CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI
DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT
(Kỳ thứ mười lăm)
Lời người dịch: Trong gia tài thơ Danh nhân văn hóa lịch sử Phùng Khắc Khoan, các bài hành niên (tự thuật các việc trong năm) chiếm một vị trí quan trọng. Từ những bài hành niên đó, kẻ hậu sinh không chỉ thấy tâm tư chí hướng của bậc tiên hiền mà còn cảm nhận được thời cuộc, thời đại của Phùng Khắc Khoan trong buổi trung hưng Lê – Trịnh. Thơ của đức ngài thuần hậu, giản phác mà ôm chứa mênh mang thời cuộc. Từng nỗi lo dân nước, những mong ước thái bình dân chúng yên vui luôn xuyên suốt và trở thành tập quán của thơ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai
行 年 自 述
年 來 二 十 九 青 春,
春 一 番 來 又 一 新
梅 占 榜 先 傳 信 息,
松 經 霜 後 愈 精 神.
但 知 得 歲 先 三 甲,
何 必 堆 盘 薦 五 辛.
時 節 到 來 聊 試 手,
文 章 好 耙 致 吾 身.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN TỰ THUẬT
Niên lai nhị thập cửu thanh xuân,
Xuân nhất phiên lai hựu nhất tân
Mai(1 ) chiếm bảng tiên truyền tín tức,
Tùng(2 ) kinh sương hậu dũ tinh thần.
Đãn tri đắc tuế tiên tam giáp(3 ),
Hà tất đôi bàn tiến ngũ tân(4 ).
Thời tiết đáo lai liêu thí thủ,
Văn chương hảo bả chí ngô thân.
Dịch nghĩa:
TỰ THUẬT VIỆC TRONG NĂM
Năm đến ta hai mươi chín tuổi,
Một xuân nữa tới lại thêm một lần mới.
Hoa mai nở đầu tiên báo tin xuân đến,
Tùng trải sương tuyết càng thêm tinh thần.
Nếu biết được năm sẽ đứng đầu tam giáp
Thì việc gì phải tính toán việc cúng ngũ tân.
Thời cơ đến cho ta được dùng tài năng,
Văn chương có thể mang ra để giúp ích cho mình.
Dịch thơ:
TỰ THUẬT VIỆC TRONG NĂM
Ta hai chín tuổi tay cầm
Thêm xuân thêm mãi phúc phần an khang
Tin mừng gió sớm đưa sang
Tùng sương tuyết trải vững vàng mới nên
Ngũ tân dâng cúng hoa đèn
Biết đâu Tam giáp đòi phen đứng đầu
Gặp thời tài trí gồm thâu
Văn chương hiển đạt bền lâu với đời.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
([1]) Mai: trong khi những loài hoa khác chưa nở ngay từ tiết Lập xuân giá lạnh, mai là loài hoa nở đầu tiên (chiếm “bảng xuân”), nên được xưng tụng là “Bách hoa khôi” (nở dẫn đầu của trăm hoa), tượng trưng cho cốt cách thanh nhã của người quân tử.
