Tác giả Phạm Thông

Tác giả Phạm Thông - Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam

PHẠM THÔNG

– Họ và tên Phạm Thông
– Sinh ngày: 12 tháng 5 năm 1951
– Quê quán: làng Tỉnh Thuỷ xã Tam Thanh, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
– Thoát ly tham gia kháng chiến năm 1965, tại Ban Tuyên huấn Khu 5.
– Huân chương Kháng chiến hạng Ba
– Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Tp Tam Kỳ.
– Giải thưởng: Nhiều giải thưởng văn học và báo chí Quảng Nam

Tác phẩm:

Thơ:

Lời của Cát – NXB Đà Nẵng
Xin giữ chút tình – NXB Hội Nhà văn

Bút ký, truyện ký:

Cát đỏ – NXB Đà Nẵng
Ám ảnh Vùng Đông – NXB Văn học
Những bình thường lấp lánh – NXB Hội Nhà văn
Tam Kỳ thời lửa đạn – NXB Văn học
Núi Chúa Hòn Rơm – NXB Văn học
Núi Thành Đất và người kiên trung – NXB Đà Nẵng
Con của biển – NXB Hội Nhà văn
Đất nước và Gia tộc – NXB Hội Nhà văn

Tác phẩm nghiên cứu:

Làng xã xưa trên địa bàn Tp Tam Kỳ – NXB Hội Nhà văn (in chung 4 tác giả)

*

Gia đình trụ bám

Một phụ nữ đã đứng tuổi lang thang khắp các làng xã dọc thượng nguồn sông Rù Rì tìm lại gốc gác của mình. Chị gấp gáp phân trần với nhiều người trên đường đi tìm kiếm: Tên mình là Phan Thị Thủy, con của ông bà Minh. Gia đình đông anh em, nhưng chị chỉ nhớ ba người: Cả Minh, Hai Sương và một em trai tên là Năm. Ở ven hóc núi, hình như lúc đó không có nhà cửa chi lớn. Chạy giặc, nay ở hang đá này mai ở mé núi khác, chị không thể nhớ rõ tên làng, tên xóm. Ba chị người họ Trần, ông hay mặc bộ đồ đen, đội mũ tai bèo, mang túi xách bằng vải, thường đi vắng. Đặc biệt, mấy chục năm nay luôn văng vẳng bên tai chị lời mẹ dặn trước lúc chia ly: “Con ơi! Con có đi đâu thì cũng nhớ nhà mình ở gần sông Rù Rì”

Những thông tin sơ sài ấy không thể giúp chị tìm lại được người thân đã mất hút bốn chục năm nay. Người xe thồ hết sức tận tình đưa chị đi lại. Bù vào đó chị phải trả công mỗi ngày đến năm trăm ngàn đồng. Đi riết, cạn túi chị đành phải quay lại Nam bộ với tâm trạng buồn đau.

Mấy ngày sau, cái tin người phụ nữ đi tìm lại cha mẹ, gia đình được lan truyền. Tin ấy đến tai bà Bằng người làng Trung Lộc, Quế Minh. Bà linh cảm: “Cô Thủy kia có khi là con của ông Minh họ Hồng. Năm 1969, ở Rừng Già – Châu Sơn, ông Minh có một đứa con gái độ sáu bảy tuổi bị thương, lính Mỹ đưa lên trực thăng chở đi đâu đó rồi mất tích. Nhưng tại sao nó lại họ Phan?”. Trời đã sắp tối, trong tâm trạng bồn chồn hoài nghi, bà chống gậy lần đến nhà Cả Minh:

– Mầy có biết cái tin cô Thủy về làng tìm người thân chưa. Theo tau, mày phải đi hỏi lại cho kỹ tin này. Tau nghi cô Thủy mà người ta nói là con Ba – đứa em thất lạc của mày. Mặc dầu cô ấy họ Phan, lại còn cha là người họ Trần nữa, nhưng tau vẫn cứ nghi. Thời buổi chiến tranh loạn lạc thì chuyện chi cũng có thể xảy ra. Biết đâu phước nhà xuôi khiến anh em bay được gặp nhau.

Bà Bằng báo tin. Là tin lành, nhưng sao người Cả Minh cứ run bắn lên. Anh tưởng chuyện đứa em thương yêu đã bị cánh cửa thời gian khép chặt từ cái ngày xa xăm ở góc Rừng Già kia. Trong tâm trí Cả Minh, bé Ba như một cánh chim thu nhỏ dần, nhỏ dần chỉ còn lại một dấu chấm hỏi quặn đau, xoáy sâu vào không gian ký ức đời mình. Ba chỉ còn là cái tên trong gia phả họ Hồng làng Trung Lộc, được Minh thường nhắc tới trong những ngày giỗ cha mẹ. Đêm ấy, Cả Minh không thể chợp mắt. Hình ảnh đứa em bé bỏng, từ lâu mất hút trong biển đời loạn lạc và những câu chuyện về một thời bi tráng đã phôi pha theo tháng năm tất bật đời thường. Tất cả đã được cô đặc, khu trú trong một góc heo hút đâu đó của miền thương nhớ. Đêm nay, từ nơi sâu thẳm tâm hồn Cả Minh, những mắc xích thời gian chứa đầy cay đắng ở phía chân núi Rừng Già năm ấy bỗng trỗi dậy mãnh liệt, hiển hiện lên như chuyện vừa xảy ra trong ngày hôm qua. 

Vào độ mùa thu năm 1964, Cách mạng về giải phóng làng Trung Lộc, xã Sơn Lộc nay là xã Quế Minh – quê Cả Minh. Ông Minh (cha của Cả Minh) trông mong cách mạng về đã từ rất lâu. Nay quê hương được giải phóng, ông liền tham gia làm Nông hội xã, vận động nông dân hăng hái sản xuất đóng góp nhân tài vật lực cho công cuộc kháng chiến. Sau hơn một năm, tháng 11 năm 1965 địch tràn tới lấn chiếm lại Sơn Lộc. Ông Minh dẫn vợ, bốn con chạy lên xã Sơn Long, dựa chân núi Rừng Già – Châu Sơn sống bất hợp pháp với giặc. Trong những năm 1965-1966, Châu Sơn còn khá yên, ông dựng túp lều cho vợ con tá túc. 

Đầu năm 1967, lính thủy đánh bộ Mỹ đến chiếm đóng Cấm Dơi, Hòn Chiêng, Dương Là, Dương Trúc, Lạc Sơn… và cả trên đỉnh núi Rừng Già – Châu Sơn. Vùng căn cứ Châu Sơn bị kẻ địch chà xát khốc liệt. Lính Mỹ từ các cao điểm thấy bóng người thấp thoáng ngoài đồng lập tức nã DKZ, cối cá nhân, quét đại liên. Nhiều người chết, tay chưa rời cây cuốc, cái liềm. Nhà cửa cháy năm bảy lần, trâu bò chẳng còn, làng xóm xác xơ. Chúng quyết dùng bom đạn đánh bứt người dân ra khỏi vùng giải phóng. Chúng còn thực hiện chính sách “tát nước bắt cá”, cho máy bay trực thăng càn tới xúc hết dân đưa vào khu dồn để cắt đứt chỗ dựa của đối phương. Đói khổ, chết chóc khiến người dân phải tìm nơi lánh nạn. Trong hoàn cảnh hỗn mang ấy, nhiều người tìm đường sống, lại phải chết hết sức thảm thương. Vào một buổi sáng, lính Mỹ càn vào Châu Sơn đốt sạch nhà cửa, lùa dân vào khu dồn. Gia đình ông Cán bị chúng buộc phải gồng gánh đồ đạc, chạy xuống khu dồn Lạc Sơn. Khi ngang qua “đồng Bắc” nằm ở chân Hòn Chiêng, lính Mỹ trên đồn bất ngờ xả đại liên, bắn DKZ giết cả năm người nhà ông ngay giữa cánh đồng, chỉ còn sót lại một mình Cả Cán. Anh bị thương, nằm tại chỗ, sau đó nhờ dân cứu sống. 

Nằm trong cái thế kẹt bời bời lửa đạn, ông Minh vẫn quyết tâm động viên bà Minh nắm níu bầy con nhỏ cùng nhân dân Châu Sơn bám trụ tại vùng giải phóng. Có lúc địch đổ quân bao vây, ông bà phải bế, dắt các con chạy vào núi lẩn trốn đôi ba ngày, đói vàng mắt. Địch rút quân, họ lại quay về. Ban đêm, lựa lúc vắng tiếng pháo thì ra đồng gặt mót mấy thửa ruộng chuột phá gần sạch để có đôi hạt thóc nấu cháo cho con. Cuộc sống hết sức cùng cực. Đứng trước sự sống và cái chết vô cùng mong manh vậy đó, nhưng như quy luật sinh tồn bà Minh vẫn sinh nở thêm được thằng Năm, thằng Sáu tại Châu Sơn. 

Tháng 11 năm 1969, trong một trận Mỹ đổ quân càn quét, bà Minh còn ở cữ, không thể chạy vào núi như những lần trước, đánh liều cùng năm đứa con ở lại “hợp pháp” với địch. Một quả M79 của Mỹ nổ ngay sân nhà, bé Ba con bà bị thương ở cánh tay, máu ra quá nhiều. Một lính Mỹ tốt bụng bế em vào nhà băng bó, điện trực thăng chở đi. Bà Minh chỉ kịp gọi với theo: “Con ơi! Có đi đâu cũng nhớ nhà mình ở bên sông Rù Rì. Về mà tìm lại nghe con”. Từ đó gia đình biệt tin bé Ba… 

Cả Minh dần lớn khôn theo năm tháng chiến tranh gian khổ. Cả bắt đầu theo cha tập tò tham gia công tác. Anh được các chú thu nhận làm giao liên xã, được phát khẩu súng Cacbin mang thòng gần chấm đất. Cả đang hăng hái công tác thì địch tập kích bất ngờ ban đêm vào xóm Gò Đu giết chết ông Minh cùng với mười một người khác tại các nhà bà Thuyền, bà Trí, bà Dương. Đêm ấy, máu thấm đỏ làng Châu Sơn cùng tiếng kêu ré thất thanh của bầy con trẻ… 

