CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI
DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT
(Kỳ thứ mười bảy)
Lời người dịch: Trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Danh nhân văn hóa lịch sử Phùng Khắc Khoan luôn sáng rõ một điều: đó là tâm huyết, tài hoa và ý chí của người trí thức – một mệnh quan triều đình trước hết và trên hết là phụng sự nhân dân và Tổ quốc. Điều này càng khiến các đấng bậc bên trên, nhà vua, nhà chúa nể trọng tin dùng. Chính bởi vậy, thơ đức Trạng Bùng luôn muôn màu muôn vẻ, bình dị mà vô cùng hữu ích.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai
HUẤN ĐỒNG THI TẬP
(Tập thơ dạy trẻ)
Huấn đồng thi tập: tập thơ dạy trẻ cách thức làm thơ của Phùng Khắc Khoan, khởi thảo từ năm Quý Mùi (1583) khi nhà thơ đã 56 tuổi. Theo Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, thi tập có đến 172 bài, nhưng hiện còn chỉ 34 bài và một bài Tựa. Ở đây trích tuyển toàn văn bài Tựa lấy trong Kiến văn tiểu lục và 10 bài thơ lấy trong Toàn Việt thi lục.
HUẤN ĐỒNG THI TẬP TỰ([1])
(Bài tựa tập thơ dạy trẻ)
Tôi nghe đức Khổng Tử nói: “Tiểu tử, sao không học thi văn?” Nhưng thi văn có phải tiểu tử dễ mà học được đâu, tất phải có bậc đại nhân lưu ý về văn mặc dạy bảo cho đại thể thi văn mới được. Nay tìm trong lời dạy của người đời cổ, Chu Văn công([2]) bàn về thi văn nói: “Học giả làm thơ, trước hết phải lập ý, ý đã đúng, rồi sau mới theo thể thơ mà sử dụng”. Thủy tiên cấm ngữ của Phạm Đức Ky ở Thanh Giang nói: “Làm thơ trước hết phải lập ý, như người làm nhà, khuôn thước hình thể tất phải chứa sẵn trong bụng, sau sẽ dùng đến búa rìu. Cách cục làm thơ: câu phá đề, hoặc mở đầu bằng đối cảnh, hoặc mở đầu bằng tức sự, hoặc theo đầu đề để làm câu mở đầu, hoặc dùng ý liên hợp với đầu đề để làm câu mở đầu, cần phải đột ngột cao xa như gió to cuốn sóng lên, thế muốn ngập trời; câu hàm liên([3]), hoặc tả ý, hoặc tả cảnh, hoặc chép việc, hoặc dùng việc để dẫn chứng, cần phải liên tiếp với câu phá, như hạt ngọc ở hàm con rồng, lúc nào cũng ôm khư khư không bỏ; câu cảnh liên([4]), hoặc tả ý, hoặc tả cảnh, hoặc chép việc, hoặc dùng việc để dẫn chứng, cùng với ý câu trên hô ứng nhau, tránh trùng điệp nhau, cần phải biến hóa, như tiếng sét bất thình lình phá tan quả núi, làm cho người xem thơ phải hoảng sợ; câu kết, hoặc theo đầu đề để thúc kết, hoặc mở ra một đường, hoặc nối theo ý câu trên, hoặc dùng sự việc và làm câu buông thổng để tán đàn, như con thuyền Diễm Khê đi về một cách tự nhiên”. Phạm Đức Ky lại nói: “Thơ cần phải trình bày có đầu mối, dụng ý sâu xa, luyện câu trang nhã, chữ dùng đúng, âm hưởng vang, câu kết lại càng khó. Người làm thơ mà không làm được câu kết đẹp đẽ, thì có thể biết được người ấy tương lai không thành đạt được”. Bàn về thơ, Chu Hối Am nói: “Hai câu đối nhau cho đẹp đẽ, có thể dễ làm được, nhưng khó làm được câu kết hay”. Về phép làm thơ, Bạch Cư Dị([5]) nói: “Luyện câu không bằng luyện chữ, luyện chữ không bằng luyện ý, luyện ý không bằng luyện cách”. Vả lại thơ: có cách khen mà bên trong ngụ ý chê, có cách chê mà bên trong ngụ ý khen, có cách trước hỏi sau đáp, có cách cảm đời nay nhớ đời xưa, có cách tạo ý trong một câu, có cách lập ý trong hai câu. Các phép đều đủ, khó có thể trình bày hết được. Thơ của Bạch Cư Dị có ý trong, có ý ngoài. Về phép đặt câu: như Phạm Đức Ky có câu dùng lối vấn đáp, có câu trên ba chữ, dưới ba chữ, có câu trên bốn chữ, dưới bốn chữ, có câu trên thưa dưới gọi, có câu trên gọi dưới thưa, có câu như gió đi mây theo, có câu đảo điên rối loạn, có câu nói ngược mà lẽ xuôi, hoặc hai câu, hoặc một câu.
