Giới thiệu khái quát huyện Yên Thế

Giới thiệu khái quát huyện Yên Thế

Giới thiệu khái quát huyện Yên Thế

1. Điều kiện tự nhiên:
Yên Thế là huyện Miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Bắc Giang, có diện tích trên 303 km2, trong đó diện tích đất lâm nghiệp (chủ yếu là đồi núi thấp) 13.285,11 ha chiếm 43,36% so với tổng diện tích tự nhiên; Đất nông nghiệp 25.874,8 ha chiếm 84,55%; Đất phi nông nghiệp 4.664,8 ha chiếm 15,2%; Đất chưa sử dụng 97,44 ha chiếm 0,32%.
 Phía Đông Bắc giáp huyện Hữu Lũng – tỉnh Lạng Sơn; phía Đông Nam giáp huyện Lạng Giang; phía Tây Bắc giáp huyện Phú Bình, Đồng Hỷ và Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên; phía Nam giáp huyện Tân Yên.
Toàn huyện có 21 xã, thị trấn với 3 trung tâm kinh tế xã hội là thị trấn Cầu Gồ, thị trấn Bố Hạ và trung tâm cụm xã vùng cao Mỏ Trạng; có khoảng 10 vạn dân với 14 dân tộc cùng nhau chung sống gồm: Kinh, Tày, Nùng, Mường, Dao, Cao lan, Hoa, Sán Dìu…. Trung tâm huyện lỵ là thị trấn Cầu Gồ cách thành phố Bắc Giang 27 km và cách thủ đô Hà Nội 75 km. Trên địa bàn huyện có các trục đường chính gồm: Tuyến Quốc lộ 17 (từ Nhã Nam – Yên Thế – đi Xuân Lương- Tam Kha); tuyến đường tỉnh lộ 242 (từ thị trấn Bố Hạ – Đèo Cà đi Hữu Lũng – Lạng sơn); tuyến đường tỉnh lộ 292 (từ thị trấn Cầu Gồ đi Bố Hạ – Kép); tuyến đường tỉnh lộ 294 (từ ngã ba Tân Sỏi – Yên Thế đi Nhã Nam huyện Tân Yên – Cầu Ca huyện Phú Bình); tuyến đường 268 Mỏ Trạng – Bố Hạ đi Thiện Kỵ – Lạng Sơn. Các tuyến đường tỉnh lộ nối liền hệ thống đường trục xã tạo thành mạng lưới đường bộ phân bố hợp lý thuận lợi cho giao thông trong và ngoài huyện.
Yên Thế là huyện thuộc vùng núi thấp, nhiều sông suối, độ chia cắt địa hình đa dạng. Địa hình dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Có thể phân ra 3 dạng địa hình chính như sau:
+ Địa hình vùng núi: Diện tích 9200,16 ha (chiếm 30,56% diện tích tự nhiên của huyện), phân bố chủ yếu ở phía Bắc huyện, thường bị chia cắt bởi độ dốc khá lớn (cấp III và cấp IV), hướng dốc chính từ Bắc xuống Nam. Độ cao trung bình so với mực nước biển từ 200-300m. Dạng địa hình này đất đai có độ phì khá, thích hợp với các loại cây lâm nghiệp, cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm.
+ Địa hình đồi thấp: Diện tích 8.255 ha (27,42% tổng diện tích tự nhiên), phân bố rải rác ở các xã trong huyện, có độ chia cắt trung bình, địa hình lượn sóng, độ dốc bình quân 8-150 (cấp II,III). Độ phì đất trung bình, chủ yếu là đất sét pha sỏi, độ che phủ rừng trung bình. Loại địa hình này có khả năng phát triển cây lâu năm (vải thiều, hồng…), cây công nghiệp.
+ Địa hình đồng bằng: Toàn vùng có diện tích 10.633 ha (35,32% tổng diện tích tự nhiên). Ven các sông suối và các dải ruộng nhỏ xen kẹp giữa các dãy đồi. Độ dốc bình quân 0-80. có khả năng phát triển cây lương thực và rau màu.
* Khí hậu, thời tiết
Yên Thế nằm trong vòng cung Đông Triều, có khí hậu nhiệt  đới gió mùa nóng ẩm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ bình quân cả năm là 23,40c. Nhiệt độ trung bình cao nhất năm 26,90C, nhiệt độ trung bình thấp nhất năm 20,50C;  tháng có nhiệt độ cao nhất là các tháng 6, 7, 8; tháng có nhiệt độ thấp nhất là các tháng 12, 1, 2 (có khi xuống tới 0 – 10C).