Giữa cuộc chiến đầy rẫy sự trắc trở khốn cùng, ông Minh là trụ cột của gia đình đã bị đốn ngã. Bà Minh như người mất hồn. Nhưng trong nỗi đau tột cùng, bà cố gượng dậy để giữ cho được mấy đứa con còn lại. Chưa đến lệ làm tuần bốn chín ngày cho chồng thì tai họa lại ập tiếp tới gia đình bà Minh. Con Tư sốt rét ác tính, không có thuốc chữa. Bà nhìn con chết tức, kêu không thấu trời… 

Ác liệt chồng lên ác liệt. Tại thung lũng Quế Sơn lại xuất hiện tiếp mối họa “lính Trâu Điên”. Đấy là đại đội biệt kích Mỹ vô cùng tàn bạo. Một đêm, chúng đột kích vào làng Trà Đình, Sơn Thắng bên cạnh xã Sơn Long tàn sát 16 người dân vô tội của 5 gia đình trụ bám. Trong những năm 1965 – 1966 tình hình còn dễ thở hơn, mỗi lần địch càn tới, bà Minh bỏ mấy đứa nhỏ vào hai cái rổ phân, quàng gióng gánh chạy lánh sang các làng bên. Nhưng bây giờ thì khác. Tầu rọ, tầu gáo quần sát ngọn cây phát hiện lập tức xả súng bắn chết ngay. Vì thế, dù là lính Trâu Điên ập đến thì bà Minh cũng phải kẹp cứng mấy đứa nhỏ nằm dưới hầm, phó mặc tính mạng của cả gia đình cho sự may rủi. Cuộc sống của người dân tại vùng giải phóng bị cuộc chiến đẩy đến tột đỉnh khốn cùng. Nhưng bà Minh vẫn nhất quyết làm theo ý nguyện của chồng. Bà luôn nhớ câu nói của ông Minh: “Còn một người dân là vùng giải phóng còn hơi thở cuộc sống. Cách mạng rất cần dân. Dẫu trong hoàn cảnh nào thì gia đình mình cũng quyết trụ bám đến cùng”. Và bà tiếp tục gạt nước mắt, thực hiện ý chí son sắt của người chồng đã chết thảm dưới nòng súng của giặc. 

Năm 1972, bộ đội sư đoàn 2 tiến công tiêu diệt đồn Cấm Dơi, giải phóng toàn bộ thung lũng Quế Sơn. Các trung đoàn 38, 31 sau khi công đồn, lui về đóng tại Sơn Long. Bọn địch đánh hơi, cho máy bay thả bom, nã pháo băm nát xóm làng nhằm hủy diệt lực lượng đối phương. Một quả pháo 255 ly nổ làm sập hầm nhà bà Minh. Các đồng chí bộ đội C15 thuộc trung đoàn 38, chạy tới đào hầm cứu người. Nhưng không được nữa rồi. Bốn người: Bà Minh, thằng Sáu, chị Dũng – du kích và một bà già hàng xóm đã chết kẹp trong hầm. Một anh bộ đội mấy hôm trước thường ở nhà bà Minh, biết bà có đông con và thuộc tên từng đứa. Anh giục: Mình đào nhanh lên, dưới hầm còn hai đứa nhỏ nữa. Con Hai, thằng Năm chưa tìm thấy. Các anh tiếp tục cào bới, lưỡi cuốc va vào đầu một em bé đang vùi dưới lớp đất. Các anh vội vàng dùng tay bới tiếp. May mà lưỡi cuốc chỉ va nhẹ làm tróc một miếng da ở đỉnh đầu. Các anh la to: “Bé này còn sống. Còn chảy máu mà”. Anh Phạm Xuân Trường – người Thanh Hóa, đại đội trưởng C15 vội gọi y tá hô hấp tại chỗ rồi khiêng Sương chạy lên bệnh xá dã chiến của sư đoàn. Hai Sương được cứu sống…Thằng Năm thì vì hầm quá chật, nó chạy sang nấp ở hầm nhà khác nên thoát chết. 

Đau thương chồng chất đau thương. Trong bốn năm nhà Cả Minh chết bốn người, mất tích một người. Ông bà Minh không còn, Cả Minh vừa lo công tác vừa thay ba mẹ chăm sóc hai em. Hai Sương đã đủ lớn để lăn lộn với nắng với mưa, luồn lách tầu rọ, tầu gáo chui vào rừng, vào rẫy hái rau tầu bay, đào củ chuối, mót sắn… nuôi thằng Năm. Cả Minh cũng dành gạo tiêu chuẩn đem về cho hai em. Ba anh em bám víu nhau sống lây lất qua ngày. 

Từ tháng 11 năm 1965, dân Sơn Lộc chạy lên Châu Sơn – Sơn Long khoảng ba mươi gia đình. Người Sơn Lộc được chính quyền cách mạng xã Sơn Long bố trí sống quây quần trong cùng một xóm. Tình cảm giữa bà con Sơn Long, Sơn Lộc trong lúc này là sự cố kết chí hướng; là sự chia sẻ gian khổ, hy sinh, động viên nhau vượt qua cuộc chiến. Nhưng con người chứ đâu là sắt đá. Ác liệt dài ngày, nhiều người chịu không nổi, giao động bỏ chạy trở lại quê – nơi địch đang kiểm soát. Đến thời điểm này, dân Sơn Lộc lên trụ bám tại Sơn Long chỉ còn có mười bốn hộ, trong đó có ba đứa con mồ côi của ông bà Minh. Bà Sa là dân bản địa Châu Sơn đã kết thân và đùm bọc gia đình ông bà Minh trong suốt mấy năm nay. Nay ông bà Minh đã mất, bà Sa kéo luôn con Sương, thằng Năm sang ở nhà bà. Gọi là nhà, chứ thực ra cả làng Châu Sơn chỉ còn lại vài bức tường đổ. Địch càn đến đốt phá sạch trọi. Nhưng, chúng đốt nhà to dân che nhà nhỏ; chúng đốt nhà nhỏ dân che lều để trú tạm gió mưa. Mấy năm nay, dân Châu Sơn coi cái hầm là nơi để dung thân. Tất cả cây cối, gạch đá đều tập trung xây dựng hầm. Như cái thằng Năm, bà Minh sinh nó đã bảy năm rồi mà có mấy đêm được ngủ trên mặt đất đâu. Nói cho đúng hơn, bà Sa đưa con ông bà Minh về hầm nhà mình là để thay mẹ giữ mạng sống cho chúng. 

Sau Hiệp định Pa-ri, lãnh đạo xã Sơn Lộc đang đứng chân tại Sơn Long đề nghị cấp trên đưa cả ba anh chị em mồ côi nhà họ Hồng ra miền Bắc học tập, đào tạo cán bộ cho sự nghiệp cách mạng lâu dài sau này. Cả Minh tính, thằng Năm còn quá nhỏ, khó có thể vượt nổi Trường Sơn. Bà Sa người đỡ đầu mấy anh em cả Minh nghe nói trên đường dây ra Bắc bom đạn dữ lắm. Bà lo, đường xa vời vợi, bom đạn ngút trời, không khéo mấy đứa nhỏ đi không tới nơi. Bà khuyên can mấy anh em Cả Minh không nên đi. Cả Minh đã ngờ ngợ trong việc đi ở, nay nghe người lớn bàn tính, anh quyết định không dẫn hai em đi Bắc. Cả ở lại cùng các chú các anh tiếp tục giữ đất, giữ quê.

Chiến tranh rồi cũng đến hồi kết thúc. Ngày 26 tháng 3 năm 1975, Quế Sơn được hoàn toàn giải phóng, Cả Minh dẫn hai đứa em còn sống sót trở về vườn cũ sinh sống. Ba anh em nhà họ Hồng là thành phần cốt cán lẽ ra được Nhà nước nuôi cho ăn học đào tạo. Nhưng hậu quả cuộc chiến vô cùng nặng nề nên ba anh em nhà họ Hồng cũng như mọi người dân trụ bám khác vẫn phải tự chủ động xoay xở lấy cuộc sống. Hòa bình, thời gian và sự nỗ lực của bản thân đã thay đổi cuộc đời của ba anh em nhà họ. Cả Minh, Hai Sương tiếp tục công tác và trưởng thành. Riêng thằng em là Hồng Quang Năm, được Cả Minh nuôi ăn học. Và rồi cái thằng Năm mới mấy tuổi đầu đã mất cha mẹ, ăn ốc đá, cải tầu bay, củ chuối, trốn chui trốn nhủi để mà sống ở cái góc núi Rừng Già kia lại rất sáng dạ. Hồng Quang Năm, bây giờ đã trở thành thạc sĩ. 

Cuộc mưu sinh của ba anh em nhà họ Hồng cứ phải trôi đi theo những tháng năm tất bật. Mặc dầu đã làm tới Bí thư xã, rồi Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ huyện Quế Sơn có điều kiện giao tiếp rộng, nhưng Cả Minh cũng chẳng biết đâu mà lần mò tin tức về đứa em thất lạc năm xưa. Nhiều lúc anh nghĩ: “Bé Ba, đứa em thương yêu của anh đã không còn tồn tại trên đời này…”.

Đêm nay, sau đúng bốn mươi năm Bé Ba bị thất lạc, Cả Minh lại được cái tin cô Thủy nào đó về làng tìm lại người thân, lòng dạ anh vô cùng nôn nao. Trời vừa sáng, anh vội lên xe chạy đến tất cả người bà con ruột thịt thông báo, bàn bạc tìm manh mối xác định cô Thủy kia là ai. Nhưng như một tia sáng bỗng xuất hiện rồi lại vụt tắt ở cuối đường hầm. Tin tức về cô Thủy tắt nghẹn lại ở anh Bảy-xe thồ. Cả Minh gặp anh Bảy nhưng chỉ nhận được câu trả lời: “Cô ấy ở tận Đồng Nai về đây tìm lại gia đình. Cha cô họ Trần, tôi chở cô ta đi khắp các nhà thờ họ Trần dọc sông Rù Rì để tìm. Cô hẹn tôi tại quán cà phê Love ngay trước cổng chợ Đàn. Mấy ngày liền, cứ đến bảy giờ sáng là tôi đến chở cô đi tìm kiếm…”. Cả Minh để ý ngay cái chi tiết “quán cà phê Love”. Anh đến nhà người cô ruột là Hồng Thị Chín ở gần chợ Đàng, nhờ cô thường xuyên đến quán để có thể nắm được tin tức chi thêm. Chị Chín quanh quẩn, hết vào chợ lại ra quán cà phê, gặp người nào cũng hỏi. Một hôm gặp tay buôn bò ghé vào quán. Nghe chị Chín đi dò tìm tin tức về cô Thủy, anh gọi giật ngược chị lại:

– Có phải chị hỏi cái cô Thủy, Phan Thị Thủy ở Đồng Nai về tìm gốc gác của mình không? Tôi có số điện thoại của cô ta đây.

Thì ra anh buôn bò thấy Thủy đã đứng tuổi nhưng còn khá được mắt. Cô thường ngồi một mình, mà hình như trong ánh mắt có giấu nỗi chờ đợi xa xăm nào đó. Anh lân la có ý tán tỉnh. Biết về hoàn cảnh của đối tượng, với kinh nghiệm của một gã đàn ông ngũ tuần, anh liền chớp cơ hội ra tay giúp người phái yếu:

– Tôi là người cung cấp bò cho lò giết mổ, thường đi giao dịch khắp các làng quê. Cô để số điện thoại cho tôi. Biết đâu tôi có thể giúp được cô.

Anh ta liền bấm máy cho chị Chín gặp Thủy. Bà Chín run bắn cả người khi nghe Thủy trả lời đúng tên của ông bà Minh và ba người anh em ruột của mình. Bà vội vàng hỏi tiếp:

– Em có bị thương không?

Bà ầm ừ còn muốn hỏi gì thêm… Đến câu hỏi này Thủy nghe như có một luồng cảm giác lạnh chạy phía sau gáy, tay run không cầm vững điện thoại, cổ đông cứng lại nghẹn ngào, đứt gãy:

– Dạ em có… bị thương. Bị thương… ở cánh tay. Một mảnh xuyên qua cánh tay… găm… găm luôn vào sườn.

Bà Chín lặng người mấp máy mấy từ:

– Thôi đúng con Ba đây rồi.

Bà Chín mừng quýnh, thuê xe thồ chở ngay đến nhà Cả Minh…. 

Một tuần sau, trước bàn thờ cha mẹ, Phan Thị Thủy được trả lại thân phận và tên họ thời ấu thơ trong tiếng nức nở mừng, đau không thể nào nói hết được bằng lời…. của bốn anh em ruột thịt nhà Cả Minh…

Nguồn Văn nghệ số 09/2020

Nhà thơ, Dịch giả Bùi Xuân (bìa trái) tặng tác phẩm "Điều còn lại" (Tuyển tập thơ văn của Nhà văn Việt Nam tại Đà Nắng) cho Chủ tịch UBND Thành phố Tam Kỳ Bùi Đức Ảnh Nhà thơ, Dịch giả Bùi Xuân (bìa trái) tặng Chủ tịch UBND Thành phố Tam Kỳ Bùi Ngọc Ảnh tác phẩm “Điều còn lại” (Tuyển tập thơ văn của Nhà văn Việt Nam tại Đà Nắng) 

Nhà thơ, Dịch giả Bùi Xuân (bìa trái) và Nhà thơ Phạm Thông (bìa phải)Nhà thơ Phạm Thông (bìa phải) tặng Nhà thơ, Dịch giả Bùi Xuân (bìa trái) một số tác phẩm văn học của các Hội viên Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ, ngày 8-11-2022.

Ảnh lưu niệm Đoàn Nhà văn Việt Nam tại Đà Nẵng và Hội Văn học - Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ ngày 8-11-2022Ảnh lưu niệm Đoàn Nhà văn Việt Nam tại Đà Nẵng và Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố Tam Kỳ ngày 8-11-2022

 

Nước mắt trong ngày gặp mặt

(Trích truyện ký “ Đất nước và Gia tộc”)

Năm 1975 đất nước thống nhất, Hoàng xin phép sứ quán về thăm quê lần nữa. Thường thì sinh viên nước ngoài cả khóa học 5 hoặc 6 năm chỉ được về phép một lần. Nhưng đối với sinh viên quê miền Nam là trường hợp đặc biệt, bởi người nào cũng xa nhà cả chục năm trời do hoàn cảnh đất nước chia đôi, có nguyện vọng về thăm quê, sứ quán cho tất. Nghiệt nỗi vừa về năm ngoái, mua vé máy bay khứ hồi 5 – 6 trăm rúp hết sạch tiền. Qua lại Liên Xô mới một năm, trong khi đó ai ngờ chiến thắng đến nhanh vậy. Không tiền cũng phải xoay xở bằng mọi cách để về. Bạn bè thấy thế góp tiền cho Hai Hoàng về nước thăm quê, thăm ba thăm mẹ sau hơn mười năm xa cách. Có tiền của các bạn mỗi người một ít phụ giúp, Hai Hoàng lên máy bay về Hà Nội.

Đến Hà Nội, Hoàng không thể có được tấm vé tàu, vé xe về Nam. Đất nước mới thống nhất, người ở miền Bắc đổ vào Nam nhiều vô kể. Người vào Nam gồm đủ các thành: Người miền Nam tập kết; học sinh miền Nam ra thời chống Mỹ; bộ đội, cán bộ, thương binh miền Nam ra Bắc an dưỡng, học tập; người miền Bắc đi công tác miền Nam; người miền Bắc có bà con di cư vào Nam năm 1954… Tất cả đều tha thiết chờ mong ngày tái ngộ.

Đất nước mới thoát khỏi chiến tranh, đường sá, cầu cống bị bom Mỹ đánh phá hư hỏng chưa khắc phục kịp, phương tiện đi lại ít, lạc hậu không thể đáp ứng nhu cầu, người ứ lại đông ở các bến tàu, bến ga sắp hàng, nằm chờ đông nghịt. Nỗi khổ nữa, đi tàu lửa phải tăng bo sang ô tô; tàu chỉ chạy được tới Vinh, xe khách chưa có tuyến thông suốt, nửa chừng phải sang xe, chờ chực dọc đường mệt lắm. Tưởng chừng bế tắc, Hoàng nằm chờ ở nhà bác Nể, bác Thành chưa biết bao giờ về Nam được. Bất ngờ có xe đến, bác Nể chạy ra:

– Anh Năm về!

Cả nhà ùa đến đón bác trước sân. Hai Hoàng cũng vội chạy. Không nghĩ Hoàng về nhanh vậy, bác Năm ôm chầm lấy Hoàng:

– Cháu đã chừng này rồi hả, ờ đã là đàn ông trên hai mươi rồi còn chi. Bác rời quê, thím Đoàn chưa sinh cháu…

Lần ra Bắc trước, thời còn chiến tranh bác Năm gọi Hoàng từ Đông Triều lên Hà Nội gặp đôi lần, trông anh ta gầy dong dỏng, bây giờ có lẽ do ăn bánh mì Tây to cao hẳn, thiệt bất ngờ… Ông Năm ra Bắc tập huấn cải cách ruộng đất năm 1953, thời còn chống Pháp, khi đó bà Đoàn chưa sinh Hoàng. Như vậy kể từ khi Hoàng mới chào đời thì đây là lần thứ hai bác cháu gặp nhau. Mừng quá đỗi.

Bác Năm Công đang là đại diện của Chính phủ Lâm thời Cách mạng Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Trung Trung Bộ. Cơ cấu cho có hình thức trong giai đoạn chuyển tiếp vậy thôi, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 thực chất nước nhà đã thống nhất, cả nước đều chấp hành chính sách, chủ trương từ Trung ương. Lần này bác Năm ra Bắc là để lãnh hội chủ trương của Trung ương Đảng và chính phủ. Ông rất bận, bận đến nỗi khó ăn được bữa cơm với vợ con, gia đình. Bác cháu Hoàng cũng chưa tâm sự được gì nhiều.

Chuẩn bị vào lại Đà Nẵng, bác Năm bảo Hoàng:

– Bác cháu mình cùng về quê. Cháu chuẩn bị tư trang lên máy bay về quê thăm ba mẹ, người thân, quê hương xứ sở, tất cả đang trông chờ cháu. Bác cháu mình sẽ cùng đi trên một chuyến bay.

Hoàng nghe bác Năm bảo, người như muốn bay lên, ôi phút giây chờ đợi đã tới. Xuống Đà Nẵng, Hai Hoàng ở lại nhà công vụ của bác Năm tại 31 Bạch Đằng. Chiều hôm đó chưa về Tam Kỳ, Hoàng tranh thủ dạo ra chợ Cồn để biết Đà Nẵng. Hồi kháng chiến, học ở vùng giải phóng Hiệp Đức, nghĩ tới Đà Nẵng xa vời như lên cung trăng. Hồi đó vô được nơi này là phải bằng máu. Ở quê thì quanh quẩn bên bà nội, không đi khỏi đất Tam Kỳ. Khi đã lên núi rồi thì không thể mơ tới cái thành phố chật ních lính Mỹ này. Bây giờ Hai Hoàng đã thật sự đặt chân đến Đà thành, một thành phố sầm uất nhất miền Trung thời Mỹ ngụy. Với Hai Hoàng đã đi ra thế giới, ở Liên Xô về thì Đà Nẵng không lớn, không đẹp như sự tưởng tượng của anh hồi còn nhỏ. Nhưng Đà Nẵng là đất của mình, thành phố quê hương, đi đâu cũng nghe giọng Quảng thân yêu. Đà Nẵng là đất của người quê xứ, Hai Hoàng rất thích ra đường để nghe giọng Quảng. Hai Hoàng đi với anh Việt con bác Quý. Là anh con bác nhưng Việt còn nhỏ, vào chợ Hoàng mua cho Việt hai cái áo mới làm kỷ niệm, bên kia về gấp không mua được thứ gì tặng anh em, bà con.

Sáng hôm sau Hoàng lên xe hàng về Tam Kỳ. Xuống bến, đất quê mà lạ hoắc. Có người chạy lại đón, bác Năm đã điện cho ba Hoàng biết rồi.

Hai cha con gặp nhau, không cử chỉ, hành động, lời lẽ nào biểu lộ hết nỗi sung sướng của cha con Hai Hoàng trong giờ phút gặp mặt sau bao năm chờ mong. Ông Hải không tưởng tượng được mình có thể còn sống để gặp được con trai, cuộc chiến thật khốc liệt. Kể từ trước tết Mậu Thân, lúc cha con Hai Hoàng xa nhau đến năm 1972 là thời gian cuộc chiến bị đẩy đến đỉnh điểm ác liệt, Mỹ ngụy phản công đánh phá, lấn chiếm vùng giải phóng, mở nhiều cuộc hành quân quy mô lớn càn sâu vào chiến khu, ở Quảng Nam chúng chiếm lại hầu hết vùng Đông, lực lượng của ta bị đánh bật ra khỏi nhiều làng xóm kể cả ở vùng đồng bằng giáp ranh miền núi, bộ đội, cán bộ không chỉ hi sinh vì bom đạn mà còn chết vì đau vì đói, các đường dây, cửa khẩu xuống đồng bằng để lấy lương thực thực phẩm bị lính Mỹ, lính ngụy chốt chặn ta rất khó lọt qua. Giai đoạn 1969 đến gần cuối năm 1971 tình hình tối tăm lắm, nhất là ở vùng Đông Quảng Nam, trong cán bộ du kích có người than vãn, bi quan đến độ không hi vọng gì cách mạng thành công, có thể nói trong số hàng triệu liệt sĩ hi sinh thời chống Mỹ, tập trung nhất ở giai đoạn ác liệt này. Trong tình hình đó mà ông Hải vẫn trụ được đến ngày chiến thắng hoàn toàn để gặp con trai là chuyện không tưởng nổi. Ông đúng là hạt gạo trên sàng. Tất nhiên làm cách mạng thì phải lạc quan, tin tưởng ở ngày mai, nhưng quả thật trong cuộc chiến trường kỳ vừa qua thì mạng sống của con người thật mong manh. Ông Hải đẵm mình trong cả cuộc chiến suốt 21 năm, không một ngày ngơi nghỉ. Đúng thế, trong suốt 21 năm ông Hải không ra Bắc an dưỡng hay đi báo cáo vấn đề gì đó của huyện của tỉnh dù chỉ một lần. Thực ra tham gia kháng chiến ai cũng chịu đựng hi sinh, nhưng như ông Hải quả là một hiện tượng hiếm có. Ngay như bộ ba Tam Xuân nổi tiếng anh hùng, trụ lại lâu dài gần như nhất tỉnh, nhất huyện thì ông Ba Đông, những năm cuối cuộc chiến được đưa ra Bắc chữa bệnh, an dưỡng, công tác mãi tới ngày thống nhất; ông Mười Chấp do ở vị trí Phó Bí thư Tỉnh ủy được Trung ương gọi ra báo cáo tình hình đôi ba lần, nhân đó về Hải Phòng thăm bà vợ lớn và các con, được hưởng đôi ngày trong không khí có thể nói là yên bình. Ông Hải thì không trơn, không một ngày ngơi nghỉ trong cuộc chiến dài lâu. Tất cả là chuyện của một thời, sự thật giờ đây cha con ông đang tận hưởng những phút giây hạnh phúc trào dâng giữa quê hương Tam Kỳ yêu dấu.

Chiều hôm đó ông Hải chở Hai Hoàng bằng chiếc Honda 67 về Khương Mỹ. Ông Hải tuổi lớn mà nhanh thiệt, từ rừng về thành phố có bốn tháng đã rành chạy xe máy, chỉ mấy phút, trước mắt Hai Hoàng đã hiện ra ba ngọn tháp, hình ảnh ấn tượng nhất của tuổi thơ. Ba ngọn tháp rêu phong nghìn năm vẫn nguyên vẹn như thời thơ ấu, đứng sát vườn nhà bà nội.

Vườn cũ vẫn còn đây, nhà bà nội vẫn còn đây, nhưng người đổi khác quá nhiều. Chị Hai Bửu đã có hai mặt con, em Hoa ở nhà thím Khoa bên cạnh nhà bà nội nghe anh Hai Hoàng từ Liên Xô về chạy qua muốn vấp té luôn, thím Khoa đang sàng gạo cũng lật đật bỏ giần bỏ mủng chạy sang nhà.

Hai Bửu mới cập kề tuổi ba mươi mà trông già hơn tuổi. Có lẽ do đời chị thăng trầm, gấp gãy nên vậy. Hai Bửu sau khi lấy anh Quang về phía Kỳ Phú, bà nội ốm chị về chăm sóc bà, thế rồi bà mất, Hai Hoàng thoát lên lên núi, ra Bắc biệt tăm, Hai Bửu xin phép bên chồng về thờ phụng bà nội. Anh Quang bỏ hàng ngũ lính ngụy về quê thoát ly theo cách mạng, trước khi theo cách mạng anh Quang xác định cuộc chiến vô cùng ác liệt, chẳng biết bao giờ hòa bình thống nhất. Anh chia tay chị Hai Bửu để giải thoát đời con gái cho chị. Hai Bửu nhất quyết không chịu, anh Quang rất kiên quyết và khi anh ra đi còn nói: Em hãy đi lấy chồng khác, hòa bình có còn sống về anh cũng không ở với em đâu, hãy dứt khoát! Và anh đi, từ đó biền biệt không biết sống chết thế nào. Chị Hai Bửu đành phải đi bước nữa với người đàn ông trong làng Khương Mỹ đã có một đời vợ, rồi anh ấy cũng chết trong chiến tranh. Một thân một mình Hai Bửu nuôi con khổ cực, người chị ngó sạm hơn trước tuổi.

Hai Hoa đã trở thành thanh nữ, nhưng không chịu có chồng, núm ná với bà Khoa góp phần nuôi các em cùng mẹ khác cha.

Ba chị em chú bác ruột của Hai Hoàng đứng kề bên nhau, hướng lên bàn thờ ông bà nội lòng rưng rưng nhớ về những năm tháng tuổi thơ đầy trắc trở đói nghèo bên bà nội vô cùng mến yêu.

Ông Hải, bà Khoa đứng lặng nhìn con cháu, không nói nên lời mà trong lòng rưng rức. Đấy là cái lặng yên dữ dội của những con người quá từng trải đắng cay, những con người trường trải qua biết bao cuộc hợp tan. Trời đã về chiều bà Khoa lễ phép với ông Hải:

– Thưa anh giờ cũng đã muộn rồi, anh và Hai Hoàng ở lại ăn một bữa cơm nhà. Vừa nói bà vừa chạy ra chuồng bắt con gà trống, Hai Bửu chạy xuống bếp nhóm lửa bắc cơm, Hai Hoa chạy ra vườn hái rau, cắt mít non vào rửa rửa, gọt gọt, xắt xắt. Một nhoáng cơm thịt canh, rau đã bày sẵn trên mâm.

Ông Hải hình như rất vội đưa Hai Hoàng đến mẹ và bà ngoại, nhưng thím Khoa nói đây là bữa cơm nhà. Là nhà thiệt! Bởi đây là vườn nhà, là nơi chôn nhau cắt rốn của cả cha con ông. Vội mấy cũng phải ở lại ăn miếng cơm với những người ruột thịt. Ông Hải định đưa Hai Hoàng về nhà, sau đó xuống phía cầu Cao thăm mẹ, bà ngoại. Ở dưới đó là ruột thịt, ở đây cũng ruột thịt, cha con phải phân thân mà sẻ chia nỗi niềm sâu lắng chất chứa bấy lâu nay. Chủ yếu Hai Hoàng, bao năm xa cách mới về nhà, ông Hải chạy về chạy đi mấy tháng nay rồi, để con ngồi lại với chị với em nó tí nữa. Trong mâm ăn ông Hải, thím Khoa vẫn lặng yên để ba chị em nhà nó tâm sự những gì muốn thổ lộ với nhau sau bao năm xa cách.

Ăn xong cha con ông Hải lên xe máy chạy đến nhà bà Ngân có mẹ Đoàn cùng ở với bà ngoại đang sốt ruột ngóng trông. Sau ngày 24 tháng 3, ngày giải phóng Tam Kỳ ông Hải đã về nhiều lần thăm ngoại, thăm mẹ Hai Hoàng, nhưng đây mới là cuộc hội ngộ cảm động nhất sau ngày nước nhà thống nhất của gia đình ông Hải Để. Nó là gia đình, nhưng giờ đây ông Hải, bà Đoàn và Hai Hoàng không thể ở chung một nhà. Hậu quả, vết đau của chiến tranh đang hiện hữu, xoáy sâu trong lòng cha con, vợ chồng ông Hải ngay trong giây phút hội ngộ.

Hai Hoàng ôm bà ngoại, ôm mẹ khóc. Bà ngoại già quá, mẹ Đoàn cụt mất một cánh tay. Xa bà, xa mẹ đã trên mười năm, từ thuở cậu nhỏ Hoàng “mồ côi” sống bên bà nội Thơ từ thuở hai em gái cùng mẹ khác cha sống bên bà ngoại mới ba bốn tuổi, từ thuở cậu thiếu niên Hai Hoàng 12 tuổi thoát ly lên chiến khu tìm cha tìm mẹ, từ thuở quê hương chìm trong lửa đạn. Nay đất nước thanh bình, nhưng tại sao, tại sao cuộc hội ngộ của những người một nhà lại đầm đìa nước mắt. Ông Hải, một chiến sĩ cách mạng mấy chục năm trời nằm gai nếm mật để cho nước nhà thống nhất, để có được cuộc tái ngộ trùng phùng này mà sao nước mắt cứ chảy ròng. Ông Hải biết bà Đoàn đã cụt mất một cánh tay, ông đã nhìn cánh tay cụt của bà từ khi mới giải phóng quê nhà. Nhưng hôm nay, nhìn thấy bà Đoàn ôm Hai Hoàng bằng cánh tay cụt ấy, ông bật khóc. Ông khóc cho số phận của bà Đoàn, khóc vì Hai Hoàng gặp được mẹ trong một hình hài không nguyên vẹn cùng tình duyên không vẹn nguyên của mẹ cha. Ông khóc cả cho ông, cho tấm lòng trắc ẩn của ông. Ông thương bà Đoàn, thương Hai Hoàng và thương cả hai đứa con gái riêng của bà Đoàn đang có mặt trong cuộc hội ngộ này. Ôi là chiến tranh!

Bà Đoàn, bà Ngân nhìn thấy con cháu lớn khôn, mừng mừng tủi tủi. Hai Hoàng còn được nhà nước cho du học ở tận bên châu Âu, bà Đoàn lấy nỗi mừng vui hiện tại lấp đi những nỗi đau. Ngày trước bà dám hi sinh cả tình duyên để bảo vệ mạng sống cho đứa con trai duy nhất này, hôm nay đã trở về một thằng con trai trưởng thành. Bà không khóc nữa, cả nhà không khóc nữa. Bà Đoàn không muốn con mình phải trăn trở nhiều về những vết đau quá khứ, thanh thản đi đến phương trời xa tiếp tục học tập thành tài. Đó là niềm hạnh phúc chung của bà và ông Hải. Lòng mẹ bao la, các con không thể nào hiểu hết.

Hai Hoàng rời Tam Kỳ ra lại Hà Nội, lên máy bay sang Liên Xô tiếp tục học tập trong ngổn ngang buồn vui nhớ thương da diết của một cuộc tái ngộ tưởng chừng rất mong manh mà có thật…Và anh tiếp tục đi để có thể góp chút ít cho một cuộc đổi đời ở phía ngày mai!

Tam Kỳ – Mùa hoa sưa vàngTam Kỳ – Mùa hoa sưa vàng

 

Hội ngộ trời ban

(Trích Truyện ký “Con của biển”)

Đợt tham gia sản xuất và dạy bổ túc mấy tháng trời cũng đến hồi kết thúc, Cát lại được thủ trưởng gọi về cơ quan làm chuyên môn. Hắn nghĩ trong bụng chắc chuyến này mình sẽ được ở nhà lâu rèn luyện tay nghề chứ tiếng ở phân xưởng chữ mà tay cầm cái compter còn lóng ngóng, dị òm. Ai ngờ mới đứng vào giàn chữ được nửa tháng, thủ trưởng lại bảo: “Đồng chí cầm giấy giới thiệu sang anh Hiền phụ trách quản trị hỏi đường đi liên hệ với kho gạo bên đơn vị hậu cần để chuẩn bị cho anh em cơ quan đến cõng gạo, lệnh xuất gạo đã có rồi, đi gấp về gấp nghe đồng chí!”. Thằng Cát có cảm nhận kỳ này ông có chi quan trọng mà không gọi mình bằng cháu như mọi hôm mà gọi như họp trong chi bộ với ổng vậy, nghiêm trọng quá mình không thích.

Cát ra đi mà hơi thắc mắc, hay là ổng sắp cho mình vào Đảng. Hắn vừa mừng vừa lo hay là ổng bực mình kể chuyện tiếu lâm lúc ở trại sản xuất, hồi ổng lên trên đó có nói bóng gió rồi mà. Thôi thì có chi cũng phải hoàn thành nhiệm vụ ổng giao.

Lúc này cơ quan Nhà in đã dời vào Trà Mi, ở đầu nguồn sông Xiêm Rang thuộc địa phận xã Đốc, phía bờ bắc sông Tranh. Một mình lên đường, Cát tính đi một ngày, độ 5 giờ chiều là tới nơi. Chỗ đó Cát đã từng đi qua, chỉ qua một lần là hắn nhớ như in. Độ 10 giờ trưa ngang qua thị trấn Trà My, nơi Cát cõng heo xuống bán trước khi chuyển sang Nhà in. Một chuyến đi trôi mất dép, Cát nhớ suốt đời. Hồi đó thị trấn còn dân ở, bây giờ thì gần như là vùng trắng, ác liệt quá dân bỏ xuống Tiên Phước, Tam Kỳ hết trọi. Con đường từ Tam Kỳ, Tiên Phước chạy lên thị trấn Trà My đã rải đá, tráng nhựa hồi thời Diệm, bây giờ lau lách phủ đầy, nhà dân cháy hết, còn cái nào cũng bỏ trống. Đang lom khom chui qua lau lách khỏa ra mặt đường, liếc nhìn vào một ngôi nhà bỏ trống Cát nhìn thấy hai cậu nhỏ độ mười bốn mười lăm ngồi trước hiên ngóng ra đường. Nói là ngôi nhà chứ thực ra một cái chòi xập xệ, tứ bề phủ cây cối, dây gai rậm rì, ngoài đường ngó vô không nhận rõ mặt hai chú nhỏ, nhưng trông quần áo và cái dáng như ở đồng bằng mới lên. Linh tính, Cát dừng chân! Dòm kỹ:

– Ôi! Có một thằng giống thằng Dương, em trai mình thế. À mà đúng nó rồi! Đúng nó rồi!

Cát bươn vào. Thằng Dương đứng phắt dậy:

– Anh Cát! Anh Cát!!!

Hai anh em ôm chầm lấy nhau. Hai đứa cùng mếu, cùng nấc nghẹn, cùng khóc. Ôi làm sao có sự trùng phùng kỳ diệu vậy, trời đất có sắp đặt không đây. Chúng nó lặng thinh nuốt từng giây phút sung sướng, cảm động trào dâng. Cát nghẹn ngào:

– Em lên đây bao giờ. Mẹ mình ở đâu rồi. Mẹ có khỏe không, em có nghe tình hình về chị Ba Liễu không. Nhớ quá mà không biết làm sao về thăm mẹ, thăm quê. Ông bà ngoại, chú Út, thím Hai, thằng Thạch thế nào rồi… Cát hỏi một lèo bao nhiêu câu hỏi chất chứa trong lòng bấy lâu nay. Hắn hỏi vội, hỏi vội về những người ruột thịt. Và, hắn cũng đang rất vội.

Thằng Dương ôm anh, trả lời thiệt nhanh như đáp lại sự trào dâng, chờ mong tha thiết trong lòng anh trai mình:

– Ở quê mình ác liệt quá, mẹ với em tạt ra Bình Hải, Bình Sa vừa tránh địch vừa làm ăn qua ngày, ông bà vẫn khỏe, trông anh và chị Ba lắm, chú Út làm cán sự trưởng thôn đang trụ bám ở quê, thím Hai, thằng Thạch vẫn ổn. Ở mình ác liệt lắm, dân chết nhiều, nhờ phước trời gia đình mình vẫn bình yên…

Mà thiệt, Cát đang rất vội, hắn đang tính nhanh trong đầu. Trong lúc thằng Dương chưa kịp hỏi chi, hắn đã vội:

– Bây giờ anh đang đi công tác, gặp em như trời phò hộ, may quá em ơi! Anh phải đi!

Nghe anh nói thằng Dương thả tay, đứng sựng khóc mếu máo. Chuyện chi mà vội rứa anh, ráng tí nữa cũng được chứ anh. Dễ chi mà gặp giữa rừng núi bao la này anh Bốn ơi…

Gặp đột ngột, đi đột ngột, Cát sợ em mình quá bức xúc, hắn nói vội:

– Anh phải đi ngay và trở lại ngay. Anh trở lại với thằng em ruột của anh mà, anh phải biết về mẹ về ông bà, những người thân và quê hương mình. Anh nhớ quá, lo quá. Gặp em sao nỡ đi ngay, anh đã sắp xếp kế hoạch trong đầu rồi, đi thật nhanh xuống liên hệ công tác, quay lại trong đêm. Đường vắng không sợ, ông hùm ông beo chi cũng thương mình. Trời Phật cho anh em mình gặp nhau. Anh nhất quyết trở lại!

Thằng Cát phải hoàn thành nhiệm vụ của thủ trưởng Hà giao. Thằng Dương nghe anh Bốn của hắn quá gấp gáp, vội nói trong rưng rức:

– Đúng là cơ may trời cho, em định rủ thằng ni đi vào cái nhà trong lùm kia rồi, em đã vào đó thì làm chi anh em mình thấy nhau được. Anh với em chạy vào đó tí biết chỗ, khi anh trở lên mới vào được.

Ba thằng chạy nhanh vào thấy nhà, Cát chưa kịp hỏi chuyện thằng nhỏ cùng đi với em trai, vội vàng quay ra đường. Không biết sức mạnh từ đâu, Cát đi bốn tiếng đồng hồ qua ngã ba Dương Yên, Phương Đông, vượt đèo Bà Hương đến sát bìa rừng ngã ba Gò Gai chỉ nghỉ chận một chặng. Đến nơi giao giấy tờ cho thủ kho nằm cô lẻ trong rừng, hẹn ngày nhận gạo, chào một tiếng quay ngoắt trở lên. Đã hơn 5 giờ chiều, tranh thủ qua đèo Bà Hương vắng lạnh, vừa đi nhanh vừa lắng nghe tiếng động tĩnh của địch, của rừng, Cát bặm miệng mà bước. Đến ngã ba Dương Yên trời sập tối, chỗ này ban đêm bọn địch từ đồn Phước Lâm hay mò ra phục kích, Cát cẩn thận dò đường, qua được điểm nút người nhẹ nhõm. May đúng trời sáng trăng, tỏ đường Cát bước nhanh, bước nhanh giữa núi rừng bao la vắng lạnh. Nhờ đường bằng, đây là đường nằm sâu trong chiến khu, không một chiếc xe chạy trong bảy tám năm nay, nhưng dù sao vẫn phẳng phiu hơn đường núi nhiều lần. Hắn đi và đi. Mồ hôi ra như tắm, Cát vẫn không dừng chân xả hơi. Phần sợ địch, phần sợ rừng đêm chẳng dám ngồi nghỉ, đi ít sợ hơn. Như người ta thường nói “lên gân cho đỡ sợ”. Với động lực mẫu tử tình thâm, thằng Cát một mình lao tới giữa âm u tĩnh mịch, trong tiếng cú kêu đêm rùng rợn, bịt hai lỗ tai mà bước, mà bước…

Đúng 9 giờ đêm, hai anh em chúng nó lại ôm nhau mừng rỡ. Thằng Dương nấu cơm, không ăn, chờ anh Bốn tới. Hắn lôi anh Bốn ra giếng tắm. Đi mấy tiếng liên tục, tắm ngay dễ bị cảm, nhưng thằng Cát mấy năm nay đã luyện người như luyện linh đơn rồi, chỉ có sốt rét rừng mới hạ nó chứ cảm cúm có sá chi, “miễn dịch” rồi. Thằng Cát đã mười bảy, thằng Dương mới mười lăm nhưng hai anh em ngó bằng nhau. Thằng Cát đậm người, gùi cõng mấy năm trời người đùn lại nhưng cứng cáp, ra thanh niên. Thằng Dương cao gầy, non sương. Không biết ai xui khiến? Chỉ có cha mẹ, chú bác, quê hương chúng chứ ai! Anh em chúng nó ra đi theo cách mạng đều chưa quá tuổi mười lăm. Vừa xối nước, thằng Dương vừa hỏi Cát:

– Anh Bốn, em xin ý kiến anh, mấy chú nói anh và chị Ba thoát ly, cha chết ở Bắc, mẹ hoạt động cơ sở cách mạng nhiều năm, em đủ tiêu chuẩn đi Bắc đào tạo cho tương lai, nhưng em không ưng, em ở lại miền Nam theo gót anh chị. Anh thấy thế nào? Đi ra ngoài đó biết bao giờ gặp lại mẹ, anh chị, ông bà ngoại… Em không muốn…

Cát cẩn thận suy tính: “Nhà mình đi kháng chiến hết trọi, chiến tranh biết ai còn ai mất, em mình được ra Bắc là hợp tình hợp lý, em ấy ra Bắc cơ may nhiều hơn, gia đình mình còn có người nối dõi…”. Cát động viên:

– Em còn quá nhỏ, nghe lời mấy chú ra ngoài đó thì tốt cho em và gia đình mình hơn.

– Nhưng mà em không thích, còn anh nói tốt hơn là tốt cái chi, họ chịu được thì mình chịu được chứ anh, anh chị chịu được thì em chịu được, cùng dòng máu cả mà anh Bốn. Thôi anh cứ đồng ý với em rứa đi, chị Ba mà biết chắc đồng ý, các anh chị cũng thoát ly như tuổi của em bây giờ có sao đâu. Hồi ở nhà em đã từng làm du kích B, anh yên trí em biết mà anh. Cha anh đã vậy, mình không thể khác được.

Mấy năm thử thách trong môi trường khắc nghiệt, Cát đã có chút già dặn, từng trải,  biết cái cực cái chết, nhưng nghe thằng em ruột lý lẽ, hắn nói sao cho phải. Chẳng lẽ nói ra với em mới vừa thoát ly những điều chỉ có lợi cho mình, cho gia đình mình trong lúc tinh thần cách mạng của nó đang dạt dào, trong lúc mọi người đang tập trung sức cho công cuộc kháng chiến. Cát ngập ngừng:

– Em ở lại cũng được, công tác ít năm rồi ra Bắc, nhưng cơ hội rất ít, chiến tranh khói lửa mịt mù…

Đêm ấy Cát, Dương treo võng sát nhau. Dương kể cho anh Bốn nghe chuyện nhà, chuyện quê:

– Sau khi anh Bốn thoát ly, địch đánh phá vào cái thôn biển Thanh Thủy và cả vùng Đông Tam Kỳ vô cùng dữ dội. Ngày nào chúng cũng hành quân càn quét, bọn Biệt lập ác lắm, nó chà xát vùng Đông nát bét. Du kích thôn, xã chạm trán địch hằng ngày; nhà cửa, ghe mành cháy trụi, người chết liên miên. Chết đủ kiểu, du kích chiến đấu hy sinh, địch càn tới giết, bom thả, pháo cân tới chết… Anh tính cái làng trong sông ngoài biển, một rẻo cát như cái tay áo vắt ngang, toàn cát là cát trống trơn, địch chặn hai đầu thì chạy đi đâu. Trong cái thế đó mà dân, du kích mình vẫn bám trụ, giữ vững vùng giải phóng từ năm 1964 đến nay đã bốn năm. Vùng Đông Tam Kỳ như cái gai chọc vào mắt bọn ngụy ở Tỉnh đường Quảng Tín. Thêm nữa vùng đông Quảng Nam, trong đó có thôn biển, xã biển mình nằm ngay trục đường không vận Đà Nẵng – Chu Lai. Bọn Mỹ bay trên trời nhìn xuống vùng giải phóng nằm dọc bờ biển, tức lắm, súng đạn nhiều chúng đâu chịu để yên. Máy bay HU 1A, trinh thám L.19 bay sát bờ biển, chúng chọc tức nhưng du kích đâu dám bắn, đụng đến là nát làng, là máu trộn cát. Bo Bo chạy sát chớn sóng bổ, du kích cũng đâu dám động thủ, hắn gọi pháo hạm đội tấp vào chết hết dân. Bọn chúng lấy dân làm con tin, đụng đến là cứ dân mà giết, cứ làng xóm mà oanh tạc. Rứa mới thiệt khó cho bộ đội, du kích. Khi chúng càn tới du kích coi bộ đánh được thì choảng một trận, không xong thì chui hầm. Quê mình còn đào địa đạo sâu trong lòng đất, du kích B của bọn em cũng tham gia đào. Địa đạo luồn lách dưới lòng đất, tạo thế vừa ẩn náu vừa có thể triển khai đánh địch. Trong một hệ thống địa đạo liên hoàn, địch ở đầu này ta trồi lên đầu khác lựa thế tiến công… Nhưng địa đạo bí mật lắm, em chỉ biết một vài chỗ phân công mình phụ trách cảnh giới, không thể biết nhiều được. Mấy năm nay địa đạo chưa bao giờ bị lộ, thế mới là kỳ diệu. Đó là sự kỳ diệu của: “chiến tranh nhân dân”. Như rứa ta mới trụ vững được tại vùng Đông.

Đánh không trốc được Việt cộng ra khỏi vùng Đông, trong đó có cái thôn biển Thanh Thủy nhỏ xíu, địch tức lắm. Trong hai năm 1966, 1967 Mỹ đã huy động hàng trăm lượt máy bay đến trút bom xuống làng mình. Vào một ngày của tháng 6 năm 1966, từ sáng mãi đến tối hết loạt máy bay này đến loạt máy bay khác, chúng quần đảo, chúi xuống ngóc lên hàng trăm lần, trút bom hủy diệt. Chúng thả đến mức bà ngoại mình nằm dưới hầm khấn vái cho hai cái nhà ngói của bà, của mẹ sụp trớt. Bởi máy bay trinh thám thấy còn một mái nhà là xi nhan phản lực thả bom hủy cho bằng được. Thà mất nhà còn hơn trúng hầm chết hết. Vừa ngớt tiếng máy, lợi dụng khoảnh khắc yên bình, đàn bà, con nít, già trẻ bồng bế, kéo nhau chạy tản ra hai phía đầu làng, bươi cát nằm chỗ trống. Nằm rứa rủi mảnh văng trúng ai đành chịu, chui hầm giữa làng, bom trúng chết hết. Tối mịt, hết bom, bà con lại kéo về. Hôm đó quê mình sập hầm chết nhiều lắm. Nhà bà Cao chết cả nhà, mấy người hàng xóm đến nấp chung hầm cũng chết luôn. Riêng cái hầm đó chết 11 người, hầm càng kiên cố, trúng bom chết càng nhiều, bom tạ hầm mô chịu nổi. Đất cát dùng tre, dương liễu chống, đỡ, giỏi hung là đá ong, trính kèo cột nhà dở ra làm hầm, bom lớn sập tuốt.

Dân làng mình chết đến mức khô hết nước mắt. Quê mình mấy năm nay thê lương quá anh ơi…. Lớp của anh, chị ba thoát ly từ năm 1964-1965 vào các đơn vị bộ đội cũng hy sinh nhiều, có nhà trong bốn năm đã nhận hai ba giấy báo tử, nhiều bà mẹ chết hết con, đi người nào có giấy báo từ người ấy. Đi chết, ở nhà cũng chết. Có thể hơn vài trăm người, tính riêng thôn mình đấy. Không biết cuộc chiến sẽ tới đâu, bao giờ chấm dứt, quê mình sao phải chết kinh khủng thế này. Không riêng quê biển Thanh Thủy, cả vùng Đông – Thanh Kỳ, Phú Kỳ đều như rứa.

Còn cái nạn đi làm biển nữa. Đàn ông trên ba mươi để râu dài nhằng, nhìn già quắp, ra ngoài biển bọn Hải thuyền từ Hoàng Sa chạy vào, từ cửa An Hòa, Đà nẵng chạy tới nhìn loáng thoảng, thấy cả ghe toàn người già, bỏ qua. Có lúc chúng cập sát nhìn rõ mặt, kéo cả ghe chạy về đồn, tách người trẻ ra bắt nhốt tù, đẩy ra lính. Bỏ chạy chúng nạp theo bắn chìm luôn, biển trống trơn ai dám chống. Tàu, bo bo đi tảo trừ dày biển, kiếm cho được con cá phải bằng xương máu, tù gông. Có hôm ở xã Bình Đào, Thăng Bình dân đang đánh cá giữa biển, bọn HU1A quần vây bắn chết hàng chục người. Mấy hôm ấy làng Bình Tịnh, Bình Đào tang thương vô cùng, xác ngư dân tấp cùng bờ. Đúng là chết khô nước mắt. Quả phụ, không cha cả làng, cả xóm…

Thế nhưng dân quê mình gan lì thật, không có người chạy theo địch hoặc tìm chỗ lánh thân. “Một tấc khi đi, một ly không rời”, họ kiên cường bám trụ, cùng du kích thôn xã quyết bảo vệ vùng giải phóng, giúp đỡ cách mạng. Trong hoàn cảnh vô cùng ác liệt đó gia đình mình vẫn an toàn, đạn tránh người chứ người tránh đạn được đâu anh Bốn. Mấy vụ thiệt kinh khủng, người nhà mình vẫn thoát được.

Một hôm thằng Thạch con chú Út đang chơi với thằng Biện con Pháp ở nhà ông Lời. Đột nhiên, thằng Thạch bỏ chạy về nhà hốt khoai lang sống đem đến để cùng ăn với hai anh em Biện, Pháp. Con nít quê mình có kẹo đâu mà ăn, nhai khoai lang khô thôi. Ngay lúc đó, một chiếc tàu rọ nạp theo ví ông Cầu ở dọc bờ sông Trường Giang, ông Cầu lủi qua đám thổ khoai lang, chui vào hầm nhà ông Lời. Ông Lời vội đưa hai cháu nội xuống hầm còn ông đứng ngay miệng hầm ngước mặt nhìn chiếc tàu rọ. Tàu rọ quay đít đứng ngay trên đầu, thằng Mỹ mặt đỏ gay có thể thấy rõ từng nếp nhăn trên khuôn mặt ông già Lời. Ông đứng là để hợp pháp với nó, khuôn mặt già nua cùng bộ râu dài trắng toát là dấu hiệu của một lão ngư vô can trong cuộc chiến. Ông hy vọng họ không giết dân thường. Thằng Mỹ cũng thấy rõ mồn một hai đứa con nít vừa chui xuống hầm cùng với ông Cầu bận đồ trắng để chứng tỏ là dân thường. Ai ngờ, hắn phóng ngay quả rốc kết, ném tiếp một quả gì đó nghe cái phịch, quay đít bay thẳng về hướng tỉnh lỵ. Nghe im, thằng Biện thoát lên thấy ông nội người nát bươm nằm trên vũng máu ngay miệng hầm. Biện không kịp khóc, dắt bé Pháp chạy về phía nhà chú Út. Vừa chạy vừa kêu: “Dượng Út ơi cứu anh em con với, nghẹt thở quá!”. Chú Út chạy ra bồng thằng Biện, Thạch theo sau cõng con Pháp vô nhà, đặt hai anh em nó nằm trên giường. Lúc đó em liền chạy tới nhà chú Út coi thằng Thạch có việc chi không. Em nghe cu Biện liên mồm kêu:

– Nghẹt thở quá! Cứu hai anh em con dượng Út ơi! Mẹ con về chưa. Mẹ ơi, mẹ ơi…! Ông ơi, Ông ơi…!

Thạch ôm Biện khóc. Chú Út mình đã từng cấp cứu rất nhiều người bị thương trong thôn, trong xã. Nhưng bây giờ bất lực nhìn hai đứa trẻ, không biết cho uống thuốc chi đây. Chú run run bẻ hai ống thuốc nước chi đó cho hai đứa uống, nhưng có ăn nhằm gì đâu.

Tiếng kêu của cu Biện yếu dần, tiếng khóc của con Pháp cũng lìm lịm, văng vẳng qua cái cổ nhỏ xúi, múp míp của nó. Hai đứa nằm thẳng đuột, không vùng vẫy, riu ríu cặp mắt, hơi thở và mạch yếu dần rồi tắt hẳn.

Chiến tranh thật tàn khốc, gia đình ông già Lời tan nát. Cha của chúng nó mới vừa chết. Nhà cửa, ghe thuyền đánh cá của ông Lời cháy trụi. Ông ấy già rồi, không đi làm biển được. Bà Lời đã 65 tuổi, phải cùng mẹ hai đứa chạy gạo hằng ngày. Hai đứa ở nhà với ông nội, suốt ngày chạy nhảy trên cát, có ông nội trông nom. Chẳng có cơm để ăn cho no, nhưng trời nuôi chúng nó cùng với những thằng con nít biển ở cái làng Thanh Thuỷ mình. Hai đứa tròn như con cúi núi, đang nằm nhắm mắt trên chiếc giường nhà ông Út Đàn như đang ngủ say. Em nhìn quá đau lòng.

Bà Lời, Bà Tám Tiết vừa bước xuống đò sông Trường Giang ở bến giếng Bộng,  nghe tin dữ quăng gánh chạy về nhà. Tất cả không còn gì nữa! Hai mẹ con bà Lời ôm cu Biện, bé Pháp, vật người ra cát khóc lăn lộn.

Bà Lời kêu van:

– Trời xanh ơi, có nhìn thấy ông của tôi không, có thấy hai đứa cháu tôi không. Cháu tôi có tội tình chi, chồng tôi có tội tình chi mà phải chết oan uổng như ri. Trời đất ơi!…

Bà Tám Tiết cũng kêu khóc thảm thiết, nghe vô cùng xốn xang. Bà con dân làng, cán bộ, du kích chạy đến. Họ xúm nhau khâm liệm ông Lời, cu Biện, bé Pháp rồi đem chôn ở ngoài bãi cát, nơi ông Chín Đảo, cha của hai đứa nằm trước đó mấy tháng vì tàu bo bo của Mỹ giết chết ngoài biển

Cũng chiều hôm đó, chú Út biết ông Cầu vẫn còn sống đang nằm tại nhà. Ông Cầu bị bệnh hen kinh niên, trong người lúc nào cũng có bình thuốc. Khi khó thở là ông bơm vào họng, khí quản giãn ra thở được, qua cơn hen thì trở lại bình thường. Ông Cầu về được nhà mình vì khi dứt tiếng máy bay, ông vọt lên trước hai đứa bé, thấy ông già Lời chết, sợ máy bay quay lại, chạy về Thanh Đông rúc hầm nhà mình. Ông Cầu thấy nghẹt thở, nghĩ mình lên cơn hen. Ông cho bình thuốc bóp vào miệng, cứ như vậy bóp mãi sau một tiếng đồng hồ thì khỏi hẳn. Ở trên nhà chú Út, sau một tiếng đồng hồ, cu  Biện và bé Pháp cũng tắt thở. Thật là oan uổng!

Nếu ông Cầu biết nghẹt thở vì hơi ngạt của Mỹ, chú Út nhà mình biết ông Cầu thở được là nhờ thuốc suyễn, nếu không có chiếc tàu rọ tân tiến và thằng Mỹ mặt đó từ bên kia bán cầu đến đây thì hai đứa nhỏ mập tròn lùi lùi đó đâu trở thành những oan hồn bé bỏng. và nếu thằng Thạch con chú Út không chạy về hốt khoai lang sống…Thật là chết sống trong gang tấc.

Còn nữa, em với thằng Y con ông Song bằng tuổi nhau, đi đâu cũng có nhau, chơi cùng chơi, trốn hầm cùng trốn, chạy càn cùng chạy, đi câu đục, đánh lưới bắn thường xuyên bên nhau… Một hôm em và bạn ấy ngồi nói chuyện ngay miệng hầm nhà ông Song, hai đứa đang vui vẻ với những câu chuyện ở tuổi mới lớn, bà ngoại kêu chạy về nhà có chuyện, em nấn ná nhưng bà kêu quá em vọt chạy. Vừa về tới nhà, nghe pháo Núi Cấm đề ba một tiếng gọn lỏn, rồi một cái ầm rung cả đất. Ngó trúng nhà ông Song, em chưa kịp hỏi ngoại cần cái chi, liền bỏ chạy ra lại thấy thằng Y nằm vắt người chỗ miệng hầm, một mảnh pháo xén ngang chỏm đầu….máu loang đầy máu. Thật là đau xót! Chết như trở bàn tay rứa anh. Bà song, chị ba Cử vật người ra khóc. Thằng Y chết ở tuổi mười ba, tội quá. Em ám ảnh mãi hình ảnh thằng bạn thân thiết, một thằng bạn sống chết có nhau.

Cũng trong năm 1966, chị Ba về quê cõng mắm lên Bệnh xá Bắc Tam Kỳ, trúng y đợt máy bay oanh kích. Cả nhà mình chui hầm, một quả bom mấy chục cân rơi trúng nóc hầm nghe cái uỵch. Không nổ! Nổ thì cả nhà mình đi sạch rồi. Tối hôm đó ông ngoại cúng vái  bốn phương tứ hướng tạ ơn trời đất, mừng tai qua nạn khỏi. Họ nói đạn tránh người chứ người không tránh đạn, lần này đạn trúng cả nhà mà không chết mới thiệt là may. Em không biết có ai phò hộ không, mấy năm nay bom đạn dày đặc mà nhà mình không hề hấn gì.

Tội nghiệp cho mẹ. gần một năm nay, mẹ dẫn em ra Bình Hải tá túc, ở quê bọn Biệt lập càn lên biết mặt chúng bắn mẹ ngay. Cả nhà mình theo cách mạng mà. Mẹ ra ngoài đó để lánh mặt bọn tề ngụy địa phương. Ở ngoài Bình Hải, Bình Sa bọn lính không biết mặt. Mẹ đi bán cước lưỡi, bán các thứ lặt vặt kiếm tiền sống qua ngày. Em còn ở nhà, chạy đâu, trốn đâu có mẹ có con, bây giờ mẹ phải sống gửi đất người trên bom dưới đạn một thân một mình. Ba chị em đã đi sạch, mẹ ở quê còn có ông bà ngoại, cùng nhau nấn ná, giờ thì phải một mình, cô đơn trong mịt mù khói lửa…

Hai anh em thằng Cát chuyện trò, nước mắt chảy ròng. Hai thằng cùng hướng về quê, về mẹ với hy vọng và lời cầu khẩn mong manh: “Bao giờ được gặp lại mẹ! Chiến tranh ngày càng khốc liệt, mong không có chuyện chi xảy ra với mẹ của chúng con…”. Trong cuộc chiến này người người trong từng thời khắc đối mặt với hiểm nguy, nhưng họ không lo cho cái thân xác của mình mà nơm nớp, bồn chồn gan ruột mỗi khi nghĩ tới chuyện rủi may của người thân.

Thằng Cát nằm lặng yên nuốt từng lời về chuyện nhà, chuyện quê. Anh em nó gặp nhau giữa chiến khu là một cơ duyên không dễ có, hắn để em kể hết thảy những gì trông đợi mấy năm nay, thỉnh thoảng mới hỏi về những điều cần biết. Hắn nghĩ! Hắn nghĩ…! Cần dặn dò em mình cái gì một khi đã đặt chân vào con đường kháng chiến vạn dặm. Em  còn quá nhỏ, thân xác non tơ, chuyện đạn bom không thể tránh trớ, may nhờ rủi chịu, nhưng chuyện ốm đau, sông nước thì có thể được. Cát rỉ rả truyền cho em một ít kinh nghiệm đã từng:

– Mình dân biển lên núi chống nước, sốt rét dữ lắm. Anh đi mấy năm mới uống một miếng nước lạnh, uống nước nấu sôi để nguội, ngủ bọc võng, giữ rứa mà vẫn sốt trọc đầu. Khó nhất là giữ muỗi ban ngày, bận quần đùi vào rừng chặt cây hái rau dễ bị muỗi đốt, bận quần dài áo dài tay mau rách, kiểu chi cũng khó. Giữ cho được vài năm đầu, thường xuyên thủ lọ thuốc ki-nin trong ba lô, nghe dún dún người uống liền, kỵ nhất là sốt ác tính, nguy hiểm lắm. Sốt rét rừng là bệnh lưu cửu khó tránh khỏi, giữ được chừng nào tốt chừng ấy.

Thứ nữa là chuyện nước non, vượt sông, vượt lũ. Tuy là dân biển, biết bơi biết lội nhưng em sức còn yếu, không có kinh nghiệm qua nước ở miền núi. Mùa đông lũ ở các sông, suối dữ tợn lắm, anh Bốn suýt chết đuối sông Trường đây này. Mình nằm đây là gần sát bờ sông Trường. Nhất là sau cơn sốt, phải cẩn trọng đừng vượt sông ẩu. Anh hồi đó sắp đuối là do mới sốt dậy, người yếu ợt. Biết bơi thì ít sợ chỗ nước sâu, sông rộng, nước ít chảy, nguy hiểm là chỗ nước cạn, nước chỉ ngang bụng chảy như thác, khó cự lại. Mấy anh thanh niên, mạnh, qua nước ưng gùi nặng đằm chân, lội dễ hơn. Cỡ như em yếu, nước xô nhấc hỏng chân, lăn cù theo thác. Đã có rất nhiều trường hợp như thế rồi, bạn anh là anh Thắng ở Kỳ Quế năm ngoái đi chiến dịch, trôi mất tích ở sông Nước Bui cũng trên đất Trà My này.