Về phép làm thơ: phải dùng chữ điêu luyện cân đối với nhau, trước hết phải nghĩ chữ đối nhau, rồi sau sẽ sáng tác cả câu, không nên nghĩ từng câu một.
Thượng Quan nhà Đường nói: “Thơ có 6 thể đối nhau: 1- chính đối, 2- đồng loại đối, 3- liên châu đối, 4- song thanh đối, 5- điệp vận đối, 6- song nghĩ đối”. Lại nói: “Thơ có 8 thể đối nhau: 1- đích danh đối, 2- dị loại đối, 3- song thanh đối, 4- điệp vận đối, 5- liên cẩm đối, 6- song nghĩ đối, 7- hồi văn đối, 8- cách cú đối”. Lại nói: “Người đối khéo có tá vận đối”. Sa trung kim tập nói: “Phàm làm thơ, dùng được sự thật vào tự nhãn [chữ cốt yếu], thì câu thơ mới được cứng cáp”. Lại nói: “Tự nhãn nên dùng chữ có âm hưởng”. Phan Phần Chí nói: “Dùng chữ cần chữ có âm hưởng, đấy là chỗ dụng công”. Lại nói: “Tự nhãn dùng chữ biến ảo, cũng là phép ảo tự, ảo cú của Lỗ Trực”([6]). Lại có người dùng chữ mẫu tử để đặt câu, cũng có người dùng hư tự để đặt câu, lại có người dùng điển trong kinh hoặc sử để đặt vào ba chữ cuối một câu. Lại có người đặt câu như nối đầu mối với nhau, lại có người đặt câu lối gãy lưng ong. Ngoài ra, thể cách các nhà thơ rất nhiều, khó có thể trình bày hết được. Ở đây chỉ thuật lại sơ lược cốt cách thơ văn, để khuyên dạy hậu sinh đương trổ tài bay nhảy mà thôi.
Trích từ Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn – Bản dịch – NXB KHXH, H.1977, tr. 210 – 213.
——————
([1]) Bài này được viết vào năm Quý Mùi, niên hiệu Quang Hưng năm thứ 6 (1583), đời Lê Thế Tông (1573 – 1599).
([2]) Chu Văn công: tức Chu Hy hay Chu Hối Am, nhà Lý học nổi tiếng đời Tống. Do sau này ông được phụ thờ trong Văn miếu, nên người ta gọi ông là Chu Văn công.
([3]) Hàm liên: tức câu thơ thứ ba và thứ bốn trong bài thơ luật.
([4]) Cảnh liên: tức câu thơ thứ năm và thứ sáu trong bài thơ luật.
([5]) Bạch Cư Dị (722-846): tự Lạc Thiên, hiệu Hương Sơn Cư Sĩ, nhà thơ nổi tiếng thời Trung Đường.
([6]) Lỗ Trực: tên tự của Hoàng Đình Kiên, nhà thơ đời Tống. Lỗ Trực làm thơ có phép thay đổi chữ cho hai câu đối nhau, gọi là phép “ảo tự, ảo cú”. Chẳng hạn câu: “Chỉ kim mãn tọa thả tôn tửu, hậu dạ thử đường không nguyệt minh” (Nay đầy nhà đầy chén rượu, đêm sau nhà này bóng trăng suông).
立 春
光 興 癸 未 作 以 下
陽 律 初 回 斗 指 寅
東 郊 歌 舞 喜 迎 春
土 牛 鞭 了 寒 威 辟
彩 燕 飛 來 暖 氣 均
氣 合 和 同 天 地 道
詔 施 寬 大 帝 王 仁
微 臣 愧 乏 規 詞 帖
願 效 華 封 祝 聖 人
Phiên âm:
LẬP XUÂN
(Quang Hưng, Quý Mùi tác dĩ hạ)
Dương luật sơ hồi đẩu chỉ dần,
Đông giao ca vũ hỉ nghênh xuân.
Thổ ngưu tiên liễu hàn uy tích,
Thái yến phi lai noãn khí quân.
Khí hợp hòa đồng thiên địa đạo,
Chiếu thi khoan đại đế vương nhân.
Vi thần quý phạp quy từ thiếp,
Nguyện hiệu Hoa phong chúc thánh nhân.
Dịch nghĩa:
LẬP XUÂN(7 )
(Sáng tác từ năm Quý Mùi,
niên hiệu Quang Hưng [1583] trở về sau)
Khí dương bắt đầu trở về, sao Bắc đẩu chỉ cung dần(8 ),
Vui ca múa đón xuân ở phía đông thành.
Lễ đánh roi trâu đất(9 ) vừa xong, khí lạnh xua tan,
Chim yến đẹp bay về, hơi ấm điều hòa khắp chốn.
Khí hợp hòa đồng cái đạo của trời đất,
Chiếu ban ra tỏ rõ đức nhân khoan hòa rộng lớn của bậc đế vương.
Bề tôi nhỏ mọn, thẹn vì còn thiếu tờ tâu mưu kế,
Nguyện bắt chước bề tôi nơi Hoa phong cung chúc thánh nhân(10 ).
Dịch thơ:
LẬP XUÂN
Khí dương đã hiện dần dần
Cùng vui ca múa phía đông cổ thành
Roi trâu đất đánh thêm nhanh
Yến về mây tỏa khí lành tốt tươi
Hòa đồng đạo lớn đất trời
Chiếu ban đức sáng vẻ ngời đế vương
Hoa phong nghinh chúc tinh sương
Ta càng luống thẹn kế phương mải tìm.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([7]) Lập xuân: ngày bắt đầu mùa xuân, tức ngày 4 hoặc 5 tháng 2 dương lịch.
([8]) Cung dần: cung thứ 3 trong 12 chi. Chữ “dần” ở đây cũng có nghĩa là “dần nguyệt”, tức tháng giêng âm lịch.
([9]) Trâu đất: dịch chữ “thổ ngưu”, tức con trâu làm bằng đất. Tục xưa, trước lập xuân một ngày, thì có lệ đánh roi vào con trâu đất để xua khí lạnh mùa đông, đón khí ấm mùa xuân. “Thổ ngưu” do vậy còn gọi là “xuân ngưu”.
([10]) Hoa phong: xưa Đế Nghiêu đi tuần thú đến đất Hoa, quan coi đất Hoa (Hoa phong) chúc Đế Nghiêu sống lâu, giàu có, nhiều con trai (Theo Trang Tử).
三 月
天 時 有 四 迭 周 旋
最 好 其 惟 三 月 天
桃 雨 洒 殘 紅 杏 火
蕙 風 吹 起 綠 楊 煙
舞 雩 壇 下 襟 何 爽
修 禊 亭 前 昔 謾 傳
樹 綠 蔭 濃 天 向 午
一 聲 何 處 奏 新 蟬
Phiên âm:
TAM NGUYỆT
Thiên thời hữu tứ điệt chu tuyền,
Tối hảo kỳ duy tam nguyệt thiên.
Đào vũ sái tàn hồng hạnh hỏa,
Huệ phong xuy khởi lục dương yên.
Vũ Vu đàn hạ khâm hà sảng,
Tu Hệ đình tiền tích mạn truyền.
Thu lục ấm nùng thiên hướng ngọ,
Nhất thanh hà xứ tấu tân thiền.
Dịch nghĩa:
THÁNG BA
Thời tiết có bốn mùa đắp đổi qua lại,
Đẹp nhất có lẽ chỉ có trời tháng ba.
Mưa rẩy đào tàn, hồng hạnh đỏ như lửa,
Gió thổi huệ lên, dương liễu xanh tựa khói.
Dưới đàn Vũ Vu(11 ), lòng dạ biết bao sảng khoái,
Trước đình Tu Hệ(12 ), tục xưa bày đặt ngoa truyền.
Cây xanh bóng rợp, trời sắp trưa,
Một tiếng ve ở đâu tấu lên khúc nhạc mới.
Dịch thơ:
THÁNG BA
Mặc nhiên trời đất xoay vần
Riêng ta thích nhất tiết phần tháng ba
Đào tàn, lửa lựu phô pha
Huệ thơm hương, liễu biếc qua mây ngàn
Tiếng đàn Vũ Vu lâng lâng
Sân đình Tu Hệ cúng dâng thức mùa
Cây xanh rợp bóng nắng trưa
Tiếng ve như tiếng gọi mưa mát lòng.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([11]) Vũ Vu: Tăng Điểm muốn thỏa chí cuối xuân, cùng bọn trẻ tắm nước sông Nghi, hóng gió ở đài Vũ Vu, hát mà về. Khổng Tử tán thành (Luận ngữ – Tiên tiến).
([12]) Tu Hệ: tên gọi lễ tế thần vào ngày kỷ thượng tuần tháng ba, gọi là lễ “phất trừ” yêu tà và điềm xấu. Trong dịp tế lễ, người ta tụ hội yến ẩm, giặt rửa và lượm hái cỏ thơm trên sông nước.
七 夕
節 逢 蘭 月 火 西 流
天 上 人 間 此 夕 秋
橋 渡 銀 河 官 役 鵲
帳 開 雲 母 女 逢 牛
合 歡 好 上 長 生 殿
乞 巧 爭 趨 結 綵 樓
工 拙 豈 關 今 夕 事
作 文 誰 復 效 其 尤
Phiên âm:
THẤT TỊCH
Tiết phùng lan nguyệt hỏa tây lưu,
Thiên thượng nhân gian thử tịch thâu (thu).
Kiều độ Ngân Hà quan dịch thước,
Trướng khai vân mẫu Nữ phùng Ngưu.
Hợp hoan háo thướng Trường Sinh điện,
Khất xảo tranh xu Kết Thái lâu.
Công chuyết khởi quan kim tịch sự,
Tác văn thùy phục hiệu kỳ vưu.
Dịch nghĩa:
THẤT TỊCH(13 )
Gặp tiết thất tịch, sao hỏa lặn về phía tây,
Đêm thu này như hòa đồng cả trời đất nhân gian.
Bắc cầu qua sông Ngân Hà(14 ) có chim thước làm việc công,
Mở màn vân mẫu(15 ) cho Chức Nữ gặp Ngưu Lang.
(Người ước) hợp hoan muốn lên điện Trường Sinh(16 ),
(Kẻ mong) xin khéo đua nhau tới lầu Kết Thái(17 ).
Sự khéo vụng há lại quan hệ đến việc đêm nay,
Làm văn ai lại bắt chước sự nổi trội của người khác.
Dịch thơ:
THẤT TỊCH
Chàng Ngưu nàng Chức cầm tay
Đêm thu hòa bóng như cây trên rừng
Ngân hà Ô thước hót mừng
Mở màn vân mẫu ngát lừng mây mưa
Trường Sinh vết điện mau thưa
Lầu thanh Kết Thái cũng vừa cuộc vui
Ngẫm hay muôn sự ở đời
Mặc người danh phận ta thời riêng ta.
Phùng Văn Khai dịch
——————-
([13]) Thất tịch: đêm mồng 7 tháng 7 âm lịch, tục truyền đêm ấy Ngưu Lang và Chức Nữ nhờ có chim khách (ô thước) bắc cầu qua sông Ngân Hà mà được gặp nhau.
([14]) Ngân Hà: còn gọi là Thiên Hà hay Ngân Hán, nơi tụ họp vô số vì sao. Sông Ngân trong dân gian, gắn liền với truyền thuyết về Ngưu Lang, Chức Nữ.
([15]) Vân mẫu: một thứ khoáng sản, còn gọi là đá hoa cương, có thể tách ra từng lá như giấy. Thứ vân mẫu màu trắng, ánh sáng thấu qua được, tựa như pha lê. Ở đây vân mẫu được dùng như một hình ảnh đẹp ví như bức màn nơi gặp nhau của Ngưu Lang Chức Nữ.
([16]) Điện Trường Sinh: điển tích về Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi cùng nhau vui thú ở điện Trường Sinh, đúng vào đêm thất tịch. Đường Minh Hoàng nói với Dương Quý Phi: “Đôi ta trên trời thì như chim liền cánh, dưới đất thì như cây liền cành, chứ không như Ngưu Lang, Chức Nữ kia, cả năm mới được gặp nhau một lần”.
([17]) Lầu Kết Thái: nơi dành cho các cô gái có tài nữ công đến để thi thố thêu thùa. Ngày thất tịch cũng là ngày lễ, người ta bày các thứ hoa quả ở sân và kết sợi màu, xâu thứ kim 7 lỗ để xin cái khéo của Chức Nữ. (Theo sách Kinh Sở tuế thời ký).
孟 秋
新 涼 纔 見 入 郊 墟
知 是 秋 來 七 月 初
燕 喜 風 遲 歸 信 急
雁 驚 雲 密 去 行 疏
數 聲 長 笛 一 樓 月
幾 點 寒 燈 萬 卷 書
顧 我 乾 坤 方 整 頓
江 南 未 暇 賦 蓴 魚
Phiên âm:
MẠNH THU
Tân lương tài kiến nhập giao khư,
Tri thị thu lai thất nguyệt sơ.
Yến hỷ phong trì quy tín cấp,
Nhạn kinh vân mật khứ hành sơ.
Sổ thanh trường địch nhất lâu nguyệt,
Kỷ điểm hàn đăng vạn quyển thư.
Cố ngã càn khôn phương chỉnh đốn,
Giang Nam vị hạ phú thuần ngư.
Dịch nghĩa:
MẠNH THU(18 )
Vừa thấy không khí mới mát mẻ vào đến gò núi ngoại thành,
Biết là tháng bảy đầu mùa thu đã tới rồi.
Gió nhẹ, chim én mừng bay về đưa thư gấp,
Mây dày, ngỗng trời sợ bay đi thưa nhặt.
Vài tiếng sáo ngân dài trên một lầu trăng,
Mấy ngọn đèn lạnh lẽo trước vạn quyển sách.
Ngoảnh nhìn trời đất vừa được chỉnh đốn,
Miền Giang Nam chưa được rảnh để ngâm thơ “rau thuần gỏi vược”(19 ).
Dịch thơ:
MẠNH THU
Hơi thu bóng núi đương về
Chừng trong gió sớm tê tê lá cành
Én mừng chấp chới bay nhanh
Ngỗng trời đôi cặp thất thanh gọi bầy
Lầu trăng sáo vẳng đâu đây
Sách bày vạn quyển đèn bày soi chung
“Rau thuần gỏi vược” nhớ nhung
Giang Nam khói vắng còn trông đợi người.
Phùng Văn Khai dịch
——————–
([18]) Mạnh thu: tháng thứ nhất của mùa thu, tức là tháng 7 âm lịch.
([19]) Theo Tấn thư, Trương Hàn đang làm quan ở Kinh đô, mùa thu về bỗng nhớ đến canh rau thuần, gỏi cá vược ở quê nhà bèn xin nghỉ hưu về quê ở. Đây ý nói công việc còn bề bộn, chưa rảnh để có thú như Trương Hàn được.
中 秋
四 時 默 運 有 神 功
秋 到 今 宵 節 正 中
銀 漢 無 雲 澄 皎 月
粉 塘 有 水 漾 清 風
興 來 牛 渚 舟 堪 泛
躡 向 蟾 宮 路 可 通
自 有 玉 堂 堪 翫 賞
銀 橋 何 必 覓 羅 公
Phiên âm:
TRUNG THU
Tứ thời mặc vận hữu thần công,
Thu đáo kim tiêu tiết chính trung.
Ngân Hán vô vân trừng kiểu nguyệt,
Phấn Đường hữu thủy dạng thanh phong.
Hứng lai Ngưu Chử chu kham phiếm,
Nhiếp hướng Thiềm Cung lộ khả thông.
Tự hữu ngọc đường kham ngoạn thưởng,
Ngân kiều hà tất mịch La công.
Dịch nghĩa:
TRUNG THU(20 )
Bốn mùa lặng lẽ vần xoay như có thần,
Mùa thu đến đêm nay là chính giữa tiết thu.
Sông Ngân Hán(21 ) không một gợn mây, trăng sáng vằng vặc,
Bờ Phấn Đường(22 ) nước lấp lánh ánh bạc, gió mát rười rượi.
Hứng thú đến, có thể lướt thuyền tới bến Ngưu Lang(23 ),
Vui mừng khôn tả, con đường có thể thông đến Thiềm Cung(24 ).
Tự có tòa Ngọc đường đáng để thưởng ngoạn(25 ),
Hà tất phải tìm ông La bắc Ngân kiều làm gì(26 ).
Dịch thơ:
TRUNG THU
Bốn mùa lặng lẽ vần xoay
Hơi thu lồng lộng đêm say mơ màng
Sông Ngân vằng vặc gieo vàng
Phấn Đường lấp lánh vô vàn gió thanh
Lướt thuyền tới bến Ngưu Lang
Thiềm Cung mở đón thiếp chàng chung vui
Ngọc đường dạo gót mà chơi
Ngân Kiều, La bắc tìm nơi làm gì.
Phùng Văn Khai dịch
——————–
([20]) Trung thu: giữa mùa thu, tức rằm tháng 8 âm lịch.
([21]) Sông Ngân Hán: tức sông Ngân Hà (xem chú thích bài Thất tịch).
([22]) Bờ Phấn Đường: phấn là bột nghiền rất nhỏ, hoặc thứ thuốc màu trắng. Đường là cái ao hình vuông. Phấn đường ở đây ý nói nét đẹp lóng lánh dưới ánh trăng của bờ ao đêm trung thu.
([23]) Ngưu Chử: Bến Ngưu Lang trên sông Ngân Hà theo truyền thuyết.
([24]) Thiềm cung: chỉ mặt trăng.
([25]) Ngọc đường: tức tòa Hàn lâm viện.
([26]) Ngân kiều: cầu có thể thông lên cung trăng do gậy tiên hóa thành. Sách Thần tiên cảm ngộ truyện của Đỗ Quang Đình đời Tiền Thục có viết: “Huyền Tông ở trong cung ngắm trăng, (La) công Viễn tâu rằng: Bệ hạ có thích lên cung trăng xem không? Bèn lấy gậy ném lên không trung hóa thành cây cầu lớn, sắc như bạc, mời Huyền Tông cùng lên. Đi được mấy chục dặm, ánh sáng chói mắt, hơi lạnh thấu người, đến một tòa thành khuyết lớn, Công Viễn nói: “Đây chính là cung trăng vậy”.
孟 冬
豐 山 一 自 應 鳴 鐘
玄 律 初 回 十 月 冬
路 洗 彩 凝 寒 日 色
霜 濃 石 滑 遠 山 容
采 薇 役 喜 歸 期 近
掌 稻 人 歡 樂 歲 逢
若 論 沍 寒 堅 晚 節
箇 中 誰 有 大 夫 松
Phiên âm:
MẠNH ĐÔNG
Phong sơn nhất tự ứng minh chung,
Huyền luật sơ hồi thập nguyệt đông.
Lộ tẩy thái ngưng hàn nhật sắc,
Sương nùng thạch hoạt viễn sơn dung.
Thái vi dịch hỷ quy kỳ cận,
Chưởng đạo nhân hoan lạc tuế phùng.
Nhược luận hỗ hàn kiên vãn tiết,
Cá trung duy hữu đại phu tùng.
Dịch nghĩa:
MẠNH ĐÔNG(27 )
Từ khi chuông trên núi Phong Sơn kêu lên(28 ),
Quy luật diệu huyền bắt đầu trở về tháng mười mùa đông.
Đường sạch màu ngưng, sắc ngày lạnh,
Sương đậm đá trơn, hình núi xa.
Việc “thái vi” mừng vì hạn về sắp tới(29 ),
Người coi việc thóc lúa vui vì gặp năm được mùa.
Nếu bàn về rét mướt mà bền tiết tháo,
Trong các loài, chỉ có cây tùng xứng đáng bậc đại trượng phu.
Dịch thơ:
MẠNH ĐÔNG
Phong Sơn chuông núi kêu rền
Tiết đông về đến bên thềm rồi ư?
Đường quang sắc lạnh tâm tư
Núi xa sương đậm thâm u nẻo về
“Thái vi” gió lạnh tê tê
Người coi bồ thóc vân vi nỗi mừng
Muôn loài cây góp lên rừng
Riêng tùng xứng bậc anh hùng mà thôi.
Phùng Văn Khai dịch
——————-
([27]) Mạnh đông: tháng thứ nhất mùa đông, tức tháng 10 âm lịch.
([28]) Núi Phong Sơn: Theo Sơn hải kinh – Trung sơn kinh thì: “ba trăm dặm về phía đông nam có núi Phong Sơn, trên đó có chín quả chuông, chuông biết sương mà kêu”. Quách Phác chú rằng: “Sương rơi thì chuông kêu, nên gọi là biết sương. Ấy là vật cảm ứng tự nhiên như vậy”. Đây ý nói sương rơi, chuông Phong Sơn kêu là sắp đến mạnh đông rồi.
([29]) Thái vi: tên bài thơ trong Tiểu nhã – Kinh Thi viết về nỗi niềm của lính thú gian khổ, đói rét, nghĩ đến ngày về. Trong đó có câu: “Thái vi, thái vi, vi diệc cương chỉ. Viết quy, viết quy, tuế diệc dương chỉ” (Hái rau vi, hái rau vi, rau vi già cứng. Trở về, trở về, đã đến tháng mười rồi).
Phùng Văn Khai dịch
—————–
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 10]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 11]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 12]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 13]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 14]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 15]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 16]
![Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 17] Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 17]](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/03/ky-thu-17-CHUM-THO-696x470.jpg)


