* Lượng mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.518,4 mm, Yên Thế thuộc vùng mưa trung bình của trung du Bắc Bộ. Lượng mưa phân bố không đều trong năm chiếm tới 85% tổng lượng mưa của cả năm. Lượng mưa tập trung nhiều vào các tháng 6,7, 8, dễ gây ngập úng ở những nơi địa hình thấp, tuy thời gian ngập không kéo dài nhưng thường có lũ ống, lốc xoáy. Ngược lại, trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm khoảng 15% lượng mưa cả năm. Trong mùa này lượng nước bốc hơi mạnh, ảnh hưởng lớn tới trồng trọt nếu không có hệ thống tưới. Lượng bốc hơi trung bình năm 1012,2 mm, tập trung nhiều vào các tháng 5,6,7, các tháng còn lại lượng bốc hơi phân bố khá đều.
* Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí bình quân cả năm là 81%, cao nhất là 86% (tháng 4) và thấp nhất là 76% (tháng 12).
*  Gió: Trong vùng có hai mùa gió chính: Gió mùa Đông Bắc thịnh hành trong mùa khô, với tốc độ gió trung bình 2,2 m/s. Trong mùa mưa, hướng gió chủ yếu của vùng là gió mùa Tây Nam với tốc độ trung bình 2,4 m/s. Nhìn chung huyện Yên Thế nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa Hạ nóng ẩm mưa nhiều, mùa Đông ít mưa, lạnh và khô. Có lượng mưa trung bình, với nền nhiệt độ trung bình khá cao, giàu ánh sáng. Đây là những điều kiện thuận lợi cho nhiều loại cây trồng phát triển và có thể làm nhiều vụ trong năm.
* Thủy văn: Yên Thế có 2 con sông lớn (sông Thương chảy qua ranh giới phía Đông huyện dài 24 km từ Đông Sơn đến Bố Hạ; sông Sỏi chạy dọc huyện từ Xuân Lương đến Bố Hạ hợp lưu với Sông Thương, dài 38 km) tổng lưu lượng nước khá lớn. Ngoài ra, huyện còn có hệ thống các hồ chứa, ao và các suối nhỏ thuộc hệ thống sông Sỏi và sông Thương. Nguồn nước mặt được đánh giá là dồi dào, phân bố khá đều trên địa bàn, tạo thuận lợi cơ bản cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt.
2. Các nguồn tài nguyên
 a. Tài nguyên đất
+ Nhóm đất phù sa nằm trong vùng địa hình bằng phẳng (độ dốc 0 – 80), là nhóm đất thuận lợi cho sản xuất lương thực và rau màu, bao gồm 3 đơn vị đất:
* Phù sa được bồi (Pb): diện tích 180 ha phân bố ở địa hình vàn cao.
* Phù sa không được bồi (P): diện tích 280 ha phân bố ở trong đờ.
* Phù sa ngòi suối (Py): Có diện tích 1835 ha, phân bố ven các suối.
+ Nhóm đất xám bạc màu: Có diện tích 3163 ha, tuy nghèo đạm, lân và mùn song giàu kali, tơi, xốp, thoát nước tốt thích hợp với các loại cây có củ.
+ Nhóm đất đỏ vàng: Tổng diện tích 24017,15 ha chiếm 79,72% diện tích tự nhiên, phân bố ở tất cả các xã và ở cả ba dạng địa hình.
+ Nhóm đất tầng mỏng có nhiều sỏi đá: diện tích 650 ha, phân bố chủ yếu ở các sườn đồi, đất bị xói mòn, có tầng đất mỏng, độ phì kém, bạc màu.
– Xét về độ dốc, đất đai trong huyện được chia làm 4 cấp độ dốc như sau:
+ Độ dốc cấp I (0o – 80): chiếm 35,32%.
+ Độ dốc cấp II (8o – 150): chiếm 18,47%.
+ Độ dốc cấp III (15o – 250): chiếm 8,94%.
+ Độ dốc cấp IV (>250): chiếm 30,56%.
+ Sông, suối, mặt nước và đất chưa điều tra: chiếm 6,8%.
b. Tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê đất đai đến 01/01/2015 đất lâm nghiệp có rừng toàn huyện là 13.285,11 ha, chiếm gần 43,36% tổng diện tích tự nhiên. Các cây trồng chủ yếu là các loại cây keo lai, bạch đàn…. hàng năm cho khai thác 40.000- 50.000 m3 gỗ các loại.
Trong những năm gần đây được sự hỗ trợ của các chương trình, dự án trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc nhân dân đã chú ý nhiều đến việc trồng rừng, trồng cây ăn quả, do đó thảm thực vật rừng ngày càng phát triển.
c. Tài nguyên khoáng sản
+ Than đá: Có mỏ Bố Hạ phân bố ở 2 xã Đồng Hưu và Đông Sơn. Tổng trữ lượng khoảng  4.000 ngàn tấn. Than  đá được khai thác chủ yếu phục vụ nhu cầu sản xuất vật liệu xây dựng tại địa phương (đốt gạch, nung vôi …).
+ Nhóm kim loại đen: Quặng sắt ở Xuân Lương, có trữ lượng khoảng 500 ngàn tấn,  hiện đang được khai thác phục vụ công nghiệp địa phương và cung cấp cho các cơ sở luyện gang thép, làm phụ gia sản xuất xi măng…
+ Nhóm kim loại quý: Chủ yếu là vàng sa khoáng do dân khai thác tự do, sản lượng không nhiều, tập trung ở thượng nguồn sông Sỏi (có chiều dài khoảng 3km rộng 300-400m), cần được thăm dò khảo sát để đánh giá và lập kế hoạch khai thác.
+ Đất sét: Có ở nhiều nơi trong huyện (đặc biệt ở khu vực Đồi Mồ – Bố Hạ và La Lanh, Đồng Vương trữ lượng khoảng 300.000m3), hiện tại đang được khai thác phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng.
 d. Tài nguyên nhân văn
Yên Thế là nơi diễn ra cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại thực dân Pháp gần 30 năm (1884- 1913) do người anh hùng áo vải Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Hiện nay trên đất Yên Thế còn lưu lại được nhiều di tích quý báu của cuộc khởi nghĩa: Đồn Phồn Xương, Đền Cầu Khoai, Đền Huyết Hồ, Đền Suối Cấy, Đồn Hố Chuối, Đồn Hom, Chùa Lèo, Đình Dĩnh Thép, Chùa Thông, là những di tích lịch sử ghi lại những chiến công của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp gần 30 năm. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có một số di tích lịch sử văn hoá khác được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh.
3. Về môi trường
Yên Thế có nhiều cảnh quan thiên nhiên có thể phát triển du lịch sinh thái và du lịch nghỉ dưỡng:
+ Hồ Suối Cấy: Thuộc địa bàn xã Hồng Kỳ và Đồng Hưu có diện tích mặt nước 180 ha, khả năng sinh thuỷ lớn, lòng hồ có đảo nhỏ có khả năng phát triển du lịch sinh thái.
+ Hồ Cầu Rễ: Thuộc địa bàn xã Tiến Thắng và xã Tam Tiến, có diện tích mặt nước 200 ha, xung quanh là đồi núi, rừng cây che phủ, địa điểm này nằm trong quy hoạch tổng thể du lịch của tỉnh.
+ Hồ Đá Ong: Thuộc địa bàn xã Tiến Thắng huyện Yên Thế có diện tích mặt nước 150 ha; xung quanh được bao bọc bởi rừng núi, có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái.
+ Hồ Chùa Sừng: Thuộc địa bàn xã Canh Nậu, diện tích 41 ha; xung quanh bao bọc bởi rừng tự nhiên, rừng trồng, có điều kiện để phát triển kinh tế- du lịch.
+ Hệ thống thủy lợi Sông Sỏi: Gồm Hồ chứa nước(Đập Dâng), Hồ Quỳnh và hệ thống kênh (Kênh Đông, Kênh Tây, Kênh Giữa) là công trình thuỷ lợi kết hợp du lịch đang được hoàn thiện. Đây là công trình nằm trên phạm vi 12 xã của huyện Yên Thế với diện tích trên 260 ha, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế- du lịch.
+ Khu Thác Ngà (Xuân Lương): Diện tích khoảng gần 50 ha, đây là khu rừng tự nhiên có nhiều tiềm năng, có điều kiện để phát triển du lịch sinh thái.
Ngoài ra trên địa bàn huyện một số hệ thống hồ đập như: Hồ Ngạc Hai, Hồ Suối Ven ở xã Xuân Lương; Hồ Cầu Cài, Hồ Chín Suối ở xã Đông Sơn; Hồ Cầu Cháy ở xã Hồng Kỳ; Hồ Chồng Chềnh xã Đồng Vương… Góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế và cảnh quan môi trường của địa phương./.

KHAI QUÁT LỊCH SỬ HUYỆN YÊN THẾ

Yên Thế là huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của tỉnh Bắc Giang, có diện tích tự nhiên 303km2; bắc giáp huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, nam giáp huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang, đông giáp huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn và Lạng Giang tỉnh Bắc Giang, tây giáp huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên.
Trải qua những biến thiên của lịch sử, sự thay đổi địa giới chung của cả nước, tên gọi và địa giới hành chính huyện Yên Thế cũng có nhiều thay đổi.
Từ khi có dân cư sinh sống đến thời Lý (1009-1225), vùng đất Yên Thế chưa là một đơn vị hành chính riêng mà nằm trong đất Lạng Châu. Đến thời Trần (1225-1400), huyện mang tên là Yên Viễn thuộc lộ Như Nguyệt Giang, khi nhà Minh thống trị huyện đổi tên thành Thanh Yên, thuộc châu Lạng Giang. Thời Quang Thuận nhà Lê (1460-1469), Thanh Yên được gọi là Yên Thế, nằm trong phủ Lạng Giang trấn Kinh Bắc.
