dưới núi Xuân Dương, quận Liên Chiểu, không xa với làng Đà Sơn của ông Phan Công Thiên. Ngày nay, các miếu thờ này vẫn còn.

Đặt tên đường là vinh danh những người có công với đất nước, với quê hương. Thành phố Đà Nẵng đã có hàng ngàn tên đường, nhiều nhân vật có công với đất nước, với quê hương trong các thời kỳ lịch sử, trên nhiều lĩnh vực đã được đặt tên. Tuy nhiên, một số nhân vật chưa có đủ sử liệu chứng minh thân thế, sự nghiệp, chiến công và đóng góp của họ, chưa tổ chức hội thảo khoa học làm sáng tỏ nên còn để lại, trong đó có Phan Công Thiên./.

Nhà nghiên cứu Vũ Hùng


(1) Bản “Phan tộc phổ chí Đà Sơn – Đà Ly nhị xã”, do con cháu đời thứ 21 và 22 tộc Phan Đà Ly (tức Phong Lệ, nay là thôn Phong Nam, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang và Phong Bắc, phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng) dịch sang chữ quốc ngữ, ngày 28.12.1989; và bản do nhà nghiên cứu Võ Văn Thắng công bố vào năm 2009.
(2) Lâm Châu, nay thuộc tỉnh Quảng Bình.
(3) Đại Việt sử ký toàn thư, bản in nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), NXB. Văn học và Công ty Đông A, Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu dịch, (Đông Á tái bản lần thứ nhất), Hà Nội, 2017, trang 294.
(4) Đại Việt sử ký toàn thư , sđd, trang 294.
(5) Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, trang 295.
(6) Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, trang 296.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây