Vansudia.netluôn đồng hành cùng bạn đọc trên các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Địa lý và mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan đến Triết học, Văn hóa, Vật lý, Thiên văn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng, đa chiều của bạn đọc ủng hộ và động viên.
Lời người dịch: Người xưa từng có câu Văn ôn võ luyện chính là để nhắc nhở mọi người trong hành trình rèn luyện và cống hiến, thực hiện các việc công – tư đều phải có sự căn bản trên nền tảng trau dồi kiến thức, chăm chỉ thực hành mới có được bản lĩnh và năng lực thực thụ. Đối với Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, những gì đã thể hiện ở thơ ca, nhất là các thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa xã hội, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã cho thấy sự tài hoa và tâm huyết của một vị quan trong xã hội đương thời. Sự tinh tường, tinh thần cầu học, ham hiểu biết của cụ đã thể hiện rất rõ trong văn chương vậy.
ĐA THỨC TẬP (Tập thơbiết nhiều)
Đa thức tập là tập thơ làm cho người ta hay biết thêm nhiều tri thức. Đây là tập thơ Phùng Khắc Khoan phỏng theo tinh thần: Đọc Kinh thi thì biết được nhiều tên chim muông, cây cỏ… của Khổng Tử mà tạo thành. Cũng như Huấn đồng thi tập, Đa thức tập là tập thơ đề vịnh, giáo hối, viết ra với kiến thức uyên bác và mục đích giáo huấn tri thức, đạo lý; giá trị văn chương không được như tập thơ Ngôn chí. Thơ còn khoảng non trăm bài chép trong Toàn Việt thi lục (A.132) tập 21. Ở đây chọn tuyển 22 bài.
Trạng mạo phù ê nhược thị ban, Dã nghi ư thủy bất nghi san. Quan quan thường tại hà châu thượng, Lưỡng lưỡng tương tùy hoài phố gian. Tư mã quan tằng liên hiển quí, Hậu Phi đức khả tỉ u nhàn. Chí nhi hữu biệt vô tương hiệp, Phu phụ chi tình diệc nhất ban.
Dịch nghĩa:
CHIM THƯ CƯU(1 )
Dáng dấp (chim thư cưu) hệt như con giang con sếu, Thích nghi với nước, không thích nghi với núi. “Quan quan” tiếng kêu ở bãi sông; Cặp cặp theo nhau ở bến sông. Sang trọng hiển vinh từng gắn liền với chức quan Tư mã(2 ), Khoan thai nhàn nhã thường so sánh với đức bà Hậu Phi(3 ). Trìu mến mà phân biệt, không sàm sỡ, Tình cảm của chúng, giống hệt tình chồng vợ của con người.
Dịch thơ:
CHIM THƯ CƯU
Thoạt trông chi khác sếu, giang Thân gần sông nước, non ngàn biếng chơi “Quan quan” vang tiếng bãi bồi Thư cưu từng cặp từng đôi thanh nhàn Hiển danh Tư mã thân mang Hậu Phi thường sánh càng sang vẻ ngời Trăm năm vẹn nghĩa như người Kính nhường, chừng mực như đôi vợ chồng.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([1]) Thư cưu: loài chim nước, chúng sống có đôi nhất định, thân mật mà không sàm sỡ, do vậy thiên Quan thư trong Kinh Thi dùng để so sánh với tình cảm chồng vợ tốt đẹp, trong sáng giữa quân tử và thục nữ.
([2]) Thời vua Thiếu Hiệu đời thượng cổ ở Trung Quốc, tên các loài chim được dùng để gọi tên các chức quan. Quan chức mang tên chim cưu lo việc pháp chế, sau này gọi là quan Tư mã.
([3]) Chim thư cưu có dáng hiền hậu, được ví với bà Hậu Phi vợ vua Chu Văn Vương, vì bà có đức dịu dàng thùy mị đáng kính.
Kim y công tử ngọc kỳ tương, Sở sở khôn thường sắc chính hoàng. Thân thượng nhiễm thành Đài lệnh cúc, Thiệt đoan xuy lộng Nữ Oa hoàng. Vu khâu tri chỉ Khổng xưng mỹ, Xuất cốc thiên kiều Thi tán dương. Nhị nguyệt hoàng đô xuân sắc hảo, Anh thanh phi nhập ngự đê dương.
Dịch nghĩa:
CHIM HOÀNG OANH(4 )
Vị công tử áo vàng(5 ) chải chuốt như ngọc, Cái xiêm quẻ khôn(6 ) màu vàng rạng rỡ. Trên mình nhuộm thành màu hoa cúc của quan lệnh họ Đào(7 ), Đầu lưỡi thổi điệu khèn của thần Nữ Oa(8 ). Được Khổng Tử khen ngợi “đậu ở góc gò là biết chỗ đậu”(9 ), Được Kinh Thi tán dương là “ra khỏi hang vắng dời lên cây cao” (10 ). Sắc xuân tháng hai ở hoàng đô tốt đẹp, Tiếng hót ríu rít bay tới cây dương liễu trên bờ đê trong vườn thượng uyển.
Dịch thơ:
CHIM HOÀNG OANH
Vang danh công tử áo vàng Xiêm y ngọc chuốt muôn vàn thanh cao Cúc thơm danh tiếng họ Đào Nữ Oa khúc thức ra vào đúng nơi Khổng Khâu khen nết đứng ngồi Kinh Thi tán tụng thuận thời cây cao Hoàng đô thắm sắc xuân đào Tiếng vang ríu rít bay vào vườn xanh.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([4]) Chim hoàng oanh: loài chim sắc vàng. Kinh Thi có thơ Hoàng điểu.
([5]) Vị công tử áo vàng: biệt hiệu của chim hoàng oanh.
([6]) Cái xiêm quẻ khôn: hào Lục nhị trong quẻ Khôn của Kinh Dịch có câu: “hoàng thường nguyên cát” (màu xiêm vàng là điềm rất tốt lành). Ý nói hào Lục nhị ở quẻ khôn có tính nhu thuận, trung chính, để ví với kẻ bề tôi phục vụ nhà vua hết lòng thì mọi việc tốt lành.
([7]) Quan lệnh họ Đào: tức Đào Tiềm (Đào Uyên Minh) người thời Tấn (Trung Quốc), tính khảng khái, liêm khiết, làm chức Huyện lệnh huyện Bành Trạch. Vì thế, người đời gọi ông là Đào lệnh. Ông lại yêu hoa cúc, một loài hoa nở trong sương gió mùa thu, được tôn là loài hoa có tiết tháo. Vì vậy, người đời thường nói là “Đào lệnh cúc”.
([8]) Điệu khèn của Nữ Oa: Nữ Oa là nhân vật trong thần thoại Trung Quốc, có năng lực luyện đá vá trời và chế tác ra điệu khèn véo von. Ở đây ví chim hoàng oanh hót hay như điệu khèn của bà Nữ Oa.
([9]) Đậu ở góc gò là biết chỗ đậu: Khổng Tử nói Kinh Thi có câu: “Miên man hoàng điểu, chỉ vu khâu ngung” (Véo von hoàng oanh, đậu ở góc gò). Và ông tán dương nó đậu vào nơi đáng đậu, thế là “tri chỉ”. Nhà thơ muốn đề cao đạo