([2]) Tùng: cây thông. Cây thông đến mùa rét vẫn xanh, nên người mới ví nó như người có khí tiết và người thọ như 松 (trinh tùng) nói người trinh tiết, 喬 松 (kiều tùng) nói người thọ,…
([3]) Tam giáp: trong kì thi Đình, theo số điểm, người đỗ được xếp vào 3 hạng gọi là Tam Giáp: Bậc 1: Đỗ Tiến Sĩ Đệ Nhất Giáp (Tiến sĩ cập đệ – gồm 3 thí sinh đỗ cao nhất gọi là Tam khôi: Đỗ hạng ba là Thám Hoa (ông Thám), hạng nhì là Bảng Nhãn (ông Bảng), đỗ đầu là Trạng Nguyên (ông Trạng)
Bậc 2: Đỗ Tiến Sĩ Đệ Nhị Giáp (Tiến sĩ xuất thân, Hoàng Giáp – ông Hoàng)
Bậc 3: Đỗ Tiến Sĩ Đệ Tam Giáp (Đồng tiến sĩ xuất thân – tên dân gian là ông Tiến Sĩ)
([4]) Ngũ tân: 5 loại rau có vị: hành, tỏi, hẹ,… chỉ chung vị giác, mùi vị. Đây là năm vị rau cay, cũng gọi là ngũ huân. Phong thổ ký: Tết nguyên đán bày năm ngũ tân. Lý Thời Trân trong Bản thảo cương mục chép: Tết nguyên Đán, ngày lập xuân lấy hành tỏi, rau hẹ rau răm và rau cải non trộn làm món ăn lấy ý nghênh tân (đón cái mới – hai từ đồng âm)
“Ngũ tân ngộn ngộn đầy mâm,
Cửa xum ngọc trắng, tay dầm tơ xanh”.
(Trích Tứ thời khúc vịnh, Hoàng Sĩ Khải, Nam Phong,1926.) (Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên – Từ ngữ điển cố văn học, nxb Văn học, trang 688.)
行 年
時 蓋 戊 辰 之 四 十 歲 也
春 來 四 十 一 強 年,
年 益 康 強 幸 有 天.
會 上 功 名 欣 際 遇,
幄 中 謀 議預 周 旋.
濟 時 強 泛 經 綸 富,
随 分聊 安 義 命 全.
卻 喜 詩 書 遺 澤 在
兒 孫 繼 有 舊 青 檀.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
Thời cái Mậu Thìn chi tứ thập nhất tuế dã.
Xuân lai tứ thập nhất cường niên,
Niên ích khang cường hạnh hữu thiên.
Hội thượng công danh(5 ) hân tế ngộ,
Ác trung mưu nghị dự chu tuyền.
Tế thời cường phiếm kinh luân(6 ) phú,
Tùy phận liêu an nghĩa mệnh toàn.
Khước hỉ thi thư di trạch tại,
Nhi tôn kế hữu cựu thanh đàn.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Mậu Thìn, ta bốn mốt tuổi.
Xuân đến ta bốn mốt tuổi khỏe mạnh,
Tuổi thêm khỏe mạnh may mắn nhờ có trời.
Hớn hở gặp cơ hội mà có được cả công nghiệp và danh dự,
Mọi việc ta đều mưu tính, tham dự rất toàn vẹn.
Chuyện kinh luân thắng thua đều tùy vào thời thế có phú cho không?
Tùy theo danh vị trong xã hội hãy giữ bình yên, lẽ phải và tính mệnh cho nhân dân.
Lùi về vui với sách thơ bỏ quên ở nhà,
Con cháu mai sau liệu có tiếp nối khúc đàn cũ thanh tao này không?
Dịch thơ:
HÀNH NIÊN TUỔI BỐN MƯƠI MỐT
Ta nay bốn mốt tuổi tròn
May nhờ trời giúp thêm ơn cao dày
Gặp thời cơ vận rồng mây
Việc công tham góp dựng xây cơ đồ
Tùy thời liệu việc thắng thua
Chăm dân, dựng đạo, lệnh vua vuông tròn
Văn chương sẵn có thư phòng
Cháu con sáng nghiệp tổ tông mới là.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([5]) Công danh: có được cả công nghiệp và danh dự.
([6]) Kinh luân: Kinh là gỡ từng mối tơ ra, luân là so những sợi tơ cùng một loại mà kết thành con. Chỉ việc sửa sang sắp đặt việc chính trị. (Từ ngữ điển cố văn học – Nguyên Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên, Nxb Văn học,1999, trang 531).
行 年
時 蓋 壬 申 之 四 十 五 歲 也. 退 受 兵 科 給 事 中.
今 歲 行 年 四 十 五,
自 覺 力 年 強 且 富.
道 所 來 乎 一 未 能,
義 之 非 者 毫 那 顧.
窮 通 有 命 處 而 安,
肖 長 以 時 随 所 遇.
卲 子 生 男 正 是 年,
所 期 天 厚 兒 郎 做.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
Thời cái Nhâm Thân chi tứ thập ngũ tuế dã.
Thoái thụ binh khoa cấp sự trung.
Kim tuế hành niên tứ thập ngũ,
Tự giác lực niên cường thả phú.
Đạo sở lai hồ nhất vị năng ,
Nghĩa chi phi giả hào na cố.
Cùng thông(7 ) hữu mệnh xử nhi an,
Tiêu trưởng(8 ) dĩ thời tùy sở ngộ.
Thiệu tử sinh nam chính thị niên,
Sở kỳ thiên hậu nhi lang tố.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Nhâm Tuất, ta 45 tuổi.
Ta giữ chức quan Cấp Sự Trung Bình Khoa.
Năm nay ta bốn mươi lăm tuổi,
Hiểu biết của bản thân cùng với sức trẻ ngày càng dồi dào.
Muốn đến nơi tận cùng của đạo nhưng bản lĩnh chưa đạt được,
Nghĩa không phải là điều sai trái, trông lại dù là điều gì rất nhỏ.
Cùng thông có mệnh, hãy giữ cho đạo tâm được an,
Theo thời gian, vạn vật đều phải lần lượt trải qua tiêu trưởng.
Chính là năm sinh được con trai đầu lòng,
Kỳ vọng trời ưu ái cho đứa con trai nên ta phải coi trọng việc làm quan.
Dịch thơ:
HÀNH NIÊN TUỔI BỐN MƯƠI LĂM
Bốn lăm tuổi vững cầm tay
Sức thêm cường tráng đức dày cao thêm
Đạo cao chưa đạt đừng ghen
Chờ thời ắt sẽ có phen tỏ tường
Tâm an, trí vững, đường trường
Tiêu tan sinh trưởng cung đường phải qua
Ơn trời quý tử oa oa
Chăm siêng pháp đạo, cửa nhà an yên.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([7]) Cùng thông: Sự vật phát triển tới cực điểm, khi cùng tận, thì tất phải biến hóa, sau khi biến hóa liền thông đạt, nhờ thông đạt mà được dài lâu.
([8]) Tiêu trưởng: mòn đi, lớn lên = thịnh suy.
行 年
時 蓋 甲 戌 之 四 十 七 歲 也. 受 禮 科 給 事 中
年 已 四 旬 今 又 七,
所 求 道 四 未 能 一.
中 随 時 在 且 安 常,
學 與 年 俱 惟 務 實.
拭 自 重 有 元 旦 春,
回 頭 近 見 長 安 日.
早 來 樹 樹 好 花 開,
金 玉 滿 庭 相 甲 乙.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
Thời cái Giáp Tuất chi tứ thập thất tuế dã.
Thụ lễ khoa cấp sự trung.
Niên dĩ tứ tuần kim hựu thất,
Sở cầu đạo tứ vị năng nhất.
Trung tùy thời tại thả an thường,
Học dữ niên câu duy vụ thực.
Thức tự trọng hữu nguyên đán xuân,
Hồi đầu cận kiến trường an nhật.
Tảo lai thụ thụ hảo hoa khai,
Kim ngọc(9) mãn đình tương giáp ất.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm giáp Tuất, ta bốn mươi bảy tuổi,
nhận chức quan Cấp Sự trung Lễ Khoa.
Năm nay ta bốn mươi bảy tuổi,
Kỳ vọng sẽ thấu hiểu tứ đạo, nhưng bản lĩnh chưa đạt được.
Sống giữ yên khuôn phép thường tùy vào thời cơ,
Sức học cùng với sức làm ngày một tiến bộ.
Làm cho mình trong sạch, coi trọng việc đón ngày xuân đầu năm,
Mong được thấy những ngày bình yên như thuở ban đầu.
Sáng sớm tới cây cối đều nở hoa đẹp,
Hoa nở đầy sân là điều đáng quý như châu báu, bắt đầu năm Giáp Ất.
Dịch thơ:
HÀNH NIÊN TUỔI BỐN MƯƠI BẢY
Đón xuân Giáp Tuất đang về
Bốn mươi bảy tuổi còn bề chưa thông
Tùy thời khuôn phép liệu trông
Thực hành, thực học thung dung chuyên cần
Dọn mình trong sạch mừng xuân
Những ngày tơ tóc thân gần đã xa
Tinh tươm cây cối nở hoa
Tân niên mở rộng đường xa tất thành.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
([9]) Kim ngọc: châu báu, vàng ngọc, được người quý trọng.
行 年
時 蓋 乙 亥 之 四 十 八 歲 也.
年 瑜 強 仕 更 康 強,
所 處 聊 随 分 內 常.
學無 時 時 加 又 習,
德 期 日 日 進無 疆 .
思 那 芥 帶心 常 遶,
居 有 芝 蘭 室 自 香.
秋 桂 春 梅 催 客 興,
詩 成 筆 已 起 新 陽.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
Thời cái Ất Hợi chi tứ thập bát tuế dã.
Niên du cường sĩ cánh khang cường,
Sở xử liêu tùy phân nội thường.
Học vô thời thời gia hựu tập,
Đức kỳ nhật nhật tiến vô cương.
Tư na giới đái tâm thường nhiễu,
Cư hữu chi lan(10) thất tự hương.
Thu quế xuân mai thôi khách hứng,
Thi thành bút dĩ khởi tân dương.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Ất Hợi, ta bốn mươi tám tuổi.
Năm qua làm quan được khỏe mạnh,
Luôn giữ đạo tâm vì đạo lí.
Học tập không quên phải luyện tập thường xuyên,
Hàng ngày nỗ lực rèn luyện tu dưỡng phẩm hạnh tiến bộ không ngừng.
Suy nghĩ về việc nhỏ nhặt tâm thường nhiễu loạn,
Sống ở lều cỏ tự mình sẽ toả hương.
Quế mùa thu, mai mùa xuân gợi hứng giục lòng thơ,
Thơ làm vừa xong, ngừng bút thì mặt trời mới mọc.
Dịch thơ:
HÀNH NIÊN TUỔI BỐN MƯƠI TÁM
Làm quan gân mạnh, trí tinh
Đạo tâm hòa hợp bóng hình hanh thông
Luyện rèn như núi như sông
Tu tâm dưỡng tính tuyệt không biếng lười
Bỏ qua nhỏ nhặt khóc cười
Lều tranh thong thả ắt rồi tỏa hương
Văn chương đơm kết đêm trường
Vầng dương ló rạng phố phường tinh khôi.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
([10]) Chi lan: vốn là hai loại cỏ rất thơm, tượng trưng cho cái thơm, thảo, tốt lành bền vững. Gia ngữ: Dữ thiện nhân cư như nhập chi lan chi thất (Ở với người tốt như vào nhà có cỏ lan cỏ chi) (theo Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên – Từ điển điển cố văn học, Nxb Văn học, H, 1997, trang 544).
行 年
時 蓋 丙 子 四 十 九 歲 也
七 七 行 庚 正 盛 年,
年 來 又 值 艷 陽 天.
日 充 月 積 詩 書 澤,
陰 伏 陽 生 造 化 權.
整 頓 乾 坤 歸 局 一,
平 章 風 月八詩 千.
到 來 遇 著 好 時 節,
忠 孝 初 心 喜 得 年.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
Thời cái Bính Tý tứ thập cửu tuế dã.
Thất thất hành canh chính thịnh niên,
Niên lai hựu trị diễm dương thiên.
Nhật sung nguyệt tích thi thư trạch,
Âm phục dương sinh tạo hóa quyền.
Chỉnh đốn càn khôn quy cục nhất,
Bình chương phong nguyệt bát thi thiên.
Đáo lai ngộ trước hảo thời tiết,
Trung hiếu sơ tâm hỉ đắc niên.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Bính Tý, ta bốn mươi chín tuổi.
Năm nay ta bốn mươi chín tuổi,
Năm tới sắc người lại thêm đẹp
Ngày tháng chuyên tâm thấm nhuần sách vở,
Âm phục dương sinh là quy luật của tạo hóa.
Muốn sửa lại giang sơn quay về một mối,
Đã bình phẩm được tám nghìn bài thơ nói về gió trăng.
Đến được như vậy là do gặp được thời cơ tốt,
Tấm lòng trung hiếu làm đầu, hàng năm sẽ có được sự hoan hỉ.
Dịch thơ:
HÀNH NIÊN TUỔI BỐN CHÍN
Tuổi nay bốn chín xuân rồi
An khang thân thể rạng ngời vẻ xuân
Văn chương đạo nghĩa chuyên cần
Dương sinh âm phục xoay vần hóa công
Giang sơn quy lại thêm gần
Tám nghìn thi phẩm trong ngần gió trăng
Tự mình phải biết siêng năng
Trời xanh tung cánh chim bằng vút cao.
Phùng Văn Khai dịch
行 年
時 蓋 丁 丑 之 五 十 歲 也
曾 聖 五 十 知 天 命,
衛 賢 五 十 知 前 非.
或 先 或 後 雖 云 異,
為 聖 為 賢 正 可 希.
進 進 到 來 那 地 位,
生 生 覺 得 這 天 機.
朝 回 紫 禁 春 風 曉,
攜 得 香 煙 滿 神 歸.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
(Thời cái Đinh Sửu chi ngũ thập tuế dã)
Tăng thánh ngũ thập tri thiên mệnh,
Vệ hiền ngũ thập chi tiền phi.
Hoặc tiên hoặc hậu tuy vân dị,
Vi thánh vi hiền chính khả hi.
Tiến tiến đáo lai na địa vị,
Sinh sinh giác đắc giá thiên cơ.
Triều hồi tử cấm xuân phong hiểu,
Huề đắc hương yên mãn thần quy.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Đinh Sửu, ta năm mươi tuổi.
Thánh đã từng nói: ngài tới 50 tuổi mới biết mệnh trời,
Người tài đức thì 50 tuổi sẽ biết phân biệt phải trái, trước sau, xấu tốt.
Nghi ngờ trước sau dù đó là điều khác lạ,
Làm thánh, làm người hiền tài có mấy ai dễ được chấp thuận.
Không ngừng tiến lên, đến nay đã có được địa vị,
Dần dần sẽ biết được thiên cơ ấy.
Đi chầu về sắc tía chặn gió xuân.
Mang được tiếng thơm, trở về hương khói cho tổ tiên.
Dịch thơ:
HÀNH NIÊN TUỔI NĂM MƯƠI
Năm mươi tuổi biết mệnh trời
Càng thêm đức hạnh biết người biết ta
Những dị thường tạm tránh xa
Thánh hiền, quân tử bôn ba cũng nhiều
Vững vàng địa vị phong nhiêu
Thiên cơ tạm biết những điều thiệt hơn
Tổ tiên phúc đức vuông tròn
Áo vua ban sắc tía còn ngát hương.
Phùng Văn Khai dịch
Phùng Văn Khai dịch
—————–
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 10]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 11]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 12]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 13]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 14]
![Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 15] Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 15]](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/03/Chum-tho-Phung-Khac-Khoan-do-Phung-Van-Khai-dich-Ky-15-1.jpg)


