Đến thời kỳ đầu nhà Nguyễn, Yên Thế vẫn giữ hiện trạng đó. Từ năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) trực thuộc phân Phủ Lạng Giang. Đầu thế kỷ XX phủ Yên Thế gồm 10 tổng, trừ tổng Yên Thế đã biến mất và thêm 03 tổng khác là Hương Vỹ, Hữu Thượng (trước thuộc huyện Hữu Lũng) và Ngọc Cục (trước thuộc huyện Yên Dũng). Theo danh mục các làng xã Bắc kỳ (1927) và tài liệu lưu trữ về làng xã Bắc Kỳ (đầu thế kỷ XX), huyện Yên Thế gồm 10 tổng. Trước năm 1945, Yên Thế là một phủ nằm trong tỉnh Bắc Giang, địa giới bao gồm cả 2 huyện Yên Thế và Tân Yên ngày nay.
 Năm 1957, theo Nghị định số 532-TTg ngày 6/11/1957 của Thủ tướng Chính phủ huyện Yên Thế chia thành 02 huyện Yên Thế và Tân Yên. Đến nay huyện Yên Thế có 19 xã và 02 thị trấn là: Xuân Lương, Canh Nậu, Tam Tiến, Đồng Vương, Đồng Tiến, Tiến Thắng, An Thượng, Tân Hiệp, Tam Hiệp, Hồng Kỳ, Phồn Xương, Đồng Lạc, Tân Sỏi, Đồng Kỳ, Đồng Hưu, Hương Vỹ, Đông Sơn, Bố Hạ, Đồng Tâm, thị trấn TT Cầu Gồ và  thị trấn Bố Hạ.
Địa lý tự nhiên của Yên Thế gồm hai phần: Vùng rừng núi và trung du. Yên Thế có nhiều sông ngòi trong đó có các con sông lớn là sông Thương, sông Sỏi; sông Thương đồng thời là đường ranh giới giữa huyện Yên Thế và huyện Lạng Giang. Ngoài hai con sông lớn trên, ở Yên Thế còn có rất nhiều con suối, ngòi lớn nhỏ chạy đan xen giữa các vùng.
Yên Thế là vùng đất có con người tụ cư sớm; Trải qua những thăng trầm, biến động của lịch sử, con người nơi đây đã chứng kiến bao cảnh hợp tan và từ những thế kỷ XVIII – XIX; nhất là từ đầu thế kỷ XX đến nay, Yên Thế lại là miền đất thu hút hội tụ đông đảo cư dân từ các vùng lân cận như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hưng Yên, Thái Bình, Hải Dương… tụ cư sinh sống tạo thành những cộng đồng làng bản đan xen gắn bó khăng khít, đoàn kết bảo vệ và xây dựng quê hương Yên Thế giàu đẹp như ngày hôm nay. Hiện nay, Yên Thế có trên 10 vạn người gồm 14 dân tộc anh em chung sống.
Trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, vùng đất Yên Thế đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được có những đóng góp quan trọng trong các cuộc kháng chiến của dân tộc chống lại các cuộc xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc như: Chống quân xâm lược Tống thế kỷ thứ XI, quân xâm lược Nguyên – Mông, cuộc kháng chiến chống quân Minh, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi – Nguyễn Trãi mà đỉnh cao là chiến thắng Chi Lăng – Xương Giang năm 1427 và sau nay là chống giặc cờ đen, cờ vàng…
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta Lương Văn Nắm, Hoàng Hoa Thám đã cùng nhân dân Yên Thế dựng cờ khởi nghĩa chống lại thực dân Pháp ngót 30 năm (1884 -1913). Khởi nghĩa Yên Thế chống thực dân Pháp xâm lược được đánh giá là một cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất, bền bỉ nhất trong phong trào vũ trang chống Pháp của nhân dân Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX trước khi có Đảng. Suốt 30 năm chiến đấu, nghĩa quân đã đánh hàng trăm trận lớn nhỏ, điển hình là các trận ở Cao Thượng (06-11-1890), Hố Chuối (22-11-1890), Phồn Xương (29-12-1895)…Cuộc khởi nghĩa phát triển khá sâu rộng và có sức ảnh hưởng lớn không chỉ ở trong vùng Yên Thế mà còn lan sang cả các vùng khác trong cả nước. Nhằm đàn áp cuộc khởi nghĩa Yên Thế, thực dân Pháp đã tập trung vào đây một lực lượng đông đảo các tướng, tá, binh lính cũng như vũ khí, đạn dược hòng dập tắt cuộc khởi nghĩa. Trong các trận đánh có sự tham gia chỉ huy của toàn quyền Đông Dương Pônđume, thống x