Còn những chuyện lặt vặt nhưng rất cần cho người ở núi như đi đường phải thủ bật lửa trong túi, không hút thuốc cũng phải có. Đôi khi lạc đường, có đầy đủ dao găm, ăng gô, gạo muối, lương khô, không có bật lửa một mình giữa rừng nhịn đói. Anh đã từng bị rồi, cái nòi mình hay lửng, lạc đôi ba ngày đói vàng mắt.

Nếu em không ra Bắc, chắc theo mấy chú ở dưới tỉnh. Ờ mà chú dẫn em đi đây ở Ban Giao vận Quảng Nam, chú thu nhận thì em cứ về đó. Mấy năm ni em có học thêm được lớp nào nữa không? Có chút chữ đỡ lắm… Nhiều chuyện cần biết tính toán, biết chữ như kế toán, y tá, bên Giao vận hình như có khảo sát làm đường xe thồ, đường ô tô, thanh niên miền Nam thoát ly ít người có chữ, cấp hai là khá rồi. Lính Bắc vào mới có trình độ nhưng hầu hết bên bộ đội, cho đến giờ bên dân chính rất ít, nếu có thì ở các cơ quan lớn xung quanh Khu ủy, Tỉnh ủy chứ chưa có nhiều ở các đơn vị lẻ. Như cơ quan anh, nhà in của Khu mà chỉ có mấy người Bắc vào mới hết cấp III, lính miền Nam đôi ba người hết cấp II, bom đạn thế này có ai học cho nhiều.

– Dạo anh, chị Ba đi rồi quê mình có mở trường cấp II dạy cho con em vùng giải phóng. Mấy anh chị lớn lên Kỳ An, Kỳ Phước học lớp 6, lớp 7, bọn em bắt đầu học lớp 5 tại trường vùng Đông. Học cực lắm, ban đêm mới họp lớp, nay học nhà ni mai học nhà khác, đâu có chỗ cố định, địch chấm tọa độ cân pháo chết ngắt. Rứa mà học được, em học hết lớp 5 và lớp 6 trong hai năm 1966, 1967. Trên bom dưới đạn mà học sinh cố vượt qua hiểm nguy để kiếm cho được cái chữ còn người thầy là chiến sĩ cách mạng. Các thầy hy sinh lớn lắm, ăn cơm nhà đi dạy, không lương bổng, phụ cấp, dân góp gạo nuôi thầy qua ngày. Công ơn người thầy kháng chiến thật to lớn, cái chữ mớm cho học sinh vùng giải phóng phải bằng máu xương, có thầy chết ngay trên bục giảng vì bom pháo. Cuối năm ngoái tất cả các trường nghỉ học, cả thầy trò trường cấp II huyện Bắc Tam Kỳ xung phong đi bộ đội, bọn em còn quá nhỏ, nay trộng xác hơn một tí em mới có thể nhảy núi. Nhỏ quá mấy ông cán bộ không cho đi, các ông nói chưa đủ tiêu chuẩn không đơn vị nào nhận. Đi theo cách mạng chứ đi làm quan tướng chi mà phải tính tiêu chuẩn. Chắc mấy ông sợ chịu không nổi bỏ chạy, còn lâu bọn này mới chạy, người lớn chịu được thì bọn em chịu được. Dù sao nhà mình cũng đã vét sạch người cho kháng chiến, con nhà nòi răng không tin được.

Nghe thằng Dương tâm sự, Cát không ngờ chỉ xa hơn ba năm mà em mình lớn hẳn về suy nghĩ, có lẽ hoàn cảnh buộc phải vậy. Cát đã ngả lòng để Dương ở lại miền Nam tập làm cách mạng như hắn từ ba năm về trước.

Dương còn hỏi Cát đã vào Đảng chưa, hắn cho Cát biết:

– Chị Ba công tác ở Bệnh xá Bắc Tam Kỳ rất tiến bộ. Nghe chị ấy nói với mẹ rằng chị đã được kết nạp Đảng từ cuối năm ngoái. Chị ba nhỏ xác mà bạo gan, làm y tá cứu chữa thương binh tận tình. Được mấy ông Bác sĩ quí, tin tưởng. Cuối năm ngoái, để chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân, chị cùng hai người trong đơn vị đi nhận thuốc. Giữa đường bị địch chặn không về được đơn vị, chị sử hai người giấu thuốc trong núi, theo mấy ông cán bộ thị xã băng đường Một về dưới biển gùi mắm lên. Chị thiệt là liều, dám linh động làm như thế. May mà khi trở lên, mấy gùi thuốc không hề hẩn chi, mất thuốc lấy đâu cứu chữa thương binh khi chiến dịch nổ ra. Nghe nói bị kiểm điểm rát da, nhưng liền sau đó chị lại được vào Đảng. Họ giận mà  thương, thấu hiểu động cơ của các chị, tất cả vì cách mạng, vì đồng đội, vì thương binh. Về vùng Đông là đi vào nơi nguy hiểm chứ sướng ích chi đâu, mấy chị thừa cơ lấp chỗ trống mà được cả đôi đường. Vừa có thuốc vừa có mắm muối cho thương binh. Chắc mấy chị đã tính kỹ, giấu thuốc nơi rất kín đáo mới yên trí về vùng Đông mấy ngày trời. Mà nói thiệt, mấy bả cũng nhớ nhà quá mới bạo thế, mắm chỗ khác thì chưa chắc đã nảy ra sáng kiến đó.

Nè anh với chị Ba đã đi ba bốn năm, ăn cơm của dân răng không thấy cao lên được chút nào cả. Anh, chị Ba Liễu giống mẹ, thấp tịt. Chị Ba hồi mới lên sốt liên miên, chị về phép ngó xanh dờn, giờ thì khỏe lắm. Người nhỏ nhưng họ nói chị Ba cán thương chạy băng băng. Y tá, khi thiếu dân công phải vậy. Chị phấn đấu dữ lắm.

Riêng chuyện học để có chút chữ là thấy mẹ và chị Ba có tư chất giống nhau. Quyết tâm và ý chí. Em còn nhỏ chưa hiểu đời bao nhiêu, nhưng rất tự hào về mẹ, về chị Ba. Nhà mình nghèo, mẹ đơn chiếc, ở biển không có đàn ông là khổ, cha mình đi tập kết bỏ lại cho mẹ ba chị em, chỉ có đôi bầu đường và chiếc đòn gánh, mẹ vẫn cho chị đi học ở Tam Kỳ. Chị Ba học rất giỏi, gái mà cố gắng. Con gái quê mình được học đến đệ lục, đệ ngũ là hiếm. Ở bên nhà nông con cháu địa chủ, phú nông cũng chưa chắc được đi học Trung học. Nhất là con gái, họ nói con gái học nhiều làm gì, học không học cũng đi lấy chồng. Con trai ở biển cũng dễ chi đi học xa, làm biển được mùa liên tục, làm nhà ngói đỏ au nhưng trông con lớn xác đi biển. Anh cứ tính coi, làng mình và những làng biển kế cận… có mấy người học trên tỉnh. Cả xã chưa có người tốt nghiệp tú tài. Cha đi tập kết, được học như chị em mình là hiếm. Mẹ chẳng thua ai đâu. Em thương mẹ vô cùng. Có người chồng đi tập kết, lấy chồng khác bỏ con cho ông bà nội nheo nhóc. Em nghĩ chị em nhà mình rứa là nhất. Ông bà ngoại thương mẹ, thương tụi mình coi ngó giúp, mẹ rảnh tay, rảnh chân chạy chợ buôn bán mới có cho tụi mình ăn học.

Sáng hôm sau, trước khi chia tay Cát không có gì cho em, đi công tác chỉ mang theo chiếc võng, cái ăng gô với mấy lon gạo, chút lương khô. Cát nhìn Dương rớt nước mắt. Dương lấy trong ba lô ra tặng anh trai cái áo sơ mi vải ni lông sọc xanh, Cát mặc hơi chật nhưng là của mẹ may. Cát ôm Dương hôn từ biệt. Thế rồi, hai anh em Cát, Dương mỗi đứa một hướng. Và, chúng nó sẽ đi mô nữa trong thời binh loạn? Chỉ có điều chắc chắn rằng chúng sẽ cùng nhau lấp khuất vào rừng núi Trường Sơn mông mênh theo những tháng năm chinh chiến. Chia tay mà không thể hẹn ngày tái ngộ, Cát để lại địa chỉ cho em trai Nhà in Báo cờ Giải phóng Trung Trung bộ với biệt danh “C.9, Làng Tuyên, Vinh Quang”, Cát chỉ cho em trai dãy núi cao cao chập chùng sương khói phía bờ bắc sông Tranh: anh về nơi đó. Còn thằng Dương, em trai bé bỏng của Cát vẫn chưa biết sẽ về đâu giữa trùng trùng núi non hiểm trở kia.

Cát về tới nhà, cơ quan lại có lệnh lui lên tiếp xã Poa. Trước đó một năm, trong chiến dịch Xuân Mậu Thân, cơ quan Nhà in phải tháp tùng Ban Tuyên huấn Khu 5, từ Trà My bươn dốc cả chục ngày ra phía Đại Lộc, Điện Bàn để tiếp cận Đà Nẵng. Bây giờ Nhà in Báo Cờ giải phóng lại quay về nơi xuất phát. Với giác quan của thằng lính đã trên bốn năm nằm núi, Cát cảm nhận bọn hắn sẽ còn nằm lâu dài ở cái chốn sơn lâm cùng cốc này.  

Bây giờ đồng bào Cơdong lại đón nhận những đứa con Kinh trước đây một năm rơm rớm nước mắt từ biệt về xuôi. Nhưng chúng nó chưa đi được, chúng quay trở lại thiệt rồi! Cái thằng Mỹ kia vẫn còn mạnh lắm. Bọn thằng Cát chưa về đồng bằng, chưa về thành phố được đâu. Mờ mịt khói lửa chiến tranh, đường xa vời vợi, thằng Con của biển chưa biết bao giờ sẽ trở về với làng chài Thanh Thủy mến thương.

Đứng trên đồi cao nhìn phía biển, Cát thầm gọi: Mẹ ơi!….

P.T

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây