Tác giả Võ Văn Hòe

Nhà nghiên cứu Võ Văn Hòe

VÕ VĂN HÒE

Năm sinh: 1953
Quê quán: Đà Nẵng
Địa chỉ: 02 Đoàn Nguyễn Thục, Cẩm Lệ, Đà Nẵng
Điện thoại: 0905 455132
E-mail: camle01@gmail.com  |   Website: http://vovanhoe.com/

Đã học: – Trung học Công lập – Hòa Vang

– Cao đẳng Sư phạm – Quy Nhơn

– Đại học Sư phạm – Huế

Hội viên: – Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam

– Hội Văn nghệ dân gian Đà Nẵng

– Hội Nhà văn Đà Nẵng

Đã từng là: – Chi hội trưởng Chi hội VNDG Việt Nam tại Đà Nẵng

(2007 – nay)

– Chủ tịch Hội VNDG Đà Nẵng từ 2007 – 2018

Tác phẩm tiêu biểu: Tết xứ Quảng (2005); Tập tục xứ Quảng theo một vòng đời (2006); Văn hóa dân gian Hòa Vang (2008); Nét đặc sắc trong văn hóa làng Phước Thuận (2010); Địa chí văn hóa dân gian làng Phong Lệ (2010); Địa danh thành phố Đà Nẵng (tập 1-2011; tập 2-2015); Tập tục lễ hội đất Quảng (Chủ biên-2009); Nghề và làng nghề truyền thống đất Quảng (Chủ biên-2010); Ẩm thực đất Quảng (Chủ biên-2011); Văn hóa dân gian Đà Nẵng, cổ truyền và đương đại (Chủ biên-2010); Văn hóa dân gian Việt- Chăm nhìn trong mối quan hệ (Chủ biên-2015); Văn hóa dân gian miền biển Đà Nẵng (Chủ biên-2018); Văn hoạc dân gian Điện Bàn (Đồng chủ biên-2010); Văn hóa xứ Quảng một góc nhìn (viết chung-2007);; Tri thức dân gian trong nhận biết, dự báo, phòng tránh bão lũ của ngư dân Đà Nẵng (Đồng chủ biên-2019)…

          Giải thưởng:

  1. Của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT. VN

 – 1 giải KK của UBTQ Liên hiệp các hội VHNT VN (2005)

  1. Của Cục xuất bản Việt Nam

– 1 giải Đồng sách hay Việt Nam (2010)

  1. Của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam

– 2 giải Nhì của Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam (2007, 2009)

– 2 giải Nhì B của Hội VNDG Việt Nam (2009, 2010)

– 4 giải Ba B của Hội VNDG Việt Nam (2010, 2011, 2012, 2018)

– 1 giải C của Hội VNDG Việt Nam (2010)

– 4 giải KK của Hội VNDG Việt Nam (2005, 2010, 2010, 2010)

  1. Của thành phố Đà Nẵng

– 1 giải A giải 5 năm VHNT của UBND tp. Đà Nẵng (2011)

– 1 giải B giải 5 năm VHNT của UBND tp. Đà Nẵng (2011)

– 1 giải C giải 5 năm VHNT của UBND tp. Đà Nẵng (2016)

  1. Của UBND tỉnh Quảng Nam

– 1 giải C giải 5 năm UBND t. Quảng Nam (2010)

6 Của Liên hiệp các Hội VHNF Đà Nẵng

– 1 giải B (2007)

– 2 giải của Liên hiệp các Hội VHNT Đà Nẵng (2015, 2018)

Kỷ niệm chương:

– 1 Kỷ niệm chương vì sự nghiệp văn hóa của Bộ VH-TT&DL Việt Nam      

– 1 Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam

– 1 Kỷ niệm chương vì sự nghiệp Văn nghệ dân gian Việt Nam

 

Huê tình ca Phước Thuận xã 

Nhà nghiên cứu Võ Văn Hòe

Lời nói đầu

          Nếu tính thời gian thành lập làng Phước Sơn đại xã đến đất Ngũ Phước rồi làng Phước Thuận như tinh thần phổ chí: “Đà Sơn, Đà Ly nhị xã Phan tộc” mà làng Phước Thuận chọn vị họ Phan, người có công khai khẩn một vùng đất rộng lớn làm Thành hoàng làng  được tôn kính thờ tự tại đình,  theo đó, văn nghệ dân gian làng Phước Thuận đã trên 500 năm.

Sinh hoạt văn nghệ dân gian như thế không phải mới hình thành mà có bước chuyển tiếp trên cơ sở vốn văn nghệ dân gian được các lưu dân mang theo khi vào phương Nam nắng gió này khai cơ lập nghiệp. Để tồn tại, người dân Phước Sơn phải khai phá cải tạo thiên nhiên, thiết lập môi trường sinh sống, làm ra của cải vật chất và tinh thần nuôi sống con người; đồng thời theo đó tạo nên một đời sống văn hoá trên vùng đất mới.

          Hình ảnh các ngọn núi, triền đồi, bồn địa, hố ngòi luôn khắc sâu vào tâm thức người dân cùng với vốn văn hoá dân gian truyền thống mang theo váo vùng đất mới đã bắt đầu hình thành tại làng Phước Thuận, miền đất trung du của huyện Hoà Vang những câu tục ngữ, ca dao-dân ca, những câu chuyện về tiến trình hình thành xứ sở…với những tên gọi Đá Trạc, Gò Chòi, Bàu Lãi, những cánh đồng Cửa Trường…những con hố Rái, hố Điều, hố Cối, hố Bạc, hố Trầu, hố Công, hố Cạn…đã đi vào đời sống tinh thần của nhân dân. Và không chỉ có vậy, bên cạnh công lao khai sơn phá thạch trên thung lũng Châu Đà Na, người dân làng Phước Thuận còn gian nan trong đấu tranh chống các thế lực áp bức bóc lột và đấu tranh chống ngoại xâm qua các thời kỳ lịch sử để tồn tại.

      Trong khoảng thời gian trên 500 năm, chắc chắn văn nghệ dân gian làng Phước Thuận có phần phai nhạt, quên lãng, tuy thế những gì còn lại đến nay là tài sản quý giá được sàn chọn qua nhiều thời kỳ lịch sử mà nhân dân làng Phước Thuận đã lưu giữ được. Hoa tình ca Phước Thuận xã là một trường hợp như vậy. Đây là một tài sản quý của nhân dân Phước Sơn đại xã đến Phước Thuận ngày nay, đã kết tinh thành quả của nhiều thế hệ, họ tự sáng tạo, tự giải bày với nhau trong những lần sinh hoạt văn nghệ làng xã. Có thể nói, đó là một quá trình đúc rút kinh nghiệm từ cuộc sống chân lấm tay bùn mà có.

      Sách Huê tình ca Phước Thuận xã được ghi chép và lưu giữ bằng chữ Nôm trên loại giấy dó vào đầu đời vua Minh Mạng, đến năm 1941, Bảo đại thập lục niên, nhuận nhị ngoạt, sơ tứ nhựt được sao lục lại lần nữa. Theo năm tháng, cho phép ta nghĩ rằng thông qua hình thức diễn xướng trong sinh hoạt văn nghệ làng xã ngày trước, nam nữ thanh niên Phước Thuận xã đã “tự ký” nhằm lưu giữ, tránh nguy cơ bị quên lãng cùng với thời gian theo năm tháng đời người.

      Việc sưu tầm, nghiên cứu vốn văn hoá văn nghệ dân gian địa phương là cần thiết, đặc biệt trong thời kỳ giao lưu hội nhập nhằm bảo tồn, phát huy, phát triển, là cách giữ gìn nét đẹp truyền thống xưa nay trong nhân dân; theo đó tôi đã nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, tập hợp, biên soạn với tấm lòng say mê vốn văn hoá văn nghệ quê hương để có được quyển sách nhỏ này.

      Dẫu đã nhiều cố gắng, tâm huyết nhưng sách không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong bạn đọc gần xa thông cảm và góp ý để công trình này có thể hoàn thiện hơn

 Võ Văn Hoè

 

I. SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH  LÀNG PHƯỚC THUẬN

  1. THỜI KỲ ĐẦU, PHƯỚC SƠN NGŨ XÃ

             Theo truyền thuyết trong dân gian tại làng Phước Thuận, nay các cụ già kể lại: vào năm 1306, sau khi vua Trần Minh Tông tiếp nhận 2 châu Ô và Lý xem là đất sính lễ của vua Chăm là Chế Mân dâng lên vua nhà Trần để cưới công chúa Trần Huyền Trân, từ đó Ô, Lý thuộc về đất Đại Việt. Tại Đà Na châu, ông Phan Công Thiên đưa dân vào quy dân lập ấp lập nên làng Đà Sơn tức vùng đất Đà Sơn – Khánh Sơn thuộc phường Hoà Khánh Nam ngày nay. Mãi về sau, khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thận Hoá năm 1558 rồi đến Thuận Quảng năm 1574 thì vùng đất này thực sự được khai thác sâu rộng và có quy cũ dưới bàn tay người Việt. Và từ đây không đơn thuần là vùng đất do khai thác kinh tế nên mở rộng thêm ra như kế sách ban đầu của chúa Nguyễn Hoàng vào vùng đất này lập nghiệp. Có thể nói rằng đây là vùng đất mới đang phát triển với một bối cảnh văn hoá khác và sinh hoạt của người dân cũng đã có sự thay đổi hoàn toàn. Đây là giai đoạn người dân chấp nhận hai đàng thì cũng có nghĩa là họ chấp nhận sự khác biệt về mặt văn hoá. Một mặt do sự phân chia đất đai của hai thế lực phong kiến, mặt khác vùng đất mới này đã có sự phát triển của một nền văn hoá lâu đời, theo đó đã có tác động mạnh đến hình thành văn hoá tại xứ Đàng Trong. Đây chính là sự thay đổi dần cái cũ để tiếp biến thêm cái mới từ văn hoá Chăm và các tộc người miền núi.

             Sau khi hình thành nên làng Đà Sơn, ổn định tình hình, người dân nơi đây mở mang sản xuất nông nghiệp, khai phá vùng bồn địa để trở thành ruộng bàu như Bàu Lãi, bạt núi khoã đất trở thành đồng như cánh đồng Cửa Trường, trồng các loại cây lương thực khác ngoài cây lúa; đồng thời phát triển chăn nuôi gồm các loại gia súc gia cầm phục vụ đời sống hằng ngày và trao đổi sản phẩm lấy hàng tiêu dùng từ các làng lân cận, trước hết là trao đổi dụng cụ nông nghiệp. Tiếp, lại đưa Phạm Ngũ Duật vượt núi Phước Tường theo đường Gò Chòi xuống thung lũng Phước Sơn khai phá, lập ra đất Ngũ phước [1]. Những ngày đầu bạt núi lấy đất lập làng trên vùng đất mới, người dân nơi đây đặt tên là Phước Sơn đại xã. Dân cư tập trung, sống đoàn kết tạo nên mối quan hệ cộng đồng và phát triển ngày càng đông đúc, dần về sau để tiện việc quản lý hành chánh và sản xuất mới chia thành 5 làng như hiện nay. Làng Phước Thuận là làng cổ cựu nên trong dân gian hiện nay còn gọi vùng đất này là “Ngũ phước đồng môn”, lấy Phước Thuận là trung tâm. Địa danh Đồng Môn từ đây mà có.

             Khi vào Thuận Hoá, năm 1604, chúa Tiên cải tổ hành chính thay đổi địa danh thành phủ Điện Bàn (từ huyện lên phủ và cho lệ vào Quảng Nam dinh). Từ đấy, đất Quảng Nam thực sự lớn mạnh. Dần về sau, từ thế kỷ thứ XVI, xuất hiện thêm các làng Quá quê (Hoá Khuê, Khuê Trung) Liên Trì (thuộc phường Bình Hiên), Thạc Gián, Hải Châu, Mân Quang, Nam An, Cẩm Lệ, Hoá Khuê đông (Hoà Cường), Hoá Khuê Tây (Khuê Trung)…cùng phát triển trên vùng đất mới.

             Thời trước, ai đi vào vùng Phước Sơn đại xã hoặc vào vùng Ngũ phước đều phải qua Đồng Môn. Đồng Môn là cùng một cửa, một ngõ. Người dân năm làng Ngũ phước muốn vào làng phải qua một con truông dài, nơi đây là địa danh có tên Đồng Môn. Qua Đồng Môn leo lên đèo Gò Chòi là ra đến Đà Sơn, từ đó băng theo đường Vân Dương thuộc xã Hoà Liên, huyện Hoà Vang, vượt qua Hải Vân thượng đạo băng qua núi Bạch Mã thuộc Thuận Hoá rồi cứ thế dần đến Thăng Long và ngược lại. Về sau các cư dân di cư bằng đường Hải Vân Hạ đạo, qua khỏi đèo Ải Vân đến Liên Chiều, vào Nam.

           Ngày nay, năm làng Phước Thuận, Phước Hậu, Phước Hưng, Phước Thái, Phước Hương đều thờ chung một vị Thành hoàng làng là ông Phan Công Thiên [2].

              Ba vị có công đầu khai phá đất Phước Sơn đại xã là Mai Văn Trân, Phạm Văn Tín, Hồ Văn Ngạn (được thờ chung trong Miễu Tam vị). Theo gia phả họ Phạm làng Phước Hưng [3] có nói đến công lao khó nhọc khai phá lập đất Ngũ xã, ngay trong bản gia phả của dòng họ có ghi câu đối do Phạm Ngũ Duật lưu hậu duệ:

“Ngũ phước khai cơ mộng trường chi viết phú viết khương;

Phước Sơn sáng nghiệp trần lưu hậu thành thái thành hưng”.

              Theo tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, đến trước cách mạng tháng Tám năm 1945, Phước Sơn đại xã được chia làm năm làng nhỏ. Đó là: Phước Thuận, (được xem là làng gốc); Phước Hậu; Phước Hưng; Phước Thái; Phước Hương (nay tách ra gọi là thôn Hoà Khương). Do đó, đến nay các di tích văn hoá, lịch sử của các thôn đều nằm chen kẽ nhau trên năm làng nhỏ nêu trên, xưa kia Phước Thuận là một vùng đất rộng nên mộ Tiền hiền Mai Văn Trân toạ lạc trên phần đất thôn Phước Hưng. Văn thánh nằm trên đất Phước Hậu. Miếu Tam vị thờ ba vị tiền hiền Ngũ Sơn đại xã Mai, Phạm, Hồ nằm giữa đất Phước Hưng và Hoà Khương [4]. Chùa làng nằm trên phần đất Phước Thuận.

             Nay, phía đông thôn Phước Thuận giáp núi Phước Tường là ranh giới tự nhiên giữa thôn Phước Thuận với Đông Phước, Nghi An. Phía tây giáp thôn Đông Lai, Trúc Bào (Trước Bàu). Phía nam giáp thôn Thạch Nham, thôn Tuý Loan (xã Hoà Phong, huyện Hoà Vang). Phía bắc giáp làng Đà Sơn, Đại La (Khánh Sơn, phường Hoà Khánh Nam), trước thuộc xã Hoà Khánh, huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Nay thuộc quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

              Chung quanh việc chia cắt đất thành năm làng nhỏ, nay tại thôn Phước Thuận còn lưu truyền trong dân gian giai thoại chia làng như sau:

             Khi mở đất Phước Sơn, dân bản địa (tức người Chăm) còn sinh sống tại Phước Hưng với các tên gọi địa danh Gò Chòi (Chòi canh), Đá Mồng (Đá Mông), Đá Bàn cờ [5] (nơi được cho rằng các tiên từ trời xuống đánh cờ, vui thú ngắm cảnh trần gian). Về sau, người Chăm bỏ đi dần vào thành Lồi, Thanh Lam Động, (nay là làng Cẩm Toâix Hoà Phong)từ đó đất Phước Hưng được thành lập và tiếp tục đưa dân đến định cư. An cư lạc nghiệp được, kinh tế phát triển, lại cắt đất lập nên làng Phước Hậu, Phước Thái cũng ra đời thời gian sau đó không lâu. Thôn Hoà Khương xưa là đất của làng Phước Hương, do nằm ở giữa, nhân dân nói theo hình ảnh cho rằng không phải đắp chiếu mà vẫn ấm áp bình thườn, phát triển được. Lại có chuyện kể rằng thuỷ tổ của dòng tộc Nguyễn Thiên, Nguyễn Đình trước cư trú tại đèo Gò Chòi, về sau xuống định cư khai canh tại đất Phước Hưởng [6].

           Đất Phước Hậu xưa toạ lạc tại xứ Cây Trôi, Cử Trường giáp vùng đất làng Trung Môn (Trung An), làng Diên Sơn, vì hằng năm dân cư trú ngụ xa nơi đất đai sản xuất nên để tiện cho người dân Phước Hậu lao động canh tác được thuận lợi, tranh thủ kịp thời vụ, bèn thuận đổi một phần đất cho làng Phước Thuận để nhận vùng đất thuộc xứ Đại La từ kiệt Bộng Dầu chạy dài đến Gò Chùa làng. Từ đó, cánh đồng xứ Đại La làng Phước Hậu cũng được mang địa danh là Đồng Cửa Trường như làng Phước Thuận trước đây đã quen gọi.

            Đất Cồn Ơn của làng Trung Môn xưa là đất thuộc làng Phước Thuận, sau được chia cắt ra nên có thêm đất Cồn Ơn.  Thế nên, nay có thể biết được dãi ruộng Hóc Đéc từ Bầu Ốc đến Cồn Ơn còn một cây cọc mốc, điều đó chứng tỏ rằng, xưa kia là đất ruộng thuộc làng Phước Thuận [7].

            Xóm Gò của thôn Hoà Khương từ Gò Cốc cầu ván làng Thái Lai dài đến vườn cụ Bốn Tuỳ xưa là đất Phước Thuận, riêng Hoà Khương (Phước Hương) là xóm Vườn, dân tại đây có nghề thổi quánh (quặng) lấy sắt rèn dụng cụ nông nghiệp. Nay vẫn còn đá quặng.

           Từ khi thành lập làng một vài địa danh quen thuộc đã xuất hiện nay vẫn còn được gọi như đèo Gò Chòi từ triển ruộng Hố Bạc kéo dài lên dương núi Đà Sơn chừng 2000 mét. Tương truyền địa danh xuất hiện khi người dân Phước Sơn đại xã thường xuyên qua lại vùng núi non đà Na Châu, trên đỉnh núi có chòi để nghỉ chân, canh gác dân bản địa (chỉ người Chăm) do có chòi dần thành quen gọi đèo Gò Chòi. Đá Mồng, nơi quân lính triều Trần đứng trên đỉnh núi nhìn về phương Nam canh phòng động tĩnh. Đá Bàn Cờ là tảng đá có bề mặt bằng phẳng cùng trên ngọn núi Đà Sơn, nơi dùng quan quân đánh cờ khi rảnh rỗi. Lại cũng cho rằng Đá Bàn Cờ là nơi các vị tiên hại cố xuống trần gian ngồi đánh cờ ngắm cảnh đẹp người trần, theo đó dân gian gọi Đá Bàn Cờ là vậy. Lại còn đá Ông Voi, đây là tảng đá lớn nhất trên sườn phía Nam núi Đà Sơn. Nhân dân Phước Thuận có thơ vịnh rằng:

Xa xưa kìa đấy đá Ông Voi

Hùng dũng thanh tao trong lẫn ngoài

Tắm nắng phơi sương cùng tuế nguyệt

Dầm mưa dãi gió với con thoi

Trải bao năm tháng da đen kịn

Chung với ngày đêm nguyệt sáng soi

Phước Thuận vào ra trông thấy rõ

Uy nghi tượng thạch vẫn còn oai.

Cối xay lúa

Cối xay lúa

  1. Phước Thuận từ cách mạng tháng Tám 1945

          Trước cách mạng tháng Tám 1945, các làng thuộc xã Hoà Nhơn hiện nay, trong đó có làng Phước Thuận thuộc tổng Phước Tường của huyện Hoà Vang. Sau cách mạng tháng Tám 1945, đơn vị hành chính cấp tổng được giải thể lập đơn vị hành chính cấp xã nên các làng thuộc tổng Phước Tường được chia thành ba xã là: Thạch Thất (nằm về phía đông), Phú Thọ (nằm về phía bắc) và Diêu Đài (nằm về phía tây).

          Cuối năm 1947, huyện Hoà Vang tiến hành sáp nhập xã lần thứ nhất nên ba xã cũ của Hoà Nhơn hợp nhất lại lấy tên là Hoà Ngọc (tức Thạch Thất, Phú Thọ và Diêu đài). Năm 1949, xã Hoà Ngọc đổi tên thành xã Hoà Ninh. Làng Phước Thuận vẫn là làng cũ của hai xã trên không có gì thay đổi, kể cả tên làng. Đến năm 1950, huyện Hoà Vang hợp nhất xã lần thứ ba, gộp chung hai xã: Hoà Nhơn nằm về phía đông, xã Hoà Phú nằm về phía tây thành gọi là xã Hoà Nhơn.

           Tháng 7 năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm đặt Hoà Vang thành một quận, dưới quận có hạt, dưới hạt có xã, dưới xã có ấp (thay cho thôn trước đây). Hạt là đơn vị hành chánh trung gian (dưới huyện, trên xã) để quản lý cấp xã. Năm 1957, Mỹ, Diệm lại chia Hoà Vang thành hai quận là quận Hoà vang và quận Hiếu Đức. Lúc này, quận Hoà Vang gồm 14 xã. Xã Hoà Nhơn đổi thành xã Hoà Thịnh thuộc quận Hiếu Đức bao gồm các thôn: Phú Hoà, Thạch Nham, Phước Thái, Hoà Khương, Phước Thuận và Phước Hậu.

  1. Phước Thuận từ 1975 đến nay

        Tháng 11 năm 1975, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng ra quyết định sáp nhập một số xã trên địa bàn huyện Hoà vang, lúc này hai xã Hoà Thịnh và Hoà Phú được hợp nhất thành một xã và lấy tên gọi là xã Hoà Nhơn. Xã Hoà Nhơn lúc bấy giờ có 11 thôn. Phước Thuận là 1 trong 11 thôn đó. [8]

       Năm 1978, theo chủ trương xã Hoà Nhơn tổ chức hợp tác xã nông nghiệp, các thôn chia ra thành nhiều đội sản xuất, không còn thôn nữa. Từ đây hình thành 3 hợp tác xã nông nghiệp và đội sản xuất. [9]

Cây trái tại Phước Thuận

Cây trái tại Phước Thuận

        Thôn Phước Thuận có diện tích tự nhiên là: trong đó có 15 ha dành cho cây lúa nước. Trong 15 ha có 7 ha cấy trồng hai vụ và 8 ha cấy trồng một vụ. Thôn Phước Thuận là vùng bán sơn địa, núi chiếm 60% diện tích. Đất đai phần lớn là ruộng bậc thang, có độ phèn chua lớn nên việc sản xuất cây lương thực và cây công nghiệp năng suất có hạn chế.

         Nay, dân số thôn Phước Thuận có người hộ, phần lớn là các tộc họ Mạc, Trần, Hồ… Xưa kia cùng với bước đường Nam tiến, cư dân người Việt từ Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh vào khai cơ lập nghiệp, tiếp tục tạo dựng nên làng xóm lập thành xã hiệu xưa nay.

II. Điều kiện tự nhiên

  1. Núi, đồi, sông, suối

       Làng Phước Thuận nằm trên vùng đồi trung du của huyện Hoà Vang, núi đồi bao bọc, phía đông là Núi Phước Tường cao lớn hơn cả, còn có núi Xuân Lộc và núi An Thành, phía bắc là núi Phước Thuận còn gọi là núi Khánh Sơn, núi đại La, nơi đây tương truyền khi Nguyễn Phúc Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi, phải chạy lên vùng núi Phước Thuận lánh nạn, nơi có tảng đá trắng dân gian Phước Thuận gọi là Đá Vua (nay vẫn còn nhìn thấy), rồi băng qua vùng Phước Hưng nay là vùng núi thôn Hoà Khương. Tại đây được “Bà” giúp đỡ cho thoát nạn nên về sau khi Nguyễn Phúc Ánh lên làm vua nhớ công ơn cưu mang bèn cho xây ngôi miễu thờ gọi là Miễu Ngũ hành thánh nương. Nói về núi Phước Tường, Tú Tài Trần Nhật Tỉnh trong cuốn Hoà Vang huyện chí chép núi này như sau: “Núi này cách huyện đường Hoà Vang 5 dặm về phía tây bắc. Thế núi nổi lên rất đột ngột, đất đá cùng bám vào nhau. Phía Tây là núi Xuân Lộc và núi An Thành. Phía Bắc gần núi Khánh Sơn, núi Đại La. Các khe nước đều chảy về sông Cẩm Lệ. Phía Tây Nam có núi Thạch Nham, núi Phú Hoà, núi Yến Nê, núi Phong Lệ. Tất cả đều do núi này mà tản ra” [10]. Núi Phước Tường không chỉ là nơi để một bộ phận cư dân của các làng Phước Thuận, Trung Môn, Thạch Nham xem núi như là nơi tìm kế sinh nhai để tồn tại từ bao đời nay mà còn là nơi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ giữ nước, núi Phước Tường là căn cứ có vai trò quan trọng vùng ngoại thành thành phố Đà Nẵng. Trong đó vùng núi Cẩm Khê là nơi trú đóng của cán bộ hoạt động ngoại thành. Phía tây núi Phước Tường là núi Kỳ Sơn (núi Cờ) lại gần có núi An Thành. Nói như vậy đều chưa rõ ràng, chiếu theo hiện trạng thì, núi này nằm ở phía tây xã Phước Tường, còn các núi khác đều nối liền nhau, phía tây dãy núi hiệp cùng núi Đại La, đà Sơn tạo nên lòng chảo Ngũ Sơn đại xã tức làng Phước Thuận, tất cả trong một tổng Phước Tường. Mạch núi nguyên từ nguồn Lỗ Đông (thuộc xã Hoà Phú), Trà Aí theo Bửu Sơn mà đến. Phía nam núi Phước Tường là thôn Phú Thượng, nhô lên một ngọn núi rất nhọn. Phía nam còn có xã Xuân Lộc cũng có một ngọn núi rất cao, có tên là núi Xuân Lộc. Phía đông là xã An Nghĩa (Ngãi) Đông (nay gọi thôn An Ngãi Đông, thuộc xã Hoà Sơn, huyện Hoà Vang), cũng có một ngọn núi nổi lên cực cao mà bằng phẳng. Phía nam là đất của xã Khê Lâm (Khe Lâm). Phía bắc thuộc địa phận xã An Nghĩa, xưa kia có tên gọi là xã Bào Nghi Đông là đấy. Phía đông núi này còn có núi Thanh Sơn. Phía nam quay về xã Đại La lại có một ngọn núi nhọn, đẹp lại như một ngòi bút, như cây giáo dựng đứng, người ta trông không biết chán và gọi là hòn độn Đại La. Lại chuyển về đông đến phía tây xã Phước Tường lại có một ngọn núi lớn, tây giáp xã Đồng Môn và xã Phước Thuận. Nam thuộc xã Phú Khê và xã Đông Phước. Bắc gần núi Khánh Sơn. Phía tây nam là núi Thạch Nham, núi Phú Hòa, núi Yến Nê, núi Phong Lệ đều cùng chung với dãy núi này, chu vi ước chừng 20 dặm hơn. Chung quanh các núi đều có dân cư.         

          Phía Tây giáp với xã Hoà Ninh thuộc huyện Hoà Vang, nơi trước kia cũng là vùng đất Phước Sơn đại xã nên núi Bà Nà – Núi Chúa (núi Giáo Lao) cũng là một ngọn núi cao che chắn gió phơn từ phía tây thổi xuống. Núi ở tận cùng về phía Tây Bắc huyện Hòa Vang, cách huyện lỵ chừng 50 dặm, còn có tên là núi Chúa, kéo dài đến trăm dặm. Từ nửa đỉnh về Đông thuộc nguồn Lỗ Đông. Từ nửa đỉnh về phía Bắc là ranh giới nguồn Câu Đê. Phía Nam là núi Cảnh Hóa và núi Dương Sơn. Núi cao chất ngất, khe động âm u.

           Núi Giáo Lao, hình thế núi nhọn và sắc như dao vậy. Ở phía bắc nguồn Câu Đê còn có con đường gọi là Lao Giáo đều là sách man [11] của người thiểu số, suốt thời Lê đến thời kỳ năm bắc phân tranh, các cuộc di cư từ bắc vào nam thường qua lối này. Sau, gọi là Hải Vân thượng đạo [12]. Phía Đông của ngọn Giáo Lao còn có một nguồn nước gọi là Lỗ Đông. Ý nói là nước Lỗ ở về phía Đông của núi Thái Sơn. Người xưa cho núi này là cao nhất. Nay người Nam Trung đi thuyền ngoài biển cả, trông về núi này để làm tiêu chí, vì khi ở biển Đông, các núi đều không được nhìn rõ, mà độc chỉ có núi này, cho nên cho núi này là nơi rất tôn kính, là hòn núi Chúa của một phương trời vậy (nay là Bà Nà – Núi Chúa). Núi Giáo Lao nguyên là sách (nơi ở) của người thiểu số. Chiếu theo đó, ta thấy, đường qua phía bắc nguồn Câu Đê là chân phía tây của núi Tu Nông, có một ngọn núi tên là Đại Lao Giáo, chân phía Đông núi Tu Nông lại có một ngọn gọi là Tiểu Lao Giáo. Còn đây là núi Giáo Lao ở phía nam nguồn Câu Đê và ở phía tây nguồn Lỗ Đông. Vậy, hai tên núi Giáo Lao và Lao Giáo là khác nhau, chứ không phải là một. Ở đây đều lấy hình thế núi nhọn và sắc như dao, xuất phát từ thổ ngữ của dân tộc thiểu số.[13]

              Chính đó, đất Phước Sơn – Ngũ xã  – như một thung lũng chung quanh là núi bao bọc gọi là Châu Đà Na, người dân Phước Thuận ngày nay muốn xuống truông Tranh về các làng Đông Phước, Yến Bắc, Phong Bắc, Đà Ly, Đồng Bé, Đồng Lành đều phải qua một cửa chung gọi là Đồng Môn thì mới có thể thoát ra  thung lũng Đà Na được.

           Phước Thuận không có đoạn sông nào chảy ngang qua địa phận làng, song ngay trong xã Hoà Nhơn có địa hình phức tạp nên chịu ảnh hưởng của hai con sông  bắt nguồn từ Phú Túc và An Lợi (nay thuộc xã Hoà Phú, huyện Hoà Vang) hợp nhau tại ngã ba Diêu Trì (thuộc thôn Diêu Phong xã Hoà Nhơn) chảy qua các thôn Diêu Phong, Ninh An, Thái Lai, Phước Thái, Thạch Nham và Phú Hoà (nay thuộc xã Hoà Phong, huyện Hoà vang), giáp với con sông Tuý Loan, đổ vào sông Yên chảy xuống Cầu Đỏ. Về mùa mưa lũ, Phước Thuận vì giữa thung lũng nên dễ bị ngập úng dài ngày làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, giao lưu buôn bán và giao thông trên địa bàn.

  1. Điều kiện thời tiết, khí hậu thuỷ văn

       Phước Thuận là trung tâm xã Hoà Nhơn, toàn xã là vùng nắng ấm, mưa nhiều, thời tiết tiểu vùng trung du thay đổi khá thất thường. Do con đèo Hải Vân nằm chắn ngang giữa Đà Nẵng và Huế nên phía Nam khí hậu mang tính chất khí hậu giữa hai chí tuyến. Dãy Trường Sơn tại đoạn miền Trung thường hẹp, núi chẻ gồ ghề, do đó làng Phước Thuận nằm dưới chân núi nên độ dốc lớn, các cánh đồng bị chia cắt do các đồi gò phân bố. Đồng ruộng theo đó không liền dãy mà bị cắt chia thành nhiều cánh đồng nhỏ phía đông của làng.

      Mùa nắng thì khô hạn, có năm vào các tháng 6,7,8 nhiệt độ từ 27 – 370C (16.7.2007 [14]), các loại giếng khơi khô cạn, người dân trong làng phải ra sông đoạn Diêu Phong, Thạch Nham gánh nước về uống. Ao hồ ngoài đồng không có nước, ruộng nứt nẻ, cây cối, hoa màu cằn khô, rũ lá.

        Mùa mưa, lượng mưa trung bình từ 150 – 200mm, có năm cao hơn (1999). Do nằm dưới chân Bà Nà – Núi Chúa (ngọn Giáo Lao) và các dãy núi khác bao bọc nên làng Phước Thuận như một thung lũng, vì thế đến mùa mưa lũ, lượng nước từ các con sông, khe, suối tràn xuống gây nên lũ, lụt làm ngập úng, ảnh hưởng đến kinh tế – xã hội – nặng nề, thất bát nhiều nhất vẫn là cây lúa và khoai lang, các loại cây lấy củ khác, không chỉ riêng thôn Phước Thuận mà còn cả xã Hoà Nhơn nữa.

  1. Đất đai, thổ nhưỡng, tài nguyên

        Đất Phước Sơn đại xã ngày trước tập trung và được xem (về mặt tinh thần) là làng Phước Thuận. Bởi Phước Thuận là trung tâm. Làng nằm gọn trong thung lũng rộng phía nam Đà Na. Giữa làng có con khe dài 3 km, khe bắt nguồn từ phía Tây chân núi Phước Tường đổ về hướng tây nam chảy ra sông Tuý Loan. Khảo sát phong thuỷ  cho thấy các con suối tại làng Phước Thuận đổ ra khe chảy ngược về phía trung du. Chính đó, người dân Phước Thuận khi đứng từ khe Dài, lấy đó làm hệ quy chiếu thường gọi là ngó xuống Phước Hậu, nhìn lên Phước Hưng, ngó ra Phước Thái, đi qua Phước Hương, ra Đà Sơn, qua Tuý Loan, vô Đồng Môn, lên Phước Thuận.

        Ruộng nước dùng sản xuất lúa của làng chiếm 1/6, đất màu chiếm trên dưới 1/6, đất vườn chiếm 1/6 còn 3/6 là núi, đồi, gò.  Đất đai phần lớn là bán sơn địa bố trí tập trung là đất gò, đồi miền trung du, tốt xấu không đồng đều. Nơi bạc màu thì rất nghèo chất dinh dưỡng, nơi tốt có thể trồng các loại cây ăn quả như thanh long, dứa (thơm, thơm voi trái dài), mít, ổi, xoài, bòng, cam, quýt… Loại đất thổ màu mỡ của Phước Thuận, Phước Hậu là đất cát pha, không ngập úng, có thể trồng khoai, đậu các loại… hoặc đưa cây kiểng cảnh, các loại hoa cúc vào đây trồng, tạo thu nhập cho nông dân và để làm đẹp thêm những ngày xuân xã Hoà Nhơn và thành phố Đà Nẵng, không chỉ thế hàng tháng cũng có thể sản xuất được hoa để bán, nhất là cúc vàng vào các ngày rằm, mồng một hàng tháng.

        Phước Thuận có nhiều đá: đá nổ, đá xanh, đá trắng là các loại dùng trong xây dựng nhà cửa và các công trình công cộng khác. Hiện có 7 công ty đá đang khai thác, cung cấp sản phẩm cho các công trình xây dựng.

          Đất đồi gò thích hợp với các loại cây ăn quả: xoài, mít, thơm, vú sữa, chuối tiêu. Xoài trước đây gọi là xoài tượng là loại xoài có trái lớn bằng nắm tay, khi chín vị ngọt, thơm (khác với xoài quéo, xoài sẻ ít ngọt, có vị chua). Xoài tượng là sản phẩm thổ nghi tại Phước Thuận xã, hằng năm lý trưởng buộc dân thu gom dâng cho triều Huế. Do đó, xưa kia tại làng Phước Thuận có hai cây xoài được gọi là “Xoài Vua” tại Xóm Dưới và Xóm Giữa. Ai đi ngang qua trong mùa xoài chín cũng không dám hái liều, sợ “phạm thượng”. Truớc đây người Pháp gọi là “Phường Đồng Môn”“Tiểu Đồng Nai”, bởi đất tại đây tốt gần như đất Đồng Nai – Gia Định. Nay đất vùng Đồng Môn vẫn tốt, màu mỡ do đầu mùa mưa, những cơn mưa giông dọc phía tây chân núi Phước Tường đổ xuống nên đất có nhiều đạm. Nhờ đó, vườn, trang trại với mô hình VAC, VACR được người dân Phước Thuận hoặc người từ nơi khác đến thiết lập sản xuất, nhiều mô hình có hiệu quả và đang phát triển.

       Về thảm thực vật của làng được phủ xanh bởi các loại cây lấy gỗ như lim nính, lim nổ, lim lá sẹt, cây lội, cây mít nài, kiền kiền, muồng đen… Dây leo có dây xanh, dây chìu [15] là nhiều. Cây bụi có tre, trúc, mây, chà là… Nay, người dân Phước Thuận tạo nên các vườn đồi phủ xanh đất trống, đồi trọc bằng các loại cây keo lá tràm, bạch đàn là chủ yếu.

       Về hệ động vật trên rừng, núi Phước Thuận xưa kia có hổ, heo rừng, nai, mang, chồn, khỉ, các loại rắn độc. Chúng thường theo đàn xuống Vũng Hàng Cừ quấy phá, bức hại hoa màu, gây hoạ cho dân trong làng. Nay chỉ còn số ít mang và ong mật, các loài khác đã bỏ đi trong chiến tranh phá hoại của Mỹ. Chim chóc như sáo, dồng dộc, chim sẻ, cu đất; các loại chim cảnh như khướu, cà cưỡng, nhồng, chiền chiện đều ít thấy.

       Chăn nuôi tại làng Phước Thuận có tính chất tiểu nông, người nông dân nuôi theo hộ gia đình, có bò và một ít trâu dùng cày bừa, lấy sức kéo, không lấy thịt. Heo thì hộ nào cũng có, nay còn loại heo địa phương thân nhỏ nhưng thịt ngon gọi là heo ta. Bầy gia cầm có gà là chủ lực.

  1. Phát triển kinh tế

Thời kỳ đầu mở đất

Bí đao Phước Thuận

Bí đao Phước Thuận

       Ngay từ khi lập nên làng Phước Thuận, phát triển kinh tế chủ yếu là khai hoang vỡ hoá vùng đất trũng sâu trồng lúa nước, tạo nên cánh đồng Cửa Trường, Bàu Lãi… Nước tưới tiêu cho ruộng chủ yếu dựa vào nước trời và  nước từ các con hố phía tây núi Phước Tường đổ ra như hố Rái, hố Điều, hố Dều, hố Cối, hố Bạc, hố Trầu,, hố Khế, hố Công, hố Cạn, hố Sâu…

       Chảy giữa làng là con khe sâu do các con hố dồn nguồn nước về chảy ngược từ Đông lên phía Tây rồi đổ vào sông Tuý Loan. Đây là một vùng thung lũng do núi Phước Tường bao bọc. Những cơn mưa dông đầu mùa thường cho rất nhiều đạm nhất là xứ Đồng Môn. Xưa kia, thời thuộc Pháp người Pháp gọi đây là vùng tiểu Đồng Nai [16]. Nhân dân sinh sống trông vào cây lúa là chủ lực. Lúa cho năng suất cao. Mặt khác, hoa quả, các loại cây lương thực khác tứ mùa sum suê tươi tốt. Tuy nhiên, đại bộ phận các loại cây lương thực bằng củ, trái phần nhiều bị thú từng phá hại nên cho năng suất thấp. Các loài thú như voi, heo rừng, khỉ, rái, trăn, rắn, dơi, quạ…,tập trung hàng đàn trên các khu vườn luôn vắng vẻ vì dân cư thưa thớt. Do đó, nhân dân nơi đây dùng đá chất thành bờ cao làm hầm, làm bẩy để ngăn chặn thú rừng và săn bắt nhằm bảo vệ hoa màu. Nay vẫn còn di tích những bờ đá thời xưa, những câu chuyện kể về săn bắn thú rừng rất lý thú và những câu chuyện kể về thanh niên trai tráng trong xã học võ nghệ bảo vệ hoa màu đầy hấp dẫn và kịch tính.

Bàu Lãi

Bàu Lãi

Thời kỳ hình thành nên làng

        Là thời kỳ làm ăn, phát triển kinh tế phồn vinh nhất nhưng cũng dựa vào nên nông nghiệp lúa nước là chính. Ngoài cây lúa còn có các loại cây màu như sắn: sắn tay trắng, sắn tay đen, sắn canh nông; khoai: khoai lang mắc trúc, khoai tàu doã; khoai từ, khoai môn, khoai nầng, khoai mỡ, khoai tím; các loại đậu, mè. Về cây ăn trái có các loại như mít, thơm (dứa), bồ quân, chuối, xoài (xoài tượng, xoài tẻ, xoài cà lăm, xoài nước, xoài cán muỗng) trong đó xoài tượng là cây trái đặc sản, hằng năm đến mùa tháng năm âm lịch dâng cống về kinh đô cho vua chúa, đến năm 1954 vẫn còn 2 cây xoài vua do làng giữ. Gốc xoài rất lớn, có đường kính gần 3 mét mộc.

        Đây là thời kỳ người dân làng Phước Thuận làm ăn no đủ nhất, phồn vinh nhất nhờ vào đất đai phì nhiêu, mưa thuận gió hoà. Người trong làng thường nói với nhau “đất cũ đãi người mới”. Kinh tế phát triển, nhân dân no đủ đến tận thời chuẩn bị đánh thực dân Pháp xâm lược. Đến mùa gặt lúa, nếp, nhân dân làng Phước Thuận thường thuê những thanh niên trai tráng lực điền từ các làng khác đến thu hoạch mùa màng nên công nhàn rỗi từ các làng lân cận dồn về làng Phước Thuận cấy thuê, gặt, gánh thuê, dân gian gọi là “bọn cấy”, “trai cày”, đó là dân từ các làng Quá Quê (Hố Quê, Hoá Khuê nay là phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ), làng Khái Đông (nay là phường Hoà Hải, quận Ngũ Hành Sơn) [17], nhờ thế có nhiều thanh niên nam nữ lực điền lên Phước Thuận cày – gặt – cấy  cưới vợ, lấy chống và định cư tại đây và trở thành người của làng như bà Hương Hoà, bà Thủ Lì… con trai đến ở rể tại làng như Thủ Gia quê làng Đà Sơn, ông Ba Ti quê làng Lỗ Giáng, ông Khánh quê làng Phong Lệ, cô Vinh quê làng Đông Phước…

Thời kỳ đánh Pháp

        Do thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến nên đất đai bị hoang hoá sau cuộc di cư năm 1945, núi rừng rậm rạp, um tùm, các loại bệnh dịch hoành hành, dân trong làng chỉ còn 38 hộ, trên 100 nhân khẩu. Nền sản xuất vẫn là nông nghiệp, dựa vào cây lúa và nước tưới từ hố Hóc. Thú rừng luôn quấy phá, dân cư thưa thớt, bệnh hoạn triền miên. Những thửa ruộng nơi đồng trống chỉ gieo khô, gặp phải năm nắng hạn không đủ lương thực để dùng, chờ đến ngày giáp hạt. Dân làng đi bộ về tận Touran mua bắp khô về ăn độn. Nhiều lần bị bọn Pháp bắt thu gom, dân tình điêu đứng, kinh tế sa sút, đời sống nhân dân làng Phước Thuận rất cơ cực. Đất đai phần nhiều bị bỏ hoang hoá, núi rừng vắng bóng chân người. Cán bộ hoạt động cách mạng thường chọn nơi này làm địa bàn dừng chân, hoạt động. Đây là chiến khu an toàn, là vùng tự do của mặt trận Việt Minh, của bộ đội lập căn cứ đánh Pháp. Từ đó, Pháp mở những cuộc càn quét, bao vây, cho máy bay bắn phá, ném bom. Dân làng ngày càng khổ hơn. Kinh tế thuần nông nhưng không phát triển được. Đây là thời kỳ nhân dân làng Phước Thuận sa sút nghiêm trọng về kinh tế, văn hoá, giáo dục.

Thời kỳ đánh Mỹ

        Kinh tế vẫn không phát triển, đại bộ phận nhân dân làng Phước Thuận vẫn nghèo khó, thiếu đói quanh năm. Mỹ ném bom thường xuyên, bom xăng, bom bi nơi đâu cũng có, do ác liệt vì bom đạn, một bộ phận nhân dân phiêu tán về các vùng lân cận như Đà Nẵng, Hoà Phát, Hoà Thọ để lánh nạn. Tuy nhiên một số hộ trụ bám được lại ăn nên làm ra , lương thực không chỉ đủ giáp hạt mà còn có hộ trở nên giàu có nhờ đưa được nước từ sông Tuý Loan vào đồng Gò Son, Bàu Lùng, Bàu Lãi cấy được 2 vụ lúa trong năm. Một số loại cây lấy củ như củ sắn, khoai lang tiếp tục được phát triển.

Sau năm 1975

        Hoà bình lập lại trên toàn cõi Việt Nam, thống nhất nước nhà, kinh tế làng Phước Thuận phát triển dần lên, các Hợp tác xã lần lượt ra đời, đời sống người nông dân theo đó thay đổi đáng kể. Đại bộ phận nhân dân làm ăn dư dật, xây dựng được nhà kiên cố, nhà tầng. Nay, làng Phước Thuận có 7 công ty đến khai thác đá, thu nhận lực lượng công nhân tại chỗ, giải quyết được công ăn, việc làm cho một bộ phận thanh niên thôn Phước Thuận. Đất nông nghiệp dần thu hẹp, nhân dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển sang làm trang trại trồng hoa cây cảnh, nuôi cá nước ngọt, nuôi gia súc gia cầm, làm VAC, VACR.

        Hiện nay thôn Phước Thuận có 15 ha trồng lúa trong đó 7 ha trồng 2 vụ và 8 ha trồng 1 vụ. Cây màu có khoai lang là chủ lực trồng vào vụ đông, cho năng suất cao bán đi khắp các xã vùng cao huyện Hoà Vang. Cây thuốc lá được trồng trên 10 ha cho thu nhập đáng kể. Ngay tại làng có nhà máy sấy thuốc lá quy mô, giúp cho người nông dân phát triển được ngành nghề. Cây ngô chiếm 10 ha, đây là cây lương thực chủ lực sau cây lúa, nông dân thu nhập khá do hợp với đất đai, thổ nhưỡng. Hiện có 3 trang trại trồng hoa cây cảnh thử nghiệm.

        Về chăn nuôi có bò là con vật nuôi chủ lực, trung bình mỗi hộ có 3 con. Tổng đàn bò trong làng ước chừng 700 con. Heo, hộ nào cũng có nuôi, nuôi theo phương pháp truyền thống. Đàn gà, vịt nuôi thả có trên 3000 con.

Cánh đồng Cửa Trường

Cánh đồng Cửa Trường

III. VĂN HOÁ XÃ HỘI

 LÀNG PHƯỚC THUẬN

 

  1. Các thiết chế văn hoá

       Xưa kia cùng với quá trình tụ cư và sinh sống, bước đầu người dân Phước Sơn đại xã thiết lập các thiết chế văn hoá nhằm có nơi sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu tâm linh cho dân làng, xã nhưng đồng thời còn nhằm bảo lưu, giữ gìn những di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của Phước Sơn. Theo đó, đã phản ánh đời sống tinh thần của người dân nơi đây là rất phong phú và thường xuyên có những sinh hoạt văn nghệ làng xã ngay tại các hộ dân hoặc tại đình làng. Các thiết chế gồm chùa làng, đình làng, miễu xóm, các miễu thờ Thái Giám, Cao Các, lăng Âm linhcác nhà thờ của các chư phái tộc.

       Thế nhưng do tác động bởi chiến tranh nên các di tích tại Phước Sơn từ xưa đến nay cả một vùng Ngũ xã đều không còn nguyên vẹn. Hiện chỉ còn các kiến trúc cổ như đình làng Thạch Nham, Phước Thuận, Phú Hoà, Phước Hưng (thôn Hoà Khương), trong đó đình làng Phước Thuận được Uỷ ban nhân dân thành phố cấp bằng công nhận di tích Lịch sử – Văn hoá cấp tỉnh thành.

Đình làng:

       Đình Phước Thuận là ngôi đình cổ, ban đầu toạ lạc tại Cồn Am (cạnh Cồn Nồ), xứ Bàu Dài, tục gọi là đình Minh Đình (nay là xóm phía Tây của làng).Thời gian đầu mới dựng, đình làm bằng tranh tre, gỗ tạp để những người di dân trú ngụ, dùng làm nơi sinh hoạt chung, nơi tập trung ý chí, đồng tâm chống lại thú dữ, là địa điểm trú phòng khi mưa nắng, lụt bão, coi ngó sơn phỉ tranh cướp đất đai.

       Đến đời Hồng Đức (thời Lê Thánh Tông – không rõ năm) đình làng Phước Sơn dời đổi về xứ Cây Trôi thuộc khu vực đất làng. Mãi từ đó đến nay ngôi đình Phước Thuận không di dời lần nào nữa.

       Đến đời Thái Đức – Gia Long – đình làng được xây cất lại bằng gạch ngói, sườn đình làm bằng gỗ mít tại địa phương. Gạch ngói được lấy đất từ ruộng Hồ Lư tại xóm phía Tây để nung, nay còn dấu tích. Viên gạch lớn, hình chữ nhật giống gạch người Chăm. Đây là thời kỳ Phước Sơn đại xã chưa bị chia cắt, do đó nhân dân trong làng đông đúc, các ngày tế lễ kỳ an, kỳ phước người dân được ăn xôi, cháo, thịt cũng là đặc sản tại Phước Sơn. Đến dự tế lễ xuân thu nhị kỳ tại đình, người dân trong làng thường mang theo chén đũa cho tiện, nhằm kết thúc lễ hội là có thể dọn dẹp gọn gàng trong ngày mà không phải thức đến thâu đêm.

       Đình Phước Thuận là một ngôi đình lớn, trong dân gian còn lưu truyền “Đi vô xem đình La Qua, đi ra trông đình Phước Thuận”, theo đó có thể nói rằng ngỳa trước đình làng Phước thuộc một trong những ngôi đình lớn của vùng. Đến nay làng Phước Thuận còn lưu giữ được bộ đinh, bộ điền thời Thái Đức – Gia Long (có ấn chỉ niên hiệu Thái Đức), và bảng Khoán ước thời Gia Long nay còn lưu giữ được [18], cho thấy tại Phước Thuận, một làng quê trung du của huyện Hoà vang vẫn còn những văn bản Hán – Nôm [19], chứng tỏ thời kỳ Phước Sơn đại xã, nơi đây đã từng thiết lập được một nền nếp sinh hoạt văn hoá trong nhân dân mà nay còn được lưu truyền trong dân gian.

       Đến năm Tự Đức thứ III (1849) đình làng được gia cố đổi từ gỗ lim, gỗ muồn sang gỗ mít, kiền kiền. Hiện nay giàn gỗ vẫn còn nguyên vẹn. Trên một cây xà có khắc: Tiền triều lịch đợi, giáp thìn niên, bổn xã hội tề cải thiên đình, toạ cấn hướng khôn trạch đắc, bát nguyệt, cửư nhật, thìn thời khắc, thượng lương [20]

       Sau hiệp định Giơ ne vơ năm 1954, đình làng Phước Thuận đã bị máy bay của Pháp đánh phá gây sụp đổ. Nay cây cột cái của đình còn mang dấu đạn. Nhân dân làng Phước Thuận vận động quyên góp trùng tu, tôn tạo, giữ nguyên kiến trúc xưa.

       Năm 2000, thực hiện Nghị quyết Trung ương V khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, được sự cho phép của chính quyền địa phương xã Hoà Nhơn, nhân dân chung sức cùng với kẻ ly hương, người bám trụ có sự hỗ trợ của các công ty xí nghiệp đóng trên địa bàn đã đóng góp tiền của tu sửa, chỉnh trang để có được ngôi đình như hiện nay.

       Thời gian đầu xây dựng nên ngôi đình, mục đích dùng làm nơi trú ngụ nắng mưa cho nhân dân đi khai hoang phục hoá mở mang bờ cõi có nơi nương tựa, sinh hoạt, đình được gọi là Minh Đình, dần về sau gọi là Thống Hội Đường, biến thành nơi thờ thần Thành hoàng bổn xứ bảo an chính trực, thờ các vị Tiền hiền khai khẩn, Hậu hiền khai cư của làng. Từ đó về sau các lễ hội kỳ yên, kỳ phước của làng được tiến hành tại đình.

Trong đình, gian hậu tẩm có các câu đối:

-Thần linh bảo hộ nhơn dân thịnh,

Thánh hiển phò trì bá tánh hưng.

       Hai bên tả hữu đình thờ Tiên khai, Hậu vũ tức thờ Tiền hiền, Hậu hiền của làng, có câu:

-Phước Thuận khai nguyên tiên Ngũ xã,

Đà Châu nhậm hoán hậu Trần, Lê.[21]

Hàng cột cái trước có:

-Tiền đình hoa khai Phước thuỷ long phi trợ,

Hậu tẩm hoá văn Thuận địa hổ lai phò.

Bức bình phong có câu đối:

-Giang sơn thiên cổ tú,

Phong cảnh tứ thời xuân.

Trụ biểu có 2 câu đối:

– Phước khai thái vận hậu thế miên trường danh kế thạnh;

Thuận vũ phong điều thuần nông tục mỹ bách tánh hưng.

– Hoà hợp tiền nhân khẩn thổ khai nguyên lưu hậu thế;

Nhơn cơ đức hậu an cư lạc nghiệp niệm thâm ân.

       Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đình Phước Thuận còn là nơi tụ họp thanh niên và nhân dân tổng Phước Tường, các làng phụ cận đến luyện võ nghệ dưới sự chỉ huy của Thủ lĩnh xã đoàn, chờ thời cơ tổng khởi nghĩa. Tại đình, nhân dân nghe ông Trần Định đọc lệnh khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám năm 1945. Đình Phước Thuận còn là nơi lý trưởng Ngũ xã nộp ấn triện cho chính quyền cách mạng.

       Thời kỳ 1908 nổ ra phong trào kháng thuế tại Trung kỳ, các ông Trưởng Nghệ, Bồi Lộc luyện võ nghệ tại đình, đánh Pháp, xuống đường xin xâu kháng thuế dưới sự lãnh đạo của Ông Ích Đường.

       Những năm 1950 – 1954 đình Phước Thuận đón nhận đồng bào di cư từ các làng lân cận không chịu nổi sự khủng bố của giặc Pháp như làng Phú Hoà, Thạch Nham, Phước Thái, Đông Lại, Nghi An, Đông Phước [22] trốn địch dựa vào núi non rập rạp của làng Phước Thuận để ẩn mình. Đình còn là nơi để cán bộ cách mạng dừng chân như trận đánh Pháp năm 1952 tại Thạch Nham, trận phục kích đoàn xe của Pháp tại truông Tranh,  Cẩm Bình năm 1954.

       Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đất nhị Phước: Phước Hậu, Phước Thuận là căn cứ địa cách mạng, nơi cung cấp thông tin liên lạc, lương thực, thuốc men cho bộ đội tại cấm Ông Dụng. Chính đó, giặc Mỹ bắn phá đình làm hư hại, sụt móng. Từ sau 1975, trong hoà bình xây dựng, đình làng Phước Thuận là nơi làm kho giữ lúa của hợp tác xã số 2 Hoà Nhơn và là nơi làm việc của đội sản xuất số 10.

Đình làng Phước Thuận

Đình làng Phước Thuận

       Hằng năm có lễ cầu an tại đình làng, bài văn được viết:

Tại thượng dương hồ!

Ký đức sinh giao

Hữu cảm giai thông

Sở cầu đắc chí

Tư tất xuân thiên

Cung trần thành lễ

Nguyện giám đơn thành

Tri chi phước lý

Vật phụ nhơn khương

Cung trần đáp lễ

Hương đăng, trà, quả

Tam tuần bái tạ

Ngưyỡng lại tôn thần

Chi gia huệ giả

Phục vị cẩn cáo !

Chùa làng:

       Chùa làng được xây dựng thời Gia Long, sau khi chia cắt đất lập nên Ngũ xã, chùa làng nằm trong phạm vi đất Phước Hậu xã. Chùa thờ Phật. Qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ chùa hư hỏng nhiều, nay chưa được trùng tu sữa chữa.

Chùa làng

Chùa làng

Miễu Tam vị:

       Miễu Tam vị xây dựng từ thời Phước Sơn đại xã miễu nhìn về hướng chánh tây, đến khi chia đất lập nên Ngũ xã, miễu nằm trong phạm vị đất Phước Hưng xã. Nay miễu vẫn còn thờ 3 vị tiền hiền khai cơ của làng Phước Sơn đại xã là tộc Mai, tộc Phạm, tộc Hồ [23].

Mặt tiền Miễu Tam vị

Mặt tiền Miễu Tam vị

 Bên trái

Bên trái mặt sau Miễu Tam vị

Mặt Trước Miễu

Mặt trước Miễu

Di tích Đàn Thần Nông

Di tích Đàn Thần Nông

Miễu bổn xứ:

       Toạ lạc tại Xóm Trung thuộc xứ đất Cây Trôi. Miễu được nhân dân làng Phước Sơn lập nên để thờ các vị có công quy dân lập ấp nên gọi là miễu bổn xứ.

Miễu Thái Giám:

Miễu Thái Giám

Miễu Thái Giám

       Toạ lạc tại Xóm Giữa, xứ đất Cây Trôi – Bàu Dài, miếu thờ các quan mà sinh thời thường gần gũi nhà vua nhiều nhất. Miễu Thái Giám làng Phước Sơn được xây dựng cùng thời với Lễ Sanh Trần Đình Trí làm quan thời Minh Mạng.

Bức bình phong trước Miễu Thái Giám

Bức bình phong trước Miễu Thái Giám (mặt trong)

Dinh Bà:

       Dinh được lập vào cuối thời Duy Tân, đầu đời Khải Định toạ lạc tại Xóm Trên thuộc xứ đất Bàu Dài. Dinh thờ 5 bà Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ và Thiên Ya Na Thánh mẫu (nữ thần Chăm Ponagar) là Mẹ thị tộc, Mẹ xứ sở, bởi tương truyền bà là người có công tạo lập giang sơn, xứ sở, duy trì nòi giống, tìm ra cây lúa và dạy dân trồng trọt. Bà Chúa Tiên, Bà Cửu Thiên huyền nữ, Bà được cho là có công bày vẽ cho dân chế tác nên cưa, làm nên nhà để ở.

Dinh Bà

Dinh Bà (mặt sau)

Bức bình phong Dinh Bà

Bức bình phong Dinh Bà (mặt trong)

Lăng Âm linh:

       Lăng được thiết lập tại xứ đất Mai Võng, thờ các vị “hữu danh vô vị, hữu vị vô danh” đã vì xứ đất Phước Sơn đại xã mà bỏ thân, không có nơi thờ tự. Đây được xem là nơi “hội táng” của làng. Địa danh xây dựng lăng Âm linh được dân trong làng cho là rất thiêng. Tương truyền rằng tại vũng Hàng Cừ nay là hố Khế thường xuyên có cọp, beo từ trên núi xuống phá hoại hoa màu, đây lại là nơi cha con, vợ chồng giận hờn nhau đến Hàng Cừ thắt cổ chết hoặc ngồi chờ cọp tha, rắn cắn. Do vậy, lăng Âm linh toạ lạc tại địa danh Mai Võng – Hàng Cừ được cho là hiển linh.

Bài văn cúng âm linh được viết:

Bài 1:

-Hỡi ôi!

Kẻ ở sơn lâm, người nơi mặt biển

Cũng có người lỡ bược cuộc long tranh

Cũng có kẻ sa cơn bão biển

Gương bạc mệnh xưa nay thôi lắm kẻ

Nhảy suối chìm, mình hùm ăn rắn cắn

Càng nghỉ thêm muộn thảm, muộn sầu

Kiếp phù sinh sau trước cũng nhiều người

Sa cây té biển, rách áo, đói cơm bao xiết kể

Thương những kẻ ngay vua yêu nước

Lòng trung trinh muôn kiếp hãy còn thương

Cảm thay cho kẻ kỉnh mẹ hờn cha

Gương tiết nghĩa ngàn năm còn để tiếng

Đời kia qua, đời nọ lại

Lại qua đà mấy cuộc đổi thay

Đến nỗi niềm nhiều kẻ thác oan

Oan trái ấy bởi vì ai xuôi khiến

Lắm lúc hồn treo ngọn gió thổi độ ban trưa

Ngọn đèn le lói thấy lắm mộ hioang

Mộ hoang ấy không ai thăm viếng

Nay bổn thôn lập đàn tế lễ nhất diên

Xin cô hồn chứng giám xét soi

Ba nén hương thấu chốn tuyền đài

Bổn thôn lòng thành lễ bạc kính dâng

Ngỏ chừng chốc lòng thành một tấm

Hỡi cô hồn thương thay xin hưởng

Ngưỡng lại cô hồn

Chi gia huệ giả!

Bài 2:

-Hỡi ôi!

Kẻ ở sơn lâm, người chơi giang hải

Nhiều người trung nghĩa lắm kẻ hiền lương

Gặp lúc đau thương lâm vòng chiến trận

Hoặc người tự vận, hoặc kẻ vong thân

Cũng có kẻ thương mãi lỡ chừng đem mình bỏ

đầu non góc biển

Cũng có kẻ gặp đường chân kiển nên hồn chờ

dạ cá lòng sông

Cũng có kẻ có vợ có chồngkhi sàng dục dạ

mang uổng tử

Cũng có kẻ làm cha, làm mẹ

Cảm cang thường, luống chịu sầu tư

Thương thay cho mấy lũ hài nhi

Chạnh tưởng cho những người tàn tật

Con không có chịu mang vòng cô độc

Gái không chồng chịu cảnh quả cô

Sống dương gian không kẻ hỏi thăm

Thác âm phủ theo vòng ân oán

Gót ngựa, miệng hùm đà mấy mạng

Sa cây sỉa hố cũng nhiều vong

Đêm năm canh vắng lửa khói hương

Ngày sáu khắc không ai thờ phụng

Thương cho kẻ trung can  dõng tướng

Ngẫm nhiều người võ liệt văn tài

Có nhiều người lòng chẳng đổi hai

Cơn bão biến dạ còn như một

Lửa đốt cháy khói lòng thiết thạch

Đã nại chi những hội trung trinh

Cũng có người tận quốc vong thân

Cũng có kẻ tham sanh thủ nghĩa

Muốn đi nhưng chưa vượt vòng khổ ải

Ngàn năm còn giận cuộc tang thương

Bóng Quan Âm thấp thoáng dặm đường

Hồn u phách dập dìu miền bích hải

Thương kẻ lâm vòng đọc dược

Nỗi oan hồn làm hai cháu con

Thương những kẻ anhhùng trung liệt

Đạn quân thù giết chết chẳng toàn thây

Thwong những người mắt nơi chiến trận

Ở trong vòng bom đạn xả thân

Thương những người lỡ bước nơi rừng sâu núi

thẳm

Cũng bỏ mạng không ai vùi dập

Canh nông đại bác là loài ác độc

Giết kẻ đi buôn người đi bán chết nửa chừng

Thân lạc loài không ai đơm quảy

Vì sự thể bổn thôn tế tự

Lập đàn tràng tế lễ nhất diên

Hỡi âm hồn thương thay xin hưởng

Ngưỡng lại âm hồn

Chi gia huệ giả

Phục vị cẩn cáo!

 

Bài văn tống khách:

Đức phối cam sanh

Công tham khôn dục

Chiếm phong cương bác

Hoạn độ chi dư

Công hàm cao dục

Tịch thổ địa ư

Khiến canh chi hậu

Đức diệt hậu diên

Tư tắt tiết thuộc

Xa thiên tích cảm

Kỵ nhựt cung trần

Kiền cáo dĩ nghi

Tải thiết phỉ nghi

Công đức nghiễm nhiên

Liệt vị thần linh

Tả mục hữu chiêu

Bính nhỉ nhứt đường

Trỏ đậu hồ tài

Cầu chi tất ứng

Lễ đang bạch ngọc

Thành tắc hữu thần

Tế tại kỉnh nhi

Đẳng nguyên nhơn khương

Thương lục hạ hoà

Viên tư viên hữu

Vật phụ lòng nhương

Ngưỡng ủ hằng ân

Tỷ xí tỷ xương

Thuần hậu vĩnh thừa

Chi ủ hậu thế

Ngưỡng lại tôn thần

Chi gia huệ giả.

Nhà thờ tộc:

       Được xem như nằm trong tổng thể các thiết chế văn hoá của làng. Xưa, tại Phước Sơn đại xã và các làng khác cũng thường xem việc cộng đồng làng là việc làng (biểu trưng là đình làng), việc của xóm là việc phổ (biểu trưng là miễu xóm) và việc tôn thống là việc tộc (biểu trưng là nhà thờ tộc, phái, chi, gia đình). Chính đó, nhà thờ tộc được xem là một trong chỉnh thể của thiết chế văn hoá xưa. Suy từ đó có thể thấy hệ trục văn hoá nhà – làng – nước được gắn kết chặt chẽ. Nay vẫn còn. Một thời kỳ dài, Pháp xâm lược, có thể ta mất chủ quyền, đến tháng Tám 1945 ta giành lại được, nhưng phải nhìn nhận rằng văn hoá làng, người dân ta  không để mất.

       Xưa kia làng Phước Thuận có 4 nhà thờ tộc, nay còn 3, nhà thờ tộc Nguyễn tại Xóm Trên do chiến tranh tán phá, con cháu không người kế tự nên không còn. Xóm giữa hiện còn 3 ngôi nhà thờ: Trần Đình tộc, Huỳnh Bá tộc, Trần Đình đệ nhị phái.

       Hằng năm các tộc họ đều có lễ tế xuân thu và ngày kỵ, giỗ, lạp mộ. Trong các ngày này có văn bài ghi ơn công đức của tiền nhân. Ví dụ bài văn của Trần Đình tộc trong ngày lạp mộ:

“Tiên linh thượng niệm tiên thế Trần tộc, Vĩnh Xuyên quận, Hoa Lư động, Hà Nội Nam Định tỉnh, Hưng Hoá phủ, Quỳnh hà huyện, Yên Tử bổn âm đường thượng.

Cao cao chi tổ, viễn viễn chi tôn, tiên linh vị tiền.

… …

-Cây sanh có cội

Nước chảy có nguồn

-Phải nhớ câu vật bổn hồ thiên

Dám quên chữ nhơn sanh hoài tổ ?

-Căn bổn trước tài bồi gia cố, tiền nhân ra sức khẩn trưng, nền móng sau thụ hưởng lưu truyền, hậu bối noi gương tiến phát;

Vính Xuyên quận tiền đồ khai thác, Quảng Hoà Sơn hậu Tống thời Nguyên, đã dày công tạc tĩnh canh điền, lại đủ sức an bang tá quốc.

-Oai danh vang đất Bắc, khí tiết rạng trời Nam, đã bao phen vung kiếm bạc trừ xâm, lại lắm lúc phất cờ hồng cứu nước;

Xây nghiệp đế trổ tài thao lược, lập đồ vương mở hội thanh minh, bốn phương tặc chúng quy trình, ba cõi giang sơn bình trị.

– Bảo linh kiếm trừ an quỷ mị, một giờ máu giặc nhuộm Bạch Đằng giang, dụng thiên cơ chiêu dụ binh dân, muôn thuở tên đề hồng Việt sử,

Trừ giặc thát dựng cơ tự chủ, cứu giống nòi khỏi nạn lầm than, đuổi quân Nguyên diệt mộng tham tàn, đưa dân tộc thoát vòng binh lửa.

– Giống Âu Lạc nêu cao đài danh dự, cõi đông nam sặc sỡ tiếng anh hùng;

Đinh, Lê, đại Trần triều trấn thủ, Yến Nê kia ngũ xứ lừng danh.

– Ngày nay gia tộc đã trưởng thành, đất Phước Thuận khai canh, cư lập nghiệp;

Trước việc nước đã thành công, sau con cháu tộc nhà nên nối chí.

– Sao cho ngoài thôn xã phong thuần mỹ tục, trong tộc đường phái viễn lưu truyền, dẫu tang thương đi lạc tại hà phương, bao nhánh cũng quây quần trong một gốc;

Tiền triệu tổ huân triêm quốc lộc, hậu nhi tôn cộng đới hoàng ân, chẳng quan nạ chiến tranh lần lượt xoay vần, tự cổ Bắc hà và cư Nam địa.

– Nhơn nay, cơn bình trị đặt an cơ chỉ, hội tề đại tộc quy yết tự đường, hằng năm xuân kỵ thu thường tưởng niệm tông công tổ đức;

Thời nay đã đông thiên cập tiết, lệ thường niên tảo mộ tiên linh, tử tôn tựu tập tiền đường, chư phái kiền cung giai hạ.

– Dâng lễ bạc hương đăng trà quả, phù lang thanh chước thứ phẩm chi nghi, tỏ lòng thành tôn tộc phái chi, nội ngoại tằng huyền từ đường cáo yết;

Trước vọng tưởng tiên linh tiền liệt di lưu phước lộc biền trăng, trên cầu xin thuỷ tổ Trần Đình, bảo hộ tử tôn trường tại.

– Ngàn thu trước thanh danh để lại, niệm tiền ân khai khẩn khai cơ, muôn đời sau phước lộc hưởng nhờ, mưu hậu duệ phát đinh, phát phú;

Giúp cho tộc đường hoàn mỹ, phụ truyền tử kế, phái viến chi trường, giúp cho nông, công nghệ, mãi thương phu ấm, thê vinh tài hưng lộc tấn, nghề sinh hoạt cháu con phấn chấn, việc khói hương tôn tử huy hoàng, muôn lòng thành lễ bạc kính dâng. Ba tuần rượu chung trà lễ tạ.

Ngưỡng vọng tiên linh, chi gia huệ giả

Phục vị cẩn cáo!

       Trong mỗi hộ gia đình, cuối năm âm lịch thường có tất niên. Đây là lễ cúng tạ ơn, đãi đằng các lực lượng siêu nhiên sau một năm cầu xin cho làm ăn phấn chấn, phát tài, phát phú. Văn bài trong buổi lễ tại làng Phước Thuận, như sau:

-Kính cẩn thưa rằng:

Vật đổi sao dời

Năm cùng tháng tận

Xuân tiết sắp sang

Đông tàn sắp hết

Gần ba mươi Tết

Sắm sửa tất niên

Tạ bái chư thần

Giữ ngôi tam thai

Nắm quyền tạo hoá

Trừ tai cứu hoạ

Bảo vệ gia đường

Nhằm lễ tất niên

Cầu xin bảo hộ

Bình an khương thái

Cầu tài đặng tài

Cầu lộc đặng lộc

Gia đình vui vẻ

Con cháu sum vầy

Chăn nuôi lục súc

Ăn ít lớn nhiều

Mua may bán đắc

Nhờ ơn cao dày

Phù trì bảo hộ

Ngưởng lại cung duy

Thần tương đắc an cư

Sở cầu giai toại

Ký định phương ngung

Môn khai quảng đại

Hướng xuất nhập chi

Hàm hanh kỳ lộc

Tài chi ích lợi

Nhân an vật phụ

Phúc lộc biền trăng

Năm mới làm ăn

Mọi điều hơn cũ

Chi lệ lễ dâng

Cầu xin gia hộ

Ngưỡng lại tôn thần

Chi gia huệ giả

Phục vị cẩn cáo! [24]                                                                             Kính

Đình Phước Hưng (Thống Hội Đường)

Đình Phước Hưng (Thống Hội Đường)

Bức bình phong Thồng Hội Đường (mặt trong)

Bức bình phong Thồng Hội Đường (mặt trong)

          Trong nhân dân, sinh hoạt văn hoá văn nghệ làng xã thường xuyên được đặt ra, lấy Đình làng làm trung tâm, là nơi không chỉ sinh hoạt văn hoá mà đình còn là biểu tượng của văn hoá, lịch sử làng, nơi tập trung thanh niên và dân làng đến vui chơi hát hò sau nhứng ngày làm việc nhọc nhằn. Thông qua những câu tục ngữ còn lưu truyền lại đến nay, ta có thể hình dung được ngày xưa, người dân Phước Sơn đại xã sinh hoạt văn hoá văn nghệ là thế nào:

           –Mống chuồn đóng tại Gò Chòi

           Mấy cô con gái đi coi mống chuồn[25] 

          – Mống Cửa Đại cá mại chết khô

          – Mống Đá Trach không khát cũng khô.

          – Mống Câu Đê chạy về dọn gác

          – Mống Đại La mưa sa bão táp.

  1. Khoán ước làng Phước Sơn

        Cũng như nhiều làng xã  khác ở Quảng Nam vào thế kỷ XIX, làng Phước Sơn nay là làng Phước Thuận, xã Hoà Nhơn, huyện Hoà Vang còn lưu giữ lại bản khoán ước của làng. Cũng như nhiều làng xã  khác ở Quảng Nam vào thế kỷ XIX, làng Phước Sơn nay là làng Phước Thuận, xã Hoà Nhơn, huyện Hoà Vang còn lưu giữ lại bản khoán ước của làng vào thời Gia Long thứ 7 (1808). Bản khoán ước được viết bằng chữ Hán trên giấy dó,  kích thước 20 x 30 cm. Về nội dung gồm 10 quy định về việc cúng tế ở đình làng, về mừng thọ lên lão, về cưới hỏi lấy vợ, lấy chồng của trai gái trong làng, về sự tương thân tương ái, giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn, về khuyên răn làm những điều tốt, không trộm cắp, không phá của cải, tài sản chung của làng…

       Mở đầu bản khoán ước có ghi: “Chúng tôi là những viên chức lớn nhỏ trong xã, thuộc xã Phước Sơn, tổng Phước Tường thượng, huyện Hoà Vang, phủ Điện Bàn. Nay lập đồng ưng định cử ông cựu cai tên Đàm lên làm chức trùm cả để chăm sóc các việc trong đình, chùa, sắp đặt lễ cúng và cứ theo khoán lệ khu xử những việc đúng sai trong xã, giữ gìn bờ cõi thuộc địa phận của xã. Từ nay những nam phụ, lão ấu trong xã và những người ngụ cư, nhóm họp tại đình, tưởng niệm các bậc tiền hiền đều phải giữ đúng phép tắc hợp với thuần phong, trên thuận dưới hoà, để giữ lấy danh dự với các làng lân cận. Từ nay về sau con cháu trong làng đều phải tuân theo những điều mà trước đã vạch sẵn”. Và, bản khoán ước cũng chỉ rõ việc xử phạt khi các thành viên trong làng không chấp hành như: “Những viên chức nào trong xã không dựa theo lệ khoán của các bậc tiền hiền mà làm trái lại những điều đã định ước trong tờ ưng định này lại có những lời phán ngôn ngang bướng thì phải chịu phát vạ một heo và cả trầu rượu dùng đủ, để làm sáng rõ nghi tắc của các bậc tiền hiền, để nêu gương cho những lớp trẻ sau này, ngõ hầu giữ được sự phát triển của làng”.

       Ngay từ lời mở đầu bản khoán ước đã ghi rõ trách nhiệm của con cháu – các thành viên trong làng phải biết gìn giữ lễ nghi, phép tắc thuần phong mỹ tục của làng mà các bậc tiền hiền khi đến khai canh, khai cư lập làng đã đề ra và một khi ai đó không chấp hành, không thực hiện đúng thì sẽ phải chịu phạt trước dân làng. Trong 10 điều khoán ước có những điều ghi về tinh thần tương thân, tương ái như: “Dựa theo khoán lệ của tiền nhân thì trên đời này có kẻ giàu, người nghèo không giống nhau, nên phải giúp nhau mới phải”, hay: “Dựa theo lệ định của tiền nhân, trong làng có người quá cố mà con cháu trong nhà muốn tỏ lòng hiếu thảo, hoặc có lễ tạ khi tống táng xong, việc ấy tuỳ theo khả năng của gia chủ, bất luận ít nhiều. Khi có đám tang gia chủ phải trình xã trưởng để cắt người trợ táng hoặc trợ tế”. Bản khoán cũng nói về việc gìn giữ, cấm phá tài sản chung của làng như: “Dựa theo phép tắc của quan trên, măng tre mới nhú lên cần phải được bảo vệ, để dùng vào những việc có ích sau này. Điều này đã có giấy tờ cấm ngặt từ trước, nghĩa là cấm không được cắt măng tre. Nếu ai còn phạm vào điều cấm ấy, cắt trộm măng tre khi bị bắt phải nộp lệ khoán một quan, một tiền và thu thêm 5 tiền để thưởng cho người bị bắt được”. Tuy nhiên, bản khoán ước cũng có mặt hạn chế như “Người con gái phải đúng 14 tuổi trở lên mới được gả chồng” và phải “giữ đúng 6 lễ từ vấn danh đến lễ cưới”, tuổi lấy chồng của người con gái quy định như vậy còn quá sớm. Hiện nay, theo Luật Hôn nhân và Gia đình chỉ rõ là nữ phải đủ 18 tuổi trở lên thì mới lập gia đình.

       Bản khoán ước này được lập vào ngày 4 tháng 9 năm Gia Long thứ 7 (1808) 1.

      Như vậy, khoán ước cũng như hương ước có vai trò quan trọng đối với việc ổn định, xây dựng cuộc sống trong làng Phước Thuận, theo đó, chấp hành tốt sẽ làm cho làng xóm yên vui, mọi người dân trong làng đoàn kết, trên thuận dưới hoà. Có được điều đó có thể một phần do các hình thức phạt và hình thức khen thưởng mà khoán ước hay hương ước đã nêu ra. Qua đó, chúng ta thấy khoán ước đã phản ảnh các quy tắc ở làng xã mà mọi thành viên trong cộng đồng buộc phải tuân theo; đồng thời phản ánh một phương diện quan trọng của văn hoá làng, đó là những quan niệm về điều hay, lẽ phải của dân làng, đưa họ vào khuôn phép và thực hiện những điều đã quy ước. Do vậy, có thể nói khoán ước là một khế ước tự nguyện của toàn thể dân làng Phước Thuận, gắn bó dân làng với nhau và điều tiết các trách nhiệm, cũng như quyền lợi của mọi thành viên trong làng. Khoán ước đã bổ sung cho luật pháp khi cần xử lý những vấn đề cụ thể luôn nảy sinh trong cuộc sống hằng ngày của nhân dân. Vì vậy, mặc dù cách chúng ta ngày nay gần 200 năm, nhưng bản khoán ước của làng Phước Sơn đại xã vẫn còn nhiều ý nghĩa và giá trị trong việc xây dựng làng văn hoá của chúng ta hiện nay. Chúng ta cần tiếp thu và phát huy cách ứng xử mang đầy tính nhân văn và tự nguyện của các thành viên trong làng xã ngày trước, để cùng nhau quy ước rồi thực hiện, nhằm làm cho từng thôn làng, từng tổ dân phố, khu dân cư được an vui, yên ổn, môi trường xanh sạch đẹp và phát triển. Có thể từ môi trường văn hoá làng xóm ấy mà Huê tình ca được tập hợp từ những lần sinh hoạt văn nghệ, diễn xướng dân gian mà có chăng? Ngày nay, chúng ta có thể hiểu được, trước ta đã có người làm công việc lưu giữ vốn văn nghệ dân gian này rất tích cực và hiệu quả. Hiệu quả không chỉ bằng trí nhớ mà còn bằng văn bản hẳn hoi, đã mấy chục năm hoặc lâu hơn như bản khoán ước Phước Sơn đại xã được thiết lập cách ta trên 200 năm vẫn có thể sưu tầm và xử lý được. Từ ngày nay nhìn về quá khứ, đó cũng là cách bảo tồn, tàng trữ di sản văn hoá địa phương. Mong ở đấy sẽ phát huy được tinh hoa với tinh thần “ôn cố tri tân”, tiếp tục xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

       Hiện nay trong cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” quy ước cộng đồng đã trở thành một trong những nội dung quan trọng và chủ yếu trong công tác xây dựng thôn, bản, làng văn hoá, tổ dân phố văn hoá…Nội dung của quy ước cộng đồng dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy những thuần phong mỹ tục của cha ông qua hương ước, khoán ước. Nhưng chỉ với những quy ước mang tính tích cực, còn những quy ước lạc hậu thì chúng ta cần loại bỏ, làm sao cho mỗi gia đình, mỗi tộc họ hiểu biết và gìn giữ những thuần phong, mỹ tục tốt, góp phần làm cho người dân có ý thức trách nhiệm với cộng đồng. Đồng thời giáo dục cho thanh thiếu niên, con cháu trong gia đình, dòng tộc chăm lo làm ăn, cố gắng học tập, không đua đòi hư hỏng, không rơi vào các tệ nạn xã hội…nhằm đem lại đời sống ấm no, hạnh phúc, nếp sống  có văn hoá, văn minh ở các làng quê, khu phố được phát huy, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng thành phố văn minh, giàu đẹp.

Di sản Hán – Nôm làng Phước Thuận

Di sản Hán – Nôm làng Phước Thuận

  1. Sinh hoạt văn nghệ dân gian

       Trong lao động sản xuất, đặc biệt trên vùng trung du âm âm gió núi, mưa chiều như làng Phước Thuận thì hẳn, sinh hoạt văn nghệ phải được tổ chức để có chỗ cho thanh niên nam nữ và nhân dân nói chung sau những buổi lao động mệt nhọc ngoài đồng, trên núi có cơ may sinh hoạt, tạo không khí sôi động mà quên đi những mệt nhọc trong lao động hằng ngày. Sinh hoạt văn nghệ dân gian thể hiện qua lời ca, tiếng hát. Xuất hiện những câu ca dao tục ngữ từ vùng trung du này thường gắn với địa danh, mang hơi thở của tâm lý về đặt tên đất, tên làng – những địa danh được đặt tên khi “từ Bắc nhi nam lai” khai khẩn. Ấy vậy nên địa danh đất đai sông suối đã đi vào những câu ca dao, tục ngữ được truyền tụng tại Phước Sơn đại xã từ ngày lập làng còn lại đến giờ.

Tục ngữ:

Mống chuồn đóng tại Gò Chòi [26]

Mấy cô con gái đi coi mống chuồn

       Qua đấy, cho thấy rằng dân gian vận dụng cách nói lái  trong tiếng Việt khi nhìn thấy quan quân qua lại trên Gò Chòi, thanh niên trong làng trào lộng cho vui với các cô con gái. Cô nào “muốn chồng” lên trên ấy mà chọn. Giống như câu:

“Trai khôn tìm vợ chợ đông,

Gái khôn tìn chồng giữa chốn ba quân”

cũng là cách sinh hoạt văn nghệ dân gian nơi quê kiểng.

Mống Cửa Đại cá mại chết khô

       Người dân Phước Thuận truyền tụng rằng ngồi tại đình làng, lấy nơi này làm hệ quy chiếu ngó ra đèo Đá Trạc hướng Cửa Đại, Hội An có mống (7 sắc cầu vồng) đóng thì trời có hạn. Đấy là phóng tầm mắt ra xa. Còn nếu người dân làng nhìn gần chỉ thấy:

Mống Đá Trạc không khát cũng khô

hoặc tục ngữ tại làng có:

Mống Cu Đê chạy về dọn gác

Ngồi tại đình Phước Thuận ngó về hướng sông Câu Đê qua ngõ Đại La có mống là trời lụt. Và nếu nhìn gần thì lại:

Mống Đại La mưa sa bão táp

        Điều đó cho hay rằng người dân làng Phước Thuận lấy đình làng là trung tâm của mọi sinh hoạt và cũng là trung tâm của mọi dự đoán và từ tâm lý này có thể nhìn nhận được rằng làng ngày xưa là trung tâm, là nơi dân làng ngưỡng vọng, đấy cũng là nơi tập trung mọi buồn vui, ái nộ của làng, là nơi thể hiện lịch sử – văn hoá chung của làng. Từ đây chúng ta có thể hình dung ra được thanh niên nam nữ Phước Thuận xưa thường tụ tập về đình làng sinh hoạt văn nghệ. Thế nên từ đó những câu ca dao, hoặc tục ngữ cũng ra đi từ ngôi đình làng. Vì đấy là khu vực trung tâm làng. Ngày xưa cả vùng rộng lớn của Phước Sơn đại xã và về sau là đất Ngũ Phước vẫn phải lấy đình là trung tâm cho mọi sinh hoạt của người dân trong làng. Hoa tình ca cũng trong hoàn cảnh đó mà ra đời và được ghi chép lại như một minh chứng cho những lần sinh hoạt văn nghệ dân gian nơi làng quê trung du yên ả của làng Phước Thuận xưa.

       Trong lịch sử phát triển làng, Phước Thuận luôn có sự tiếp xúc, giao lưu với các làng bộ lân cận qua việc di cư đổi nơi cư trú, qua hôn nhân, phát triển kinh tế, trao đổi các sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Do đó văn hoá làng Phước Thuận không đóng khung trong môi trường diễn xướng nhỏ hẹp của làng mà còn tìm nhiều cách lan toả ra bên ngoài, chính đó là giao lưu và tiếp nhận biến đổi các thành tố văn hoá cho phù hợp với phong thổ địa phương, nâng lên thành cái riêng Phước Thuận. Văn hoá văn nghệ dân gian tại làng Phước Thuận xưa, qua Khoán ước và Huê tình ca cho thấy hoạt động hò hát diễn ra thường xuyên vào những ngày nông nhàn và những đêm trăng thanh, có lễ hội thì sinh hoạt càng có dịp phát triển. Các loại hình hò khoan đối đáp, nói vè, chiếu tuồng… được tổ chức biểu diễn và được mọi người quan tâm tham dự, nhất là lực lượng trai tráng trong làng.

  1. Huê tình ca Phước Thuận xã

          Đây là cuốn sách viết kiểu chữ Nôm trên loại giấy dó bằng mực xạ, chép lại những bài ca của thanh niên nam nữ xã Phước Thuận, huyện Hoà Vang. Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Phước Thuận là xã cánh tây của huyện Hoà Vang, đất đồi gò, vùng trung du, tiếp giáp từ chân Bà Nà – núi Chúa xuống và núi Phước Tường lên, kinh tế thuần nông, chủ yếu là làm ruộng và trồng trọt các loại hoa màu khác như khoai, sắn, các loại đậu, mè (vừng), một ít gia đình có chăn nuôi bò, có cả bò bầy. Sau cách mạng, xã Phước Thuận đổi thành thôn Phước Thuận thuộc xã Hoà Nhơn, huyện Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.

           Cuốn sách “Huê tình ca”  (hát huê tình) sau khi phiên dịch từ Nôm ra tiếng Việt là tập hợp những bài ca dân gian, phần lớn dùng trong hát hò khoan, ngâm nga giải trí, một trong những thể loại đặc trưng của văn nghệ dân gian Quảng Nam, Đà Nẵng. Đôi khi cũng dùng cho phong cách tự sự. Sách không có cốt truyện, có 45 bài chia làm 4 phần, mỗi phần thể hiện một chủ đề.

          Phần I: Huê tình ca  có 7 bài, tập trung ngợi ca tình yêu đôi lứa, thể hiện tâm tình nam nữ trong làng.

          Phần II: Lý Mã Hiền đoạn . Có 13 bài, cảm tác từ trích đoạn  tuồng Lý Mã Hiền, phần Ngọc Dung – vợ Lý Mã Hiền – bị chú mình dùng cung tên sát hại. Thông qua phần này cho biết ngày ấy người dân làng trung du Phước Thuận đã tiếp cận với tuồng, và thích xem tuồng đồ, thường đến với các chiếu tuồng.

           Phần III: Kiều tích ca. Có 9 bài. Cảm hứng từ Truyện Kiều (Nguyễn Du), bài ca xúc cảm từ những tình huống xảy ra trong mười lăm năm Vương Thuý Kiều mắc nạn, đầy nỗi dằn vặt, phải đau khổ lắm trước  khi có thể vượt qua được những nghiệt ngã.[27]

          Phần IV: Cách cú. Có 16 bài. Là những câu ca thở than về tình yêu chông chênh, xa cách giữa nam nữ trong làng.

           Sách Huê tình ca được chép bằng chữ Nôm đầu đời Minh Mạng, đến năm 1941, Bảo Đại thập lục niên, nhuận nhị ngoạt, sơ tứ nhựt được sao lục lại lần nữa [28]. Năm 1997, cụ Võ Văn Xuân người làng Đông Phước, xã Hoà Phát, huyện Hoà Vang phiên âm từ Nôm sang Việt.

             Huê tình ca là tiếng ca vui buồn từ những chuyện tình mà thông thường người ta vẫn đọc cho nhau nghe trong những lần sinh hoạt văn nghệ trong làng hay có thể là hát hò khoan đối đáp huê tình vào những đêm trăng sáng.Vì đây là thể loại dân ca dân gian, do đó cho phép ta nghĩ rằng thông qua hình thức diễn xướng trong sinh hoạt văn nghệ làng xã, nam nữ thanh niên Phước Thuận xã nhớ và tập hợp có bài bản, tự ký nhằm lưu giữ và phổ biến lâu dài, đồng thời tránh nguy cơ bị quên lãng cùng với thời gian theo năm tháng đời người.

  1. Đúng như tên gọi của nó, “Huê tình ca” càng hát càng thấy gay cấn, ngổn ngang, cái ngổn ngang có thật nơi trần thế. Thường chỉ hai nhân vật: chàng – nường (nàng) hoặc chàng – em, có khi thay thế bằng hai đại từ: đây – đó. Chủ thể trữ tình được nhấn mạnh tạo nét viền đậm vì đấy là đối tượng phản ánh. Họ thường đổi vai nhau trong lúc hát, khi ngổn ngang về phía nữ, lúc trục trặc thuộc về nam. Chuyện của những chàng trai cô gái xảy ra trong không gian vật chất cụ thể làng Phước Thuận, tuy hẹp ở xóm làng nhưng lại có đủ những cung bậc phức tạp của thuộc tính tâm lý tình yêu trong quan hệ xã hội, con người. Cái ao ước, khát vọng trăm năm của các nhân vật dân gian trong sách chẳng bao giờ cũ cả. Mọi thời đại, tình yêu thương vẫn là cốt lõi trong quan hệ con người. Một người con gái ray rứt với nỗi buồn vời vợi, yêu suốt quãng đời con gái, nhưng chỉ một lúc nào đó:

          Chiều chiều một gánh cang thường

          Nỗi nầy cho phỉ biết tường cùng ai

          Dẫu mình thác xuống tuyền đài

Dầu nay khuất mặt, hậu lai cũng gặp chàng.

hoặc:

Phân ra cho rõ cội nguồn

Đừng tham phú quý bỏ nghĩa nầy bơ vơ 

Tất nhiên với tình yêu đôi lứa trong nỗi u hoài luôn có hy vọng nhóm lên.

  1. Khác với Huê tình ca là cảm tác từ những trích đoạn tuồng Lý Mã Hiền, đoạn Ngọc Dung – vợ Lý Mã Hiền – bị chú sát hại bằng mũi tên. Chủ đề tập trung khai thác, phản ánh bằng thể loại dân ca, qua chiết đoạn Ngọc Dung gặp nguy. Đây là đoạn thương cảm nhất, thể hiện sự đau xót cho kẻ ngay ngộ nạn.

   Khuyên em ráng bước chưn dời

                   Lên yên tị nạn lánh hồi tai ba

                   …

                   Ruột đau từ đoạn như giần

                   Phần thời bị mũi tên thần

                  Phần thời đau dạ, khổ muôn phần chàng ơi.

          Vào thời điểm bị tên bắn, ốm nặng, lại trở dạ muốn sinh, tiều tuỵ lắm rồi nhưng ai biết đâu lòng cô vợ trẻ lại long lanh ý thức tuyệt vời và trong sáng:

Đạo cương thường trời khiến bỏ nhau

Thương cho chàng đỡ trước ngăn sau có một mình. 

          Chỉ mỗi lời nguyện ước sống có nhau nhưng mà hỡi ơi, thật khủng khiếp làm sao, những bài ca từ chiết đoạn là một tấm lòng của một con người, họ đã sống một cuộc sống tình cảm dằn vặt, khổ tâm với những kỷ niệm nhức nhối, và người vợ trẻ – Ngọc Dung – mong được chết nhẹ nhàng, êm ả. Rất dân gian và rất gần gũi với cuộc sống đời thường nơi quê kiểng.

  1. Không có nỗi đau nào giống nhau cả, “Kiều tích ca” là những tiếng thở than, thương tiếc, cảm hoài cho một đời tài hoa nhưng phận bạc. Có một ít ước mong về hạnh phúc thôi, mà sao thật khó !

Âm thầm chịu đựng, âm thầm đau. Đau trong âm thầm hy vọng như Kiều đã có lần hy vọng trong than thở:

Đã hay hoạ khởi vô đoan

Thằng bán tơ gieo hoạ

nên thân nường khổ thay

Còn gì một chút đoạ đày

Dẫu có khôn bảy vạn

cũng tay giang hồ. 

          Nỗi đau ngoài ước muốn của Kiều cũng là của “nữ nhi” đôi khi cũng gặp nơi làng quê trung du yên ả nầy, từ đây một câu ca, một tiếng hát bật lên trôi nổi, thở than. Điều không mong đợi, đơn giản nhưng lại ngoắc vào tâm trạng những ngổn ngang nhức nhối:

          Bởi Hoạn Thơ có dạ ghen tuông

          Đem thân đày đoạ

          nghĩ phận nường không ra chi

          Làm cho mặt bủng da chì

          Sự hoàn chi hậu bỏ đi lên chùa

          Cho hay tài sắc kém thua

          Duyên còn chi nữa

          mà tranh đua bớ nường.

          …

          Mười lăm năm bướm chán ong chường

          Chờ cho một kiếp Tiền Đường ra chi. 

          Có thể xem đấy là những trục trặc có thể có trong tình yêu nam nữ. Thế nhưng tha thứ và cảm thông với những trúc trắc vẫn là điều cơ bản, là thước đo tấm lòng của mỗi con người đã được đem ra hát giao lưu cũng là cách nhắc nhở giải bày. Người ta hát về Kiều khách quan không hề ân oán, không lặp lấy oán trả oán, lấy ân trả ân mà cư xử với tấm lòng vị tha đúng đạo nghĩa cang thường như  lý lẽ của  người xưa vậy.

          Dẫu không thương cũng nghĩ chút tình

          Lẽ mô phụ bạc duyên mình rứa răng

          Lời nguyền thuỷ kiệt sơn băng

          Non cao tạt dạ, đá bằng đề thơ.

          Có một điều chiêm nghiệm qua thực tiễn, trong tình yêu tâm trạng bi không ít nhưng chưa thấy luỵ. Nhớ người yêu cũ khôn nguôi rồi liên tưởng đến nhân tình thế thái kèm theo thái độ hoài niệm với nhiều lưu luyến trong các câu ca “cách cú” là điểm nổi lên trong những câu xa cách. Một lớp thế hệ thanh niên Phước Thuận trước cách mạng Tháng Tám trải qua những sóng gió của trần thế ngổn ngang tâm trạng, các câu xa cách gần như hết hy vọng, không giống khúc hát huê tình buổi đầu tiên.

Nỗi niềm đây ruột thắt trăm chiều

Đã mang phận bạc kêu thời với trời xanh 

         Cũng có mối quan hệ tham lam, bủn xỉn, khôn vặt, vụ lợi. Tuy thế vẫn không ngờ ở cái xã Phước Thuận ngày nọ lại có những con người vươn lên trong sinh hoạt tinh thần, làm đẹp cho xứ sở quê hương như vậy.

Nghĩ như ta với bạn còn thiếu niên

Ngày xuân không lẽ ôm duyên ngồi chờ

          Như thế vẫn thấy nhân vật trong sách hiền hậu, trải nghiệm và thật thà. Kể cũng đáng trân trọng, đáng yêu sao bởi không luỵ vì tình. Đấy là cái quý của  Huê tình ca Phước thuận xã. Dẫu thế, những câu ca dân gian hát về xa cách không thiếu chất lãng mạn, tao nhã. Huê tình ca có giọng điệu riêng của miếng đất đồi gò, trung du, bán sơn địa, thuần nông nghiệp trải qua bao lần đổi thay của đất nước, người dân Phước Thuận cũng thể nghiệm đủ những ngổn ngang của cuộc sống trần gian, họ đã định hình, lưu giữ được những bài ca, làm bằng chứng cho phương thức sinh hoạt văn nghệ dân gian làng xã phát triển một thời

          Một cuốn sách tâm tình nam nữ được dân gian lưu hành ở một làng nhỏ phía tây thành phố Đà Nẵng cho ta nhìn được không gian của những cuộc biểu diễn dân gian làng Phước Thuận với những tâm tình ngưng đọng, những sinh hoạt, cả phong tục, cách xử sự với tha nhân, lời ăn tiếng nói với khung cảnh làng quê, thiên nhiên, cỏ cây, vườn tược, con người…phong phú nhiều mặt. Những bài ca có lời văn dí dỏm, sắc sảo, quê kiểng, mang đậm dấu ấn dân gian làm nổi bật một làng quê trung du mà nay vẫn còn đọc cho nhau nghe những bài ca dân dã. Chính đó đã góp phần nhỏ vào công tác giữ gìn di sản văn hoá Hán – Nôm quý báu tại địa phương, nuôi dưỡng tinh thần, sức sống dẻo dai của người Hoà Vang nói chung và người dân tại làng Phước Thuận nói riêng để vươn lên xây dựng đời sống văn hoá tại một làng quê trung du cánh tây huyện Hoà Vang. Việc sưu tầm, giữ gìn các tài liệu Hán – Nôm có trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm bảo tồn, lưu giữ để các thế hệ mai sau có thể sử dụng, cảm thụ và thưởng thức được những giá trị văn hoá địa phương, nâng cao hiểu biết về một thời kỳ những thế hệ đi trước đã ra công làm đẹp cho làng xã quê nhà.

          Tuy nhiên cũng sẽ tỉnh táo nhìn nhận rằng không phải những gì của nhân dân làng Phước Thuận sản sinh ra trong quá khứ đều là những cái tốt, cái hay, cái đẹp mà không có những cái hạn chế, yếu kém đan xen. Chính đó, việc sưu tầm ghi chép lại vốn văn học quý hiếm này tại làng Phước Thuận vẫn phải trên tinh thần “gạn đục khơi trong”, đánh giá cho trúng những tích cực có trong văn nghệ dân gian, chỉ ra những hạn chế để tìm cách khắc phục tốt hơn.

I

HUÊ TÌNH CA

(HÁT HUÊ TÌNH)

1.          

Mãn mục vân sơn cu thị lạc[29]

Đào hoa y cựu tiếu đông phong[30]

Cho hay tài sắc hảo tương phùng

Bồi hồi quân tử trong lòng chi đâu !

Bởi ai nên thảm nên sầu

Nên duyên, nên nợ, nên câu ân tình

Một lời nguyền ước ba sinh

Ai vong ân, kệ họ, hai đứa mình

cũng vấn vương

Chiều chiều một gánh cang thường[31]

Nỗi nầy cho phỉ biết tường cùng ai

Dẫu mình thác xuống tuyền đài[32]

Dầu nay khuất mặt,

hậu lai cũng gặp nàng

Nghĩ ra luỵ nhỏ hai hàng[33]

Tình nhơn có biết (khổ)

tâm chàng thế ni

Một lời vàng đá tri tri

Tử sanh em chịu gắn ghi với chàng.

        2.

Anh gặp em nhớ mấy lần ngày nọ

Vong ân bội nghĩa hay em sợ

hồi mô chừ đến đây

Trông chờ ngoài đó đến nay

sao nay chừ  bạn lánh làm sao

Gặp ta không hỏi,

lời chào cũng không

Nào khi thề nguyện cùng đồng

Tai nghe phảng phất

có không hỡi nường ? [34]

Đêm nằm giấc ngủ không an

Chờ khi thanh vắng hỏi han đôi lời.

3.

Hai ta trời đã xe dây

Nắm tay hỏi thiệt đó đây kết nguyền

Trời đà ấn định căn duyên

Thời ta với bạn có duyên cũng vừa

Phân ra cho rõ cội nguồn

Đừng tham phú quý,

bỏ nghĩa nầy bơ vơ

Lạy cùng bà nguyệt ông tơ[35]

Vầy duyên hồng nhạn,

còn đợi chờ làm chi

Có câu: ” Kiến nghĩa bất vi “[36]

Mười hai bến nước,

chốn nào đục trong[37]

Về xem cảm liễu niệm tây đoài[38]

Mắt nhìn cảnh cũ không an tấm lòng

Đương cơn sóng dợn trong lòng

Muốn phân đôi chuyện

sợ lòng nữ nhi

Chữ rằng: “chi tử vu quy”[39]

Đào yêu mướt mướt

gặp thời phải toan[40]

Ta đây không phải như người

Ngày nay nước Sở,

mai sang nước Tề

Để cho miệng thế cười chê

Ô danh nan thục

lỗi niềm thuỷ chung[41]

4.

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ[42]

Vô duyên đối diện bất tương phùng[43]

Bữa nay mới gặp tình chung

Đây phân đó giải tam tùng một khi[44]

Mấy lời phân với nữ nhi

Thương thời để dạ

đừng tiếng chi bớ nường

Chẳng qua chỉ vấn tơ vương[45]

Ân tình cột chặt

gánh cang thường đừng quên[46]

Xưa nay đó xuống, đây lên

Muốn cho mai trúc lâu bền trăm năm[47]

Thương người nỗi chịu tiếng tăm

Khiến nên giấc ngủ đêm nằm không yên.

Cũng vì chút nghĩa thuyền quyên

Trằn qua trở lại, nhớ phiền bao nhiêu

Năm canh gió thổi hiu hiu

Nhìn mình ngoài cửa

chín chiều ruột đau

Cũng vì ân trước nghĩa sau

Cho nên ta nỡ cách nhau không đành

Lời nguyền hai mái tóc xanh

Thương nhau cho đặng, tử sanh nhờ trời.

5.

Thiên lý giang sơn thiên lý nguyệt[48]

Ngũ canh sầu mộng ngũ canh kê [49]

Thương nhớ ai nước mắt dầm dề

Hay là nhớ lại lời thề bấy lâu

Trời xuôi ý hiệp tâm đồng

Nên chi Ô thước bắt cầu sông Ngân [50]

Ngồi buồn nhớ đến tình nhân

Ngồi lên nằm xuống

đau như giần ruột gan

Giận thay bà Nguyệt đa đoan [51]

So dây sao để hai hàng tương tư

Sợ e danh uổng công hư

Vầy duyên không biết bao chừ gặp nhau

Chẳng thà đừng trước đừng sau

Đừng tốt đừng xấu

làm chi thêm thảm sầu

Nhớ thương sanh bịnh tại hồi đầu[52]

Thì ra sự nầy chẳng trách chi mẹ cha

Suy đi, nghĩ lại trách đôi ta đó bớ nường

Về thêm nhớ cảnh nhớ quê

Nhớ khi hải thệ, nhớ lời thề sơn[53]

Tạm biệt chút chi, làm nghĩa làm tình

Khuyên ai ở lại để cho mình dời chưn

Bước ra một bước một đà xa bạn vàng

Cũng vì chút nghĩa ái ân

Hỡi còn đợi lệnh song thân ở nhà

Rồi đây bướm lại kề hoa

Mai kề với liễu, đôi ta đó chờ [54]

6.

Nhựt nhựt vãn lai thường kiến diện[55]

Tri nhơn tri diện bất tri tâm[56]

Trao duyên với bạn sắt cầm [57]

Biết chi một chút mưu thâm hỡi nường

Lâu chưa tỏ với thung đường[58]

Bởi lời thi phị lân bàng cười chê[59]

Không tin lên miễu mà thề

Lòng đây dạ đó, ông thần về chứng tri

Cậy cùng vương hữu cố tri[60]

Giao du tứ hải làm chứng thời lời đoan[61]

7

Thấy nường áo mão lòng thương

Biết là chỉ vấn, tơ vương chăng là

Lâu ngày viễn xứ phương xa[62]

Đương cơn hoạn nạn gặp ta giữa đàng

Chẳng qua số tại thiên hoàng

Ngô đồng lẻ bạn, phụng hoàng lai quy

Mấy lời chàng dặn thiếp ghi

Đừng có ham nơi danh lợi

mà bỏ nghĩa nay bớ nường !

Chữ: “bất kỳ nhi ngộ cố tri”[63]

Vô văn hà đáo, lấy chi cho phỉ tình.[64]                

II

LÝ MÃ HIỀN

ĐOẠN 

(CẢM TÁC ĐOẠN NGỌC DUNG-

VỢ LÝ MÃ HIỀN BỊ CHÚ RUỘT SÁT HẠI)

Kể từ mộ quá ải quan[65]

Đạt chiếu văn trảm thần tiện

thiên hoàng có hay[66]

Vợ chồng ta dốc một lòng ngay

Miễn an nghiệp chúa

quản chi rày gian nan

Phần thời em bậu cưu mang

Phần thờ thứ hậu tử hoàng linh đinh

Giữa đương chừ thất cơ binh

Tưởng là đặng chốn gởi mình an thân

Ngờ đâu bị mũi tên thần

Đớn đau trong dạ khổ muôn phần em ơi

Khuyên em ráng bước chưn dời

Lên yên tỵ nạn lánh hồi tai ba[67]

Chỉ đường điểu đạo sơ qua[68]

Liền thời em phải chịu,

đừng phiền hà đó em ơi.

 

2

Em ơi!

Sanh ra nhân thế ở đời

Hết khi bỉ cực có hồi thái lai

Muốn cho nghiệp chúa lâu dài

Dầu cho mưa sập, sóng dồi cũng ưng

Chữ rằng:” Vi hiếu sự quân”[69]

Vĩ trung báo quốc biểu em đừng than van[70]

3

Ruột đau từ đoạn như giần

Phần thời bị mũi tên thần

Phần thời đau dạ, khổ muôn phần chàng ơi

Lên yên khó đứng, khó ngồi

Đớn đau ngũ tạng, bồi hồi tứ chi

Khuyên chàng chầm chậm đợi thiếp đi

Trời ơi có biết nỗi ni không trời

Bước đi một bước một dời

Cắn răng mà chịu với đời cho cam.

4

Chàng ơi, ruột đau từ đoạn chín chiều [71]

Lên yên cũng khó xuống kiều cũng chua cay

Hội ni trời hỡi có hay

Phần lâm hoạn nạn, phần đến ngày hoa khai

Nước non bao quản dặm dài

Tay nương kiều ngựa,

đường mai trông chừng[72]

Phần thời mỏi gối đau lưng

Phần thời thai đạp quá chừng là đau

Đạo cương thường trời khiến bỏ nhau

Thương cho chàng đỡ trước,

ngăn sau có một mình.

5

Nơi trận thượng từ khi giao chiến

Một mình em chế biến trừ gian

Ai ngờ thất lạc hai đàng

Chúa tôi hai ngả, thiếp chàng hai phương

Trận tiền cung kiếm tư đương[73]

Bị gian thần Du Hổ xạ tên thương thình lình[74]

Phút đâu bỗng trúng nhằm mình

Trời ơi nỡ hại dứt tình người ngay

Lý Mã Hiền chàng hỡi có hay

Biết hà mưu, hà kế

rút mũi tên thần này cho em    [75]

6

Em ơi, nơi trận địa mặt nhìn đã hãn[76]

Dấu hiền thê chưn bước còn đây

Máu đâu lai láng thế nầy

Hay là nhân trung mắc nạn dạ nay còn ngờ[77]

Ai hay đoạ mã sa cơ[78]

Tình quan thúc điệt ai ngờ hại nhau[79]

Chín chiều ruột thắt gan đau

Trở lại nơi trận thượng cho mau kịp nàng

Gặp mặt rồi chồng khóc, vợ than

Em ơi, bớt thảm để cho chàng rút tên.

7

Đoạn ước bá niên tờn phu phụ[80]

Thuỳ tri nhất đán biệt sâm thương[81]

Nặng nề vì hai chữ oan ương[82]

Chàng mang khúc thảm, thiếp vương đoạn sầu

Dùng dằng nghĩa cũ ân sâu

Biết làm sao mà gỡ mối sầu cho xong

Chẳng qua căn số long đong

Người đời ai khỏi mắc vòng gian nan

Thôi thôi thiếp đã xa chàng

Chốn dương trần chàng ở lại

Nơi suối vàng thiếp dời chưn.

8

Ta ! Hiền phụ! Ta ! Hiền phụ! [83]

Mạng tảo vong! Mạng tảo vong! [84]

Nhìn mặt em luỵ đổ ròng ròng

Nhìn bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu

Chúa con, vai cõng, tay dìu

Lấy ai khuya sớm tối chiều đỡ nương

Chuỗi sầu ai khéo vấn vương

Nghĩ mình mà lại thêm thương cho mình

Hữu tình mà hoá vô tình

Bơ vơ phận thiếp, linh đinh nỗi chàng

Nhìn em hột luỵ chứa chan

Gánh tương tư thiếp nỡ để cho chàng ai bi [85]

9

Phân minh tự bã ly cung kiếm [86]

Cắt đoạn chung tình khứ dã nan [87]

Cầm dao cắt đoạn cang tràng [88]

Phân ly nam bắc hai đường phu thê

Ớ phu quân ơi xít lại cho kề

Em phân đôi chuyện đặng em về âm cung

Lâm cơn bán lộ đồ trung [89]

Phu thê cách biệt thảm vô cùng biết bao

Chẳng qua căn số lao đao

Hoàng thiên đã định lẽ nào, phải hay

Chẳng qua con tạo đổi thay

Khiến âm dương cách biệt

nên ngày rày nhớ nhau.

10

Bất tận bi ai, ai bi

Vô cùng thảm não, thảm não

Nghĩ đến cơn sầu khôn ráo giọt châu

Mới hay con tạo cơ cầu[90]

Chuỗi sầu chưa dứt, đoạn sầu lại mang

Đang cơn bán lộ giữa đàng

Thiếp ơi sao nở bỏ chàng thiếp đi

Khai huyệt trung mai táng hài y

Khuyên em an phận đặng cho anh đi lần lần

Chốn âm cung em đã an thân

Để cho chàng lẻ bạn chốn dương trần bơ vơ.

11

Chàng ôi

Mặt nhìn chàng lòng như dao cắt

Tay bồng con dạ tợ kim châm

Đất trời sao chẳng chiếu lâm

Cả kêu ba tiếng cao thâm hỡi trời[91]

Tưởng là sống đặng ở đời

Không hay đâu hồn đã sớm khuya

đổi dời âm ty

Từ rày nam bắc phân ly

Bơ vơ chàng ở thiếp đi, đôi đàng

Con thơ giao lại cho chàng

Thiếp an phận thiếp giao cho chàng

dưỡng nuôi.

12

Vẳng tai nghe vợ than, con khóc

Lâm ly nước mắt hai hàng nhỏ tuông

Nguyện đèn ba phút nỗi tình thương[92]

Ngậm ngùi ai trong nội một mình đợi ta

Người thiệt, không phải là ma

Thương chàng nên phải dưa qua đổi đàng

Nhìn mặt con chi xiết nỗi thương

Phút đâu gà đã gáy tan

Mặt trời đã mọc, tử hoàn [93]em lai.

13

Ngũ lục xích, ngũ lục công [94]

Giang tay cõng chúa bồng con

Ruột đau từ [95]đoạn héo xàu

Ngọc Dung em hỡi bỏ con cho chàng

Ròng ròng châu luỵ hai hàng

Đêm khuya ở chốn sơn trang một mình [96]

Suối vàng hồn thiếp có linh

Thương con thời hiểu thấu tình cùng ta

Ông ơi, chớ khóc đừng la [97]

Nín đi con hỡi liệu cha khôn dời

Đêm thanh nguyệt cách sao dời

Nghe con than khóc mấy lời bi ai

Não nùng luỵ nhỏ láng lai

Thương chàng biết gởi cho ai cậy nhờ

Phần thời chúa dại, con thơ

Tay bồng vai cõng bơ vơ một mình

Thương chàng (nên) hiển hiện hồn linh

Bồng con cho đỡ thoả tình tam cương [98]

Trực nhìn đã rạng ác vàng [99]

Giao con để lại cho chàng, thiếp đi.

III 

KIỀU TÍCH CA

(CẢM TÁC ĐIỂN TÍCH TRUYỆN KIỀU)

1

Thiên lý giang sơn thiên lý niệm[100]

Nhứt phen phong võ nhứt phen sầu[101]

Nhìn nước non tưởng cuộc bấy lâu

Xem trăng khuya vầy duyên tơ tóc

Nghe tin bạn bâng khuâng dạ ngọc

Bước ra đi khổ nhục cũng cam

Muốn cho sum họp bắc nam

E lòng thục nữ biết làm sao đây

Đêm năm canh an giấc dạ nầy

Nhớ lời nguyền ước nỗi nầy biết không

Biết làm sao kiếm một chữ đồng[102]

Sá chi một chút để má hồng nghĩ suy

Mấy lời tỏ với Kiều nhi[103]

Ơn đến nghĩa trả tính cho cho toàn

Đã hay hoạ khởi vô đoan[104]

Thằng bán tơ gieo hoạ

nên thân nường khổ thay

Còn chi một chút đoạ đày

Dầu có khôn bảy vạn cũng tay giang hồ.

2

Đoạn trường mộng lý căn duyên[105]

Liễu bạc mạng, cầm chung oán hận trường[106]

Bởi Hoạn Thơ có dạ ghen tương [107]

Đem thân đày đoạ

nghĩ phận nường không ra chi

Làm cho mặt bủng da chì

Sự hoàn chi hậu bỏ đi lên chùa[108]

Cho hay tài sắc kém thua

Duyên còn chi nữa mà ganh đua bớ nường.

3

Ba năm cải táng thành hình[109]

Nghĩ bao nhiêu lại thảm tình bấy nhiêu

Nghĩ mà thương cho phận nàng Kiều

Giang hồ một lúc danh bêu ngàn đời

Đến sau Từ Hải sang chơi

Nàng ra tiếp khách chào mời thong dong

Hoàng kim ngân kết nghĩa thành song[110]

Sự sanh như sự tử, sự tồn như sự vong [111]

Nghĩ như nường thiệt dại chớ không khôn

Nghe chi lời Hồ Tôn Hiến mà toan hại Từ.

4

Đáo xứ bình minh nan tấn bộ[112]

Dung thân ba hạ đãi bình minh[113]

Nàng nhờ một lúc hiển vinh

Cũng chẳng khác ngọn đèn chong giữa gió

Uổng là uổng mấy năm công khó

Cũng như bọt nước chảy dòng sông

Lấy chồng mà lại giết chồng

Đừng khoe một chút má hồng còn tươi

Cớ sao mà không biết hổ ngươi[114]

Lại xưng rằng hiếu mà khoe với người thế gian

Kể từ nhảy xuống Tiền Đàng

Không nhờ ông Đình trưởng thời xương tàn, cốt khô[115]

Có chữ ô danh nan thục [116]

chê khen mô đó huớ nàng.

5

Trinh đặng một nửa, trinh làm hiếu

Hiếu đặng một, lấy hiếu làm trinh

Bị Tú bà với Mã Giám Sinh[117]

Buôn hương bán phấn,

nghĩ thân hình có ra chi

Kể từ Vô Tích, Lâm Truy

Thân còn chẳng kể, kể gì là ta

Mười lăm năm, bướm chán ong chường

Chờ cho một kiếp Tiền Đường ra chi

Xem người nhớ đến nàng Kiều

Giang hồ một lúc

biết bao nhiêu là tình

Nghĩ như nàng Kiều lấy hiếu làm trinh

Tai bay hoạ gởi bán mình chuộc cha

Mười lăm năm lưu lạc đường xa

Sao không bắt chước mẹ cha chút nào

Biểu nường đừng tự sánh cửa tài cao

Cửa đào tiên mở rộng động đào không hay.

6

Hiếu tình chẳng biết làm sao

Chớ khoe một chút má đào tốt tươi

Tử giả danh, bất tử giả danh[118]

Đừng màng câu:

chữ hiếu đua tranh hoan nhàn[119]

Ngày sau nhảy xuống Tiền Đường

Nhờ ông Đình trưởng may nường tái sinh

Làm cho thiên hạ bêu danh

Đáp hiếu với phụ mẫu, duyên lành còn chi.

7

Mười lăm năm ong bướm đã đằng

Còn chi là phận nga hoàn khoe danh[120]

Rời lầu vàng bước đến lầu xanh

Khỏi tay Bạc Hạnh lại đành Từ vương[121]

Mặt mày dày gió dầm sưong

Thân chi bướm chán ong chường hỡi thân

Xem chừng qua chốn Đông lân

Lấy chuông vàng, khay bạc hộ thân theo mình

Nghĩ ai cam phụ với tình

Thiệt mình không biết hổ mình làm răng.

8

Kể từ phản giá xe loan

Đường tư thiết ngô tâm sở ái[122]

Từ những lúc lui về bắc hải

Việc ta lo bất khả lạc hồ[123]

Bấy nhiêu năm xiêu lạc giang hồ

Ngư hề biến hoá đến mô cũng chờ chàng[124]

Số đoạn trường bạn chịu đã an

Chàng về thủ hiếu cư tang mấy năm trời

Thương ai nước mắt nhỏ dài

Xuôi nên mái tóc mà lìa lòng tơ

Trăng thề còn đó trơ trơ

Bạn ơi, ớ bạn, làm ri sao đành.

9

Dẫu không thương cũng nghĩ chút tình

Lẽ mô phụ bạc duyên mình rứa răng

Lời nguyền thuỷ kiệt sơn băng[125]

Non cao tạc dạ đá bằng đề thơ

Thương ai sửng sửng sờ sờ

Cái tin cá đến, cái từ nhạn đưa[126]

Không nhớ hồi sớm đón chiều đưa

Bát nước dư chàng nhấm,

miếng mỹ thừa thiếp ăn.

Không nhớ hồi nguyện gió thề trăng

Trăm năm không bỏ đạo hằng này đâu

Đêm trăng thao thức trắng canh

Đâu trách ông tơ bà nguyệt hồi đầu không xe[127]

Để làm chi cách trở lỡ thì

Về xuân ta đợi bạn, sang hè bạn đợi ta.

IV

CÁCH CÚ

(HÒ XA CÁCH)

1

Đờn Bá Tử năm giây biếng khảy[128]

Chén cúc bồ [129] luỵ nhỏ tuôn rơi

Kể từ ngày cách trở hai nơi

Duyên ta nợ bạn bởi trời khiến đưa

Nào những khi khuya sớm đợi chờ

Xem trong tánh ngọc cũng vừa lòng châu

Chí lăm muốn những bắt cầu

Nào hay duyên thiếp vì đâu đeo sầu

Nghĩ như ta với bạn còn thiếu niên

Ngày xuân không lẽ ôm duyên ngồi chờ.

2

Thương phận gái chưa bao lăm tuổi

Hội đào nguyên quá buổi xuân xanh

Trách ông tơ sao khéo trảy cành

Dừng xe đổi chác

nên không thành nợ duyên

Giục cơn sầu gió thổi ngoài hiên

Kể ra trăm thảm nghàn phiền biết bao

Nghĩ niềm riêng thương nhớ buổi đầu

Canh khuya gió thổi ngọn đèn hắt hiu

Nỗi niềm tây ruột thắt trăm chiều

Đã mang phận bạc kêu thời với trời xanh.

3

Mền loan đêm những biếng nằm

Năm canh quặn thắt ruột tằm héo hon

Sầu tương tư đêm ngủ chẳng ngon

Nhớ mấy lời nguyện ước

thề non mà phiền

Nằm nghe giọng tiếng Đỗ Quyên[130]

Đêm năm canh khóc thảm

kêu phiền đà khổ chưa.

4

Ớ nường ơi!

Hồi tiền duyên nguyện ước non sông

Vì bấy lâu cách trở nên không đặng gần

Tình cờ mới gặp cố nhân

Nghĩ đi ngẫm lại nhớ bởi hồi tiền duyên

Chờ nhau kể đã mấy niên

Kể thời khóc lóc người đau phiền nỗi oan

Gặp ai đây đang lúc giữa đàng

Ái ân chưa phỉ dạ

sao chàng còn đợi mong.

5

Mối duyên nay bởi ông tơ dẫn lối

Chỉ hồng bà nguyệt chắp xe[131]

Tưởng nên chồng vợ ai ngờ cách nhau

Nói ra ruột thắt gan đau

Khổ đà thậm chí khổ

chờ nhau ri bớ trời.

6

Lời nguyền ước với sông hồ

Thấy ai rồi lại thêm thẹn với núi sông

Nguyện cùng nhau sinh tử chữ đồng

Mấy thu cũng đợi, mấy đông cũng chờ

Thiếp biểu chàng khoa bước đến

Thiếp biểu chàng còn hỡi thiếu niên

Đừng lo chi nợ nợ duyên duyên

Phận em là gái còn đợi quyền song thân

Tưởng là chắc chắn mười phân

Không hay nhợ đứt hỏng cần phao trôi.

7

Nhìn mặt nhau lòng đau như dao cắt

Đến rạng ngày kẻ bắc người đông

Còn chi mô bạn nhớ đợi mình trông

Cá trong bồn khó lội

chim trong lồng khó bay

Bạn với ta chưa đặng mấy ngày

Biệt ly trời rộng đất dày thấu chăng

Tưởng là tơ tóc xích thằng[132]

Cội kiều tùng vấn vít

dây cát đằng leo nhau[133]

Trời cao, cổ ngắn khó kêu

Thương nhau chi nhiều

nên bạn chịu cách phân

Đêm năm canh

nước mắt nhỏ chang chang

Vẳng nghe quốc khóc bên thềm u oa[134]

Bàng hoàng ngồi dậy bước ra

Hỡi con quốc nó kêu la sự gì

Bực mình chân chẳng muốn đi

Nghĩ thương con quốc tội thì phận ta

Gác tay nằm nghĩ sao chừ lẻ đôi

Nên quốc kêu la cũng thảm

nên mở lời kêu

Bớ quốc ơi! Lẻ đôi thời phải tầm đôi

Chớ buồn vì ai nên dạ lại buồn ?

Tư nhơn đỗ vật thêm buồn phận ta.[135]

8

Gió xuân giục giã tình xuân

Sầu riêng luỵ nhỏ lăn tăn hai hàng

Năm canh thức ngủ không an

Liếu lăng trong dạ bâng khuâng trong lòng

Lao xao như nhợ buông câu

Gẫm trong duyên nợ

khéo đèo bòng rứa duyên

Trai anh hùng chờ gái thuyền quyên

Bởi ai kết thảm trao phiền cho ta

Trêu ngươi chi bấy trăng già

Xuôi duyên tơ tóc hoá ra lạc loài.

9

Kể từ cách trở nợ duyên

Chàng sầu ba, bảy, thiếp phiền ngàn năm

Tư lương với bướm với ong[136]

Ngày ngồi tư tưởng đêm nằm thức thao

Dung nhan diện mạo tiêu hao

Gánh tương tư ai khéo đem trao cho mình

Bởi vì chút nợ ba sinh

Sự nầy vì nguyện sự tình chưa xong

Duyên sao chìm nổi long đong

Chữ tam thu nhất nhựt đau lòng biệt ly[137]

10

Thiếp nói với chàng một, hai

ba, bốn, năm

Chàng phân với thiếp sáu

bảy, tám, chín, mười

Gặp bạn đây trong đám mười mươi

Câu chung tình muốn thố lộ

sợ thế gian chê cười

Bởi phận nường bến nước mưòi hai[138]

Chẳng kém chi kẻ quốc sắc không thua chi tài

Người văn chương chẳng qua

chỉ vấn tơ vương

Trời xuôi đất định cuộc nhớ thương tình này

Buông lời hỏi thiệt nữ trinh

Bạn đà lăng liếu sự tình mô chưa.

11

Biệt ly nhứt nhựt tam thu tưởng[139]

Trực thị tam thu bá cảm sanh[140]

Bạn với ta đương lúc xuân xanh

Vì ai nên nỗi không thành thất gia

Mai còn sớm bảy chiều ba

Sợ e nhân thế xuân qua hoa tàn

Đường dài xuôi khó nổi hỏi han

Biết là thiếp có đợi chàng hay không

Tam thu hề, én bắc nhạn đông

Gánh tương tư bạn để nặng phần cho ta.

12

Thiên lý tương tư thiên lý mộng[141]

Nhứt phen tán tụ nhứt phen hoài[142]

Kể từ cách trở đường mai [143]

Gánh tương tư nặng trĩu biết ai bớt phần

Đau lòng thay kẻ đợi người trông

Đường quan sơn cách trở không thông sự tình

Hỏi trăng già sao khéo làm thinh

Xuôi nam xuôi bắc, hai đứa mình không xuôi

Làm cho duyên nợ tròng trèo

Chữ liếu lăng khôn giữ làm ri khó tề[144]

Nghĩ mình mà thảm cho mình

Vì ai nên nỗi duyên mình chưa vương

Tri nhứt triều nhi mễ hiệp tương[145]

Hay bởi vì căn số thiếp với chàng linh đinh [146]

Nghĩ ra trách phận giận mình

Sầu riêng trong dạ thảm tình biết bao

Thuyền quyên chừ cách anh hào [147]

Liếu lăng nỗi thiếp, lao đao nỗi tình

Buông lời kêu với nữ trinh

Ai xa mặc họ, hai đưa mình đừng xa.

13

Kể từ cách trở quan san

Thiếp bảy, ba sầu thảm,

chàng trăm ngàn nhớ thương

Bấy lâu chừ cách hai phương

Chàng dồi mài kinh sử,

thiếp náu nương cửa thiền

Nhớ hồi nguyện ước tiền duyên

Sao chừ ôm phận lỗi nguyền long đong

Hai ta thề nguyện dữ đồng

Nay đành lưu lạc duyên không đặng gần

Gặp ai đây ruột thắt từ tầng

Bắt tay xin hỏi

Em có nhớ hồi tiền duyên.

14

Tay phân tay, kẻ ở người đi

Đường quan sơn cách trở

chắc cô mi phiền hà

Tuy là đó cách đây xa

Trời xuôi ngó lại bạn gặp ta không mấy hồi

Biểu ai đừng trách đất, giận trời

Trảy cành bẻ ngọn lôi thôi sự đời

Câu chung tình khổ lắm bạn ơi

Nhớ những khi canh rau muối ớt

mỹ miều cùng nhau

Chàng ra về vắng trước quạnh sau

Gánh tương tư ai nỡ để cho nhau bẽ bàng

Ngồi sầu xàu héo dung nhan

Hay là nhìn xem phong cảnh

đẩy đưa tấm lòng sầu.

15

Mộng sầu bán chẫm mê hồ điêp[148]

Thức tận tam canh oán tử quy[149]

Tư lương một gánh nặng trì[150]

Vấn vương thời sợ tội, bỏ đi không đành

Chí lăm kết cỏ ngậm vành

Thương nhau cho trọn, tử sanh nhờ trời

Không phải người sớm đón, chiều đưa

Trăm năm giữ trọn một lời nước non

Đá mòn, nhân nghĩa không mòn

Trăng nghiêng có lúc, trăng tròn có khi.

16

Bạn chờ ta ba thương, bảy nhớ

Ta chờ bạn chừ chín thảm mười sầu

Đêm nằm luỵ nhỏ giòng châu

Thấm khăn, ướt áo khổ lòng biết bao nhiêu

Bởi vì tấm lòng riêng nửa tĩnh, nữa mê

Gió đưa đèn hạnh [151], luỵ rơi nhỏ dài

Thương ai, thương xác thương hồn

Nước mắt ra lai láng, dạ phiền lòng đau

Nguyện cùng ai chỉ thắm duyên hài[152]

Biểu bạn đừng quên những lời thề năm xưa

Lòng đây đau, lòng ai đó cũng đau

Trăm năm dù sóng dập, mưa dồi

Hai ta nhất quyết thành đôi vợ chồng.

                TẤT [153]

 

Bảo Đại thập lục niên

nhuận nhị ngoạt,

sơ tứ nhựt.

Tả nhơn

cựu Lý trưởng Hồ.

Tự ký.

(Bảo Đại năm thứ 16,

tháng 2 nhuần,

ngày mùng 4.

Người viết:

cựu Lý trưởng Hồ.

Tự ghi.)

Nguyên bản chữ Nôm

Người phiên âm:

VÕ VĂN XUÂN

IV

PHẦN PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1
BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA
PHƯỚC THUẬN XÔ

BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ

BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ2

 BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ2 3

 BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ2 34

 BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ2 345

 BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ2 3456

 BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ2 34567

 BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ2 345678

 BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ2 3456789

 BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ10

 BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ11

 BẢNG CHỮ NÔM “HUÊ TÌNH CA PHƯỚC THUẬN XÔ1112

PH

 

[1] Tức Phước Thuận, Phước Hậu, Phước Hưng, Phước Thái, Phước Hương.

[2] Theo gia phả tộc Phan Đà Sơn, Đà Ly nhị xã Phan tộc phổ chí ghi: “Vua nhà Trần gia khen rằng: mở mang khai khẩn đất đai, không phụ chức trách chỉ huy, giáo hoá nhân dân thành nề nếp xứng đáng với quyền nghi xử trí, ban tước “Thành hoàng tướng quân Thuận quốc công”. Xem Bản Phổ chí Đà Sơn, Đà Ly nhị xã Phan tộc phổ chí trong Văn hoá dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2008.

[3] Do cụ Xã Khoá 80 tuổi làng Phước Hưng cung cấp.

[4] Về ngôi  Miễu này nằm cạnh đàn thờ Thần Nông, nay đã tàn phế nhiều phần, trên các mái miễu có kiến trúc trang trí nhô lên như chiếc sừng trâu, giống các mái đình Đình Thần Nông làng Phong Lệ. (Xem ảnh kèm theo phần phụ lục sách này)

[5] Đá Bàn cờ: tại thôn Phước Thuận có một tảng đá, mặt tương đối bằng phẳng, tương truyền rằng, nơi đây vào các buổi chiều các tiên ông từ trời xuống ngồi đánh cờ, trông ngóng về phương Nam coi ngó. Nhân dân Ngũ Phước từ đó đặt tên cho tảng đá là đá Bàn cờ.

[6] Theo cụ Nguyễn Cương thôn Hoà Khương cung cấp.

[7] Ghi chép trong công tác điền dã năm 2000.

[8] Các thôn của xã Hoà Nhơn là: Diêu Phong (gồm Diêu Trì và Phong Tây), Trước Đông (gồm Trước Bàu, Đông Lai), Phước Hưng (gồm Đá Bạc và Phước Hưng), Thạch Nham, Phước Thái, Phú Hoà, Phước Hậu, Phước Thuận, Ninh An, Thái Lai và Hoà Khương.

[9] Theo Lịch sử Đảng bộ xã Hoà Nhơn. Nxb Đà Nẵng  2005.

[10] Hoà Vang huyện chí, Tú tài Trần Nhật Tỉnh tăng bổ, Nguyễn Đình Thảng dịch chú.

[11]  Như thôn, ấp của người Kinh, nơi cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

[12] Đây là vùng đất U Bò, tương truyền hưởng ứng hịch Cần Vương tại Quảng Nam, vùng rừng núi Vân Dương là nơi được cho là của “sách man” tức nơi các dân tộc thiểu số sinh sống, là nơi đầu tiên các sĩ phu yêu nước tại Quảng Nam tuyên bố thành lập Nghĩa hội Quảng Nam, trước khi kéo về Tân tỉnh tại Quế Lộc, Quế Sơn thiết lập căn cứ chiến đấu. (Chúng tôi chưa xác minh được sự kiện này).

[13] Xem Hoà Vang huyện chí, tài liệu đã dẫn.

[14] Đo được trong công tác điền dã tại thôn Phước Thuận xã Hoà Nhơn, huyện Hoà vang.

[15] Dây chìu: một loại dây leo màu trắng ngà, thân nhỏ như dây xanh, rất dẻo, nhựa màu hồng. Dùng cột, bó, thắt, kéo… rất tiện cho nhà nông khi lên núi đốn củi hoặc bó, cột tre cây, nhánh tre, đi lá, đi bổi, v.v…Dây xanh: một loại dây leo rất dẻo, thân màu xanh sậm, lớn bằng chiếc đũa ăn cơm, dùng cột, quấn rất chặc. Người dân thường dùng dây xanh đi củi, đi tranh, đi bổi, đi lá… trên núi, cột, bó lại, rất tiện ích.

[16] Nhất Đồng Nai nhì hai huyện (huyện Kim Sơn và Tiền Hải).

[17] Nhiều “trai cày, bọn cấy” đến Phước Thuận lao động cày – gặt – cấy rồi có vợ, lấy chồng luôn tại xã như bà Hương H., bà Thủ L…không về lại Quá Quê. Con trai làm rể như  ông Thủ G. ở Đà Sơn, ông Ba T. ở Hoà Xuân, ông K. ở Phong Lệ, ông D. ở làng Đông Phước…

[18] Hiện do Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cất giữ, chúng tôi chưa thể khai thác được toàn văn của bản khoán ước này.

[19] Xem ảnh phần phụ lục.

[20] Tiếp tục triều trước nhiều đời, năm Giáp thìn, bổn xã di dời đình, xây dựng lại theo hướng ……….nơi đất tốt. Ngày 9 tháng 8, giờ thìn thượng lương.

[21] Đà Châu: tức châu Đà Na là thung lũng Phước Sơn đại xã.

[22] Trong kháng chiến chống Pháp, làng Đông Phước, Nghi An thuộc xã Hoà Nhơn gọi chung là Thôn 2 Đông Phước. Nay là 2 phường thuộc quận Cẩm Lệ.

[23] Bên trái

[24] Đây là bài văn trong lễ tất niên cho một hộ gia đình, nếu lễ tại tại miễu, lăng người chủ lễ vận dụng lời khấn nguyện phù hợp.

[25] Dân gian vận dụng phwong thức nói lái trong tiếng Việt.

1 Bản khoán ước nguyên văn bằng Hán – Nôm và do ông Nguyễn Đình Thảng, nguyên giảng viên Khoa Ngữ  văn – Đại học Khoa học Huế dịch.

[26] Gò Chòi: từ triền ruộng hố Bạc làng Phước Sơn đại xã lên dương núi Phước Tường đi ra ngõ Đà Sơn chừng 2 km gặp Gò Chòi. Trên gò có cái chòi nơi quan quân, người dân qua lại có nơi nghỉ chân. Còn gọi là Chòi Mông (mông lung nhìn xuống xem chừng thú dữ, cướp đường…). Câu trên dân gian vận dụng phương thức lái trong tiếng Việt.

[27] Trong công tác điền dã về làng Phước Thuận (xã Hoà Nhơn), chúng tôi gặp văn bản chữ Nôm bình luận về nhân vật Thuý Kiều bằng văn xuôi. Qua văn bản cho biết họ rất quan tâm đến tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du, đặc biệt đánh giá nhân vật Kiều theo cách nhìn có đối chiếu vào các giềng mối, đạo đức  Nho gia đối với người phụ nữ.

[28] Người làng Phước Thuận kể rằng sách do cụ Hồ Đạm chép lại những bài ca do nam nữ thanh niên trong làng hát với nhau.

[29] Mở mắt ra nhìn mây (quyện trên) đồi núi, lòng thấy vui, mãn nguyện.

[30] Câu thơ của Thôi Hiệu (Trung Quốc) thời thịnh Đường.

[31] Cang thường: tức tam cang, ngũ thường theo Nho học. Tam cang là quân chi thần cang, phụ chi tử cang, phu chi thê cang (quân thần, phụ tử, phu phụ). Ngũ thường là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.

[32] Tuyền đài: tức cửu tuyền còn gọi là âm phủ. Con người sau khi chết về bên kia thế giới gọi là về với tuyền đài, nơi chín suối, xuống âm phủ.

[33] Luỵ: tức lệ (chỉ giọt nước mắt).

[34] Nường: như nàng.

[35] Ông tơ bà nguyệt: Do chữ: (tơ đỏ, tơ thắm, chỉ hồng, chỉ đỏ, chỉ thắm) do chữ Hồng Ty, Trương Gia Trinh (bên Tàu) có năm người con gái, muốn gả cho Đặng Nguyên Chấn mà không biết gả người nào. Ông mới dạy năm người con ông ngồi trong một cái màn mỗi người cầm một sợi tơ, mỗi sợi mỗi màu, còn Đặng Nguyên Chấn thì ở ngoài nắm được mối tơ của ai thì cưới người đó. Nguyên Chấn nắm được sợi tơ đỏ, nhằm người thứ ba đẹp hơn hết. Trong Cung oán có: Đang tay muốn dứt tơ hồng, Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.

[36] Kiến nghĩa bất vi: Trong câuKiến nghĩa bất vi vô dũng giã”. Thấy việc nghĩa mà không làm (không hành động).

[37] Mười hai bến nước: Theo Nho học quan niệm rằng con gái lớn lên có chồng gặp phải mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu. Mười hai bến đó là: công, hầu, khanh, tướng, sỹ, nông, công, thương, ngư, tiều, canh, mục.

[38] Cảm liễu: ý nói thương cảm người mình yêu. Tây đoài: hướng phía tây, đoài trong bát quái chỉ một phương hướng tây. Ở đây ý nói thương cảm người yêu nhìn về hướng tây mà tâm niệm không rời nhau.

[39] Chi tử vu quy: tức gả, đưa con gái đi về nhà chồng.

[40] Mướt mướt: tươi tốt. Ý nói con gái đã lớn, đẹp người rồi, phải lo mà lấy chồng.

[41] Ô danh nan thục: danh xấu xa khó chuộc được.

[42] Ý nói: có duyên nhau dù xa ngàn dặm cũng thường hay gặp mặt.

[43] Ý nói: không duyên nhau dù có đối mặt cũng không  yêu nhau được.

[44] Tam tùng: là học thuyết về đạo đức làm người của Nho giáo. Gồm: tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử.

[45] Xem tơ nhạn…

[46] Cang thường: tức tam cang, ngũ thường theo Nho học. Tam cang là quân chi thần cang, phụ chi tử cang, phu chi thê cang (quân thần, phụ tử, phu phụ). Ngũ thường là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.

[47] Trúc mai: hai loài cây trong bốn loài cây quý có những đặc tính riêng, thường gọi là “tứ quý”(mai, lan, cúc, trúc, cũng đọc là trước) mà người đời thường yêu trọng vì khí tiết, tư cách cho nên hay dùng để làm biểu trưng cho nghĩa bạn bè và tình vợ chồng. Trúc thân thẳng thường ví với bậc quân tử, lòng bao giờ cũng ngay thẳng. Mai có hai loài, một loài giống như trúc ở miền núi phía Bắc, to, cứng, thân thẳng. Ca dao có câu: Măng mai nấu với gà đồng, Chơi nhau một chuyến xem chồng về ai ? lòai nữa như cây mơ, hoa màu trắng, nhỏ là bạch mai, loại hoa đỏ là hồng mai, thứ hoa vàng là huỳnh mai. Hoa nở cuối mùa đông lạnh, các loài hoa khác không nở nên thường ví với tiết tháo người quân tử, không chịu a dua, lại còn ví với người thi đỗ đạt.

[48] Thiên lý giang sơn thiên lý nguyệt: Đất nước ngàn dặm, trăng soi ngàn dặm. Ý nói : sông núi rộng ngàn dặm, ánh trăng trải rộng trên sông núi.

[49] Ngũ canh sầu mộng ngũ canh kê: Suốt năm canh nghe gà gáy, buồn sầu không ngủ được.

[50] Sông Ngân, Ô thước: là một đoạn sáng lờ mờ về đêm giăng ngang trời, ta trông xa như một vùng nước nên gọi là sông Ngân (dãy Ngân hà). Ở đây ý nói như chức Nữ và Ngưu lang chờ nhau bên bến sông Ngân vào ngày 7 tháng 7 hằng năm. Điển chép ở sách Kinh sở tuế thời ký, rằng ở hướng đông sông Ngân hà có Chức nữ (cháu trời) thêu dệt rất giỏi, trời gả cho chàng  Khiên Ngưu lang (chàng dắt trâu) hoặc Ngưu lang. Chàng Ngâu. Từ khi có chồng, nàng Chức nữ biếng nhác bỏ nữ công, không thêu thùa nên trời  phạt bắt vợ chồng phải xa lìa nhau, mỗi năm chỉ gặp nhau vài giờ đêm mồng 7 tháng 7 (đêm thất tịch) tại bến sông Ngân hà . Trước khi hội ngộ có chim Ô thước (con quạ) đội đá bắt cầu sang sông Ngân. Đêm ấy, nhìn lên trời thấy bên sông Ngân hà có 2 ngôi sao gặp nhau trong ít lâu sau lìa nhau. Vào tiết thất tịch quạ đều sói đầu. Đến tháng 8 lại có những nùi tơ trắng bay từ trên mây xuống. Đó là Chức nữ buồn vì xa chồng mà xé khung cửi thả tơ ba

[51] Bà nguyệt: Do chữ Ông tơ bà nguyệt (tơ đỏ, tơ thắm, chỉ hồng, chỉ đỏ, chỉ thắm) do chữ Hồng Ty, Trương Gia Trinh (bên Tàu) có năm người con gái, muốn gả cho Đặng Nguyên Chấn mà không biết gả người nào. Ông mới dạy năm người con ông ngồi trong một cái màn mỗi người cầm một sợi tơ, mỗi sợi mỗi màu, còn Đặng Nguyên Chấn thì ở ngoài nắm được mối tơ của ai thì cưới người đó. Nguyên Chấn nắm được sợi tơ đỏ, nhằm người thứ ba đẹp hơn hết. Trong Cung oán có: Đang tay muốn dứt tơ hồng, Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.

[52] Hồi đầu: như lúc đầu, buổi đầu (phương ngữ).

[53] Hải thề, thề sơn: thề sông thề núi. Ý nói nhớ lời thề có sông có núi làm chứng.

[54] Mai liễu: hai loại cây mùa xuân thì tươi tốt. Tết ở Đông phương người ta thường dùng mai chưng trong nhà, biểu tượng một sự may mắn suốt năm. Nghĩa rộng: người chơi xuân

[55] Ngày ngày qua lại thường thấy mặt.

[56] Biết người, biết mặt, không biết được tấm lòng.

[57] Sắt cầm: hai loại đàn (của Trung Quốc), thường hoà thanh nhau. Ở đây ý nói tình yêu nam nữ.

[58] Thưng đường: cha mẹ. Ở đây chỉ người cha.

[59] Phi thị: chuyện chẳng phải; lâng bàng: hàng xóm , láng giêng.

[60] Vương hữu cố tri: người bạn cũ tốt bụng.

[61] Lời đoan: lời thề.

[62] Viễn xứ: xứ xa.

[63] Bất ngờ mà gặp lại bạn cũ.

[64] Vô văn hà đáo: không có thư đến.

[65] Kể từ một đêm băng qua cửa ải.

[66] Tiện (     ): ấy là, bớt việc, thuận, dễ, đái. Kẻ nịnh thông (đạt) chiếu (chỉ) lên vua hại người ngay.

[67] Tai (hoạ) tới nhiều lần.

[68] Điểu đạo: đường chim bay (đi thẳng cho nhanh).

[69] Vi hiếu sự quân: lấy lòng thảo thờ vua.

[70] Vĩ trung báo quốc: lấy lòng trung đền nợ nước.

[71] Chín chiều: như chín chiều ruột đau. Theo tích xưa, bên Tàu có một người thợ săn, một hôm đi săn trên rừng gặp một gia đình khỉ, người thợ săn giương cung bắn, trúng nhằm khỉ con, khỉ cha thấy thế nhảy đến ôm con vào lòng, liền bị một mũi tên của người thợ săn bắn hạ.   Thấy thế, khỉ mẹ hốt hoảng,  rơi từ trên cây xuống đất chết. Người thợ săn mang cả ba về nhà xẻ thịt. Khi mổ bụng khỉ mẹ, người thợ săn giật mình, khỉ không bị mũi tên nào nhưng ruột đứt thành chín khúc (đoạn). Người thợ săn nghĩ, có lẽ nỗi đau mất chồng, con đã làm cho ruột khỉ mẹ đau đứt thành chín khúc, ngã từ trên cây xuống. Về sau, người thợ săn gác cung không bao giờ đi săn nữa. Từ đó người ta dùng “ruột đau chín chiều” để chỉ nỗi đau khi phải lìa xa người thân. Ca dao: Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

[72] Kiều ngựa: ngồi trong kiệu trên lưng ngựa. Mai (     ) từng chiếc, từng cái, cái thẻ.

[73] Tư đương: đảm đương (công việc) một mình. (tư: riêng).

[74] Du Hổ: tên của một tướng nịnh.

[75] Hà mưu, hà kế: mưu gì, kế gì.

[76] Đã hãn: đã rõ.

[77] Nhân trung: người ngay.

[78] Đoạ mã: rơi xuống ngựa, ngã ngựa.

[79] Thúc điệt: chú cháu.

[80] Ước dứt khoát (đoạn, cắt đoạn, bán đoạn, đoạn tuyệt) trăm năm tình chồng vợ.

[81] Thuỳ tri: ai biết; nhất đán :một mãy may (nhanh như nháy mắt). Ai biết được trong nháy mắt chia biệt nhau.

[82] Oan: oan ức; Ương: tai ương. Gặp nạn oan ức.

[83] Ta: than ôi (ta thán, ta hồ). Than ôi! Vợ hiền! Than ôi! Vợi hiền.

[84] Mạng tảo vong: mạng chết sớm. (tảo: sớm; vong: chết).

[85] Bi ai: buồn đau.

[86] Phân minh: nói cho rõ; tự bã: chưa rời (cung kiếm được)

[87] Khứ: đi qua; dã nan: (ấy) khó.

[88] Tràng: ruột. Cắt đứt đoạn ruột. Ở đây còn có ý nói cắt đứt nghĩa cang thường. Cang thường gồm: quân chi thần cang, phụ chi tử cang, phu chi thê cang.

[89] Bán lộ: nửa đường; đồ trung: giữa đường. Ý nói: sự nghiệp mới nửa đường, chết cũng chết giữa đường.

[90] Cơ cầu: tạo hoá gây ra cớ sự nầy.

[91] Cả kêu: gọi lên một tiếng to:

[92] Đèn ba; tức đèn hoa. Do phạm huý vợ cả  vua Minh Mạng tên là Hồ Thị Hoa, sau khi Hồ Thị Hoa mất sớm, vua cha là Gia Long thương tiếc bèn ra chỉ dụ cấm không được đọc tên huý của bà. Do đó trong ca dao dân ca đất Quảng hoa thường đọc thành ba.Thanh Hoa=Thanh Hoá,Đông Hoa=Đông Ba…

[93] Tử hoàn: hoà lại, gởi lại, hoàn lại cõi chết.

[94] Ngũ lục xích: năm mươi sáu thước. Ngũ lục công thuộc về công lực, sức mạnh.

[95] Từ (phương ngữ): như từng (đoạn).

[96] Sơn trang: trang trại trên núi.

[97] Ông ơi: chỉ Hoàng tử (ấu chúa) con vua.

[98] Tam cương: ba giềng mối của Nho học, gồm: quân thần, phụ tử, phu phụ.

[99] Ác vàng: trời sắp sáng # ác tà.

[100] Thiên lý niệm: ngàn dặm nhớ = dù cách xa ngàn dặm (nhưng) vẫn nhớ.

[101] Một phen mưa gió một phen sầu.

[102] Chữ đồng: ý nói đồng một lòng.

[103] Kiều nhi: nhân vật Thuý Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.

[104] Vô đoan: không đoan chắc.

[105] Mộng lý căn duyên: đau buồn dai dẳng đường duyên nợ.

[106] Liễu bạc mạng: ý nói mạng con gái mong manh, xui xẻo; cầm chung: đàn cầm; oán hận trường: hận dài ngày. Ý nói rằng: Thân gái không may (như) tiếng đàn cầm (cất lên) nỗi oán hận dài triền miên.

[107] Tương (phương ngữ): như tuông.

[108] Sự hoàn chi hậu: việc trả về sau. Sau sự việc Hoạn Thư đánh ghen, Thuý Kiều bỏ lên chùa, hẹn sẽ trả nợ nầy vào một ngày nào đó về sau.

[109] Ba năm cải táng:  dân gian xứ Quảng quan niệm rằng người chết bất đắc kỳ tử chôn sau ba năm,  phải dời mộ, mãng tang, xây mộ cố định, vĩnh viễn.

[110] Hoàng kim ngân: Từ Hải hoàn trả vàng bạc (tiền) cho Tú bà chuộc Kiều ra, kết duyên chồng vợ. Thành song: thành đôi.

[111] Sự sống như sự chết, sự còn như sự  không (vong: mất).

[112] Đáo xứ bình minh: trở về quê sáng sủa; nan tấn bộ: khó bước tới, khó về quê. Kiều ra khỏi Thanh lâu, chồng chết (Từ Hải) trở về quê cũng khó khăn.

[113] Dung thân ba hạ: dung thân ba năm (cư tang ba năm) đợi ngày mãn tang (hy vọng) đời sẽ sáng sủa hơn

[114] Hổ ngươi: xấu mặt.

[115] Đình trưởng: ở đây chỉ xóm trưởng một xóm chài.

[116] Ô danh nan thục: danh bị bêu xấu khó (có thể) chuộc lại được.

[117] Tú bà, Mã Giám Sinh: hai nhân vật trong truyện Kiều của Nguyễn Du.

[118] Chết cũng tên ấy, chưa chết cũng tên ấy.

[119] Lấy chữ hiếu đua tranh với thanh lâu (hoan nhàn: chỉ nơi ăn chơi). Ý nói dừng lợi dụng chữ hiếu mà làm một thân sành ăn chơi.

[120] Nga hoàn: con ngỗng tốt.

[121] Từ vương: tức Từ Hải.

[122] : riêng; thiết: nghĩ; ngô: ta; tâm: lòng; sở: sửa; ái: thương. Nghĩ lo riêng thương cho phận mình.

[123] Lạc hồ: vui (ôi). Bất khả lạc hồ: không thể vui được.

[124] Ngư: con cá.

[125] Thuỷ kiệt sơn băng:  có ý rằng biển cạn núi lở.

[126] Nhạn đưa: Điển Tô Võ đi sứ  Hung nô, có nói lời bất bình, Hung nô giận bắt chăn dê nơi Bắc Hải không cho về Hán. Về sau khi Hung nô hòa với Hán, Hán hỏi tô võ, Hung nô nói chết rồi. Có mưu thần là Thương Huệ dặn sứ sang nói với Hung nô rằng: Tô Võ chăn dê ở bể bắc, bắt được con nhạn xé áo lụa chép thơ buộc chân nhạn, thả bay về Hán. Vua Hán bắn được nhạn, biết Tô Võ còn sống, Hung nô ngỡ thật, bèn cho Tô Võ về Hán. Bởi đó, thơ nhạn là thư tín, thư từ, thông tin nhau cho biết.

[127] Ông tơ bà nguyệt: tức Nguyệt lão. Nguyệt lão tức Nguyệt hạ lão nhân (ông lão dưới trăng) . Điển viêt: Vi Cố đời Đường khi trọ ở Tống Thành, một đêm trăng đi dạo chơi có gặp một ông lão ngồi tựa lưng vào một cái túi lớn, trong túi đựng đầy xích thằng (tơ đỏ) đang hướng về phía măth trăng kiểm sách. Vi Cố hỏi, ông lão trả lời rằng tơ đỏ dùng để buụoc chân những đôi nam nữ sẽ nên vợ nên chồng, cho dù hai người có ở xa nhau, không cùng quê quán nhưng chỉ đỏ buộc chân lại, họ sẽ ở với nhau hoà thuận. Một hôm Vi Cố vào chợ có bà già chột mắt dắt theo đứa bé ba tuổi. Ông lão chỉ đứa bé bảo với Vi Cố: Đứ bé kia là vợ của anh. Vi Cố giận mài con dao con, bảo đầy tớ tìm giết đứa bé đi. Người đầy tớ y lệnh rồi chạy trốn. Mười bốn năm sau quan thứ sử Tương Châu là Vương Thái gả một người con gái cho Vi Cố làm vợ. Người con gái có nhan sắc đẹp, giữa lông mày có trang điểm một đoá hoa màu vàng. Vi Cố hỏi. Người con gái bảo thuở bé phải cõng địu, một hôm bà vú họ Trần bế vào chợ bị đứa cuồng tặc đâm phải…Vi Cố lại hỏi xem bà vú họ Trần có chột mắt không. Người con gái bảo có. Vi Cố kể lại việc trước kia cho cô gái nghe, hai người càng kính yêu nhau bội phần.

Nguyện cùng Nguyệt lão hỡi ông

                                Trăm năm cho vẹn chữ tùng mới an. (Lục Vân Tiên)

[128] Bá Nha: chỉ việc gặp bạn tri kỷ, tri âm. Theo điển Tàu Lã thị Xuân thu, Bá Nha thời Xuân thu là người giỏi đàn chơi thân với Chung Tử Kỳ là người sành nghe tiếng đàn. Chung Tử Kỳ chết, Bá Nha đập đàn không gảy nữa, vì cho đời không còn ai hiểu tiếng đàn của mình.Theo điển trên, Bá Nha làm quan Thượng Đại phu nước Tống, nhân khi đi sứ nước Sở về, tới bến sông Hàn Dương, thấy đêm trăng đẹp, gió sông mát bèn lấy đàn Kìm ra gảy. Chung Tử Kỳ đi đón củi trong rừng về ngang qua đó, đừng lại nghe. Bá Nha đang gảy, bỗng đàn đứt dây, nghĩ rằng có người đang rình nghe. Nghĩ đoạn bèn cho quân tìm kiếm, bắt được Tử Kỳ. Tử Kỳ đến trước Bá Nha kêu:

– Xin đại nhân chớ nghi lầm tôi, tôi là người đốn củi thấy đại nhân đàn hay nên dừng lại nghe mà thôi.

– Lẽ đâu một tên tiều phu lại biết thưởng thức đàn ?

– Đại nhân nói vậy là lầm. Thánh nhân có câu: Hễ trong nhà có quân tử thì ngoài cửa có quân tử đến. Nay đại nhân khinh chỗ núi rừng nầy không người biết nghe đàn, biết đâu được đêm khuya canh vắng nơi sông nầy chẳng có khách biết thưởng thức tiếng đàn của đại nhân.

– Vậy ta đàn bản gì đó ?

– Bẩm, đại nhân gảy bài “Đức Khổng Tử than tiếc thầy Nhan Hồi”.

Bá Nha liền đứng dậy mời Chung Tử Kỳ ngồi cùng mình đàm đạo về âm nhạc. Hai người nói chuyện rất tương đắc, Bá Nha ôm đàn sửa dây, nghĩ mình ở nơi non cao, gảy một bản đàn. Chung Tử Kỳ khen: “Hay! nghe ra thấy ý đại nhân vòi vọi ở chốn non cao!”.Bá Nha lại gảy khúc nữa, vừa gảy vừa tin tưởng mình ở trên mặt nước chảy. Tử Kỳ ca ngợi:”Thiệt hay! Chí đại nhân cuồn cuộn ở nơi nước chảy!”. Hai người nói chuyện suốt đêm. Sáng hôm sau Tử Kỳ định ra về, Bá Nha lưu lại, mời theo mình tới kinh cùng sống, Tử Kỳ than:”Tôi còn cha mẹ tuổi đã già không lẽ bỏ đi xa đặng”.Hai bên hẹn nhau sang năm, cũng ngày nầy sẽ gặp nhau lại trên khúc sông này và chia tay.

Đúng hẹn sang năm sau, Bá Nha trở về thăm nhà, ghé lại nơi đã hẹn, ôm đàn gảy. Không thấy Tử Kỳ đến! Tiếng đàn ai oán bi thương, Bá Nha buồn rầu, mới hay bạn tri âm đã chết! Đến trước mồ bạn ở bên sông, Bá Nha bày đồ tế lễ lăn khóc thảm thiết, đoạn lấy đàn ra gảy một bài điếu, gảy xong Bá Nha đập tan cây đàn, thề trọn đời không gảy nữa vì trên đời chẳng có ai là tri âm.

[129] Ý nói ly rượu ngon.

[130] Chim Quyên: chim quốc, “tử quy” hay “Đỗ Quyên“, “Thục đế” , các nhà văn, thi sỹ thường dùng chữ quyên để nói lên cảnh xa nhớ quê nhà hay nhớ về cảnh cũ. Cũng dùng để chỉ mùa hạ, vì mùa nầy có chim quốc kêu. Trong Cung oán ngân khúc có: Ai ngờ tiếng quyên kêu ra rả , Điệu thương xuân khóc ả sương khuê.

[131] [131] Ông tơ bà nguyệt: tức Nguyệt lão. Nguyệt lão tức Nguyệt hạ lão nhân (ông lão dưới trăng) . Điển viêt: Vi Cố đời Đường khi trọ ở Tống Thành, một đêm trăng đi dạo chơi có gặp một ông lão ngồi tựa lưng vào một cái túi lớn, trong túi đựng đầy xích thằng (tơ đỏ) đang hướng về phía măth trăng kiểm sách. Vi Cố hỏi, ông lão trả lời rằng tơ đỏ dùng để buụoc chân những đôi nam nữ sẽ nên vợ nên chồng, cho dù hai người có ở xa nhau, không cùng quê quán nhưng chỉ đỏ buộc chân lại, họ sẽ ở với nhau hoà thuận. Một hôm Vi Cố vào chợ có bà già chột mắt dắt theo đứa bé ba tuổi. Ông lão chỉ đứa bé bảo với Vi Cố: Đứ bé kia là vợ của anh. Vi Cố giận mài con dao con, bảo đầy tớ tìm giết đứa bé đi. Người đầy tớ y lệnh rồi chạy trốn. Mười bốn năm sau quan thứ sử Tương Châu là Vương Thái gả một người con gái cho Vi Cố làm vợ. Người con gái có nhan sắc đẹp, giữa lông mày có trang điểm một đoá hoa màu vàng. Vi Cố hỏi. Người con gái bảo thuở bé phải cõng địu, một hôm bà vú họ Trần bế vào chợ bị đứa cuồng tặc đâm phải…Vi Cố lại hỏi xem bà vú họ Trần có chột mắt không. Người con gái bảo có. Vi Cố kể lại việc trước kia cho cô gái nghe, hai người càng kính yêu nhau bội phần.

Nguyện cùng Nguyệt lão hỡi ông

                                Trăm năm cho vẹn chữ tùng mới an. (Lục Vân Tiên)

[132] Xích thằng: Xem chú thích Ông tơ Bà nguyệt.

[133] Xem…..

[134] Quốc khóc: chim quốc, “tử quy” hay “Đỗ Quyên“, “Thục đế” , các nhà văn, thi sỹ thường dùng chữ  quyên để nói lên cảnh xa nhớ quê nhà hay nhớ về cảnh cũ. Cũng dùng để chỉ mùa hạ, vì mùa nầy có chim quốc kêu. Trong Cung oán ngân khúc có: Ai ngờ tiếng quyên kêu ra rả , Điệu thương xuân khóc ả sương khuê. Trong thơ có: …Ấy hồn Thục đế thác bao giờ. Năm canh máu chảy đêm hè vắng. Sáu khắc hồn tang bóng nguyệt mờ .Có phải tiếc xuân mà đứng gọi. Hay là nhớ nước vẫn nằm trơ. Đêm đêm ròng rã kêu ai đó. Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.

[135] Tư  nhơn đỗ vật: nhớ người giống như vật nhớ nhau.

[136] Tư lương : lo nhớ.

[137] Tam thu nhứt nhựt: ba năm mà trông nhanh như chỉ một ngày. Trong câu “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”

[138] Quan niệm của Nho học, con gái lớn có chồng gặp phải mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu. Mười hai bến đó là: công, hầu, khanh, tường, sỹ, nông, công, thương,ngư, tiều, canh, mục.

[139] Một ngày tưởng như  xa nhau ba năm.

[140] Nhìn ba năm tưởng như sống với nhau một trăm năm.

[141] Xa nhau ngàn dặm cũng mộng tưởng.

[142] Một lần tan hợp một lần nhớ.

[143] Chỉ đường tình trắc trở (như đường dê, dấu thỏ).

[144] Liếu lăng: chỉ sự quấn quýt nhau (khong đoan chính).

[145] Biết một cái trã (nồi) cùng góp chung gạo. Ý nói góp chung gạo thành đôi vợi chồng.

[146] Từ cổ như lênh đênh.

[147] Anh hùng, hào kiệt.

[148] Bán chẫm: nghiêng gối; mê hồ điệp: say mê trong giấc mộng. Có ý rằng buồn rầu ôm gối say mê trong giấc mơ (mộng).

[149] Oán: ai oán, oán giận; tử quy: mối tình con. Có ý rằng giận cho mối tình bị trúc trắc.

[150] Tư lương: nhớ, tương tư riêng, buồn riêng. Nặng trì: (phương ngữ) như nặng trịch, nặng lắm.

[151] Như vườn hạnh. (Gió lùa vườn hạnh trăng soi).

[152] Chỉ thắm: như dây thắm, chỉ việc xe duyên vợ chồng. Xem Cht Nguyệt lão xe tơ . Trong Tây Sương  của Lý Văn Phức có: Nhân duyên sao khéo hẹn hò

                                                          Rắp đem chỉ thắm xe cho Trịnh Hằng.

[153] Tất: hết.

MỤC LỤC

  Lời nói đầu

           Sơ lược sự hình thành làng Phước Thuận

  1. Thời kỳ đầu: Phước Sơn ngũ xã … 9
  2. Phước Thuận đến trước cánh mạng tháng Tám 1945 … 17
  3. Từ 1945 – 1975 …  18

           Điều kiện tự nhiên

  1. Địa hành: núi đồi, sông, suối …  20
  2. Điều kiện thời tiết, khí hậu thuỷ văn …  24
  3. Đất đai thổ nhưỡng …  25
  4. Phát triển kinh tế nông nghiệp … 28

Văn hoá, làng Phước Thuận

  1. Các thiết chế văn hoá: đình làng, miếu xóm…35
  2. Khoán ước làng Phước Sơn …  62
  3. Sinh hoạt văn nghệ dân gian …  68
  4. Huê tình ca Phước Thuận xã … 70
  5. Huê tình ca …  80
  6. Lý Mã Hiền đoạn … 93

III. Kiều tích ca …  109

  1. Cách cú …  123

 Phụ lục

  1. Bảng chữ Nôm Hoa tình ca …  145
  2. Một số sắc phong đình, miễu…của lànglàng   187
  3. Một số thần vị, đồ thờ  thời Minh Mạng   195
  4. Một số đồ dùng gia đình    202
  5. Di sản Hán Nôm     210
  6. Ảnh làng Phước Thuận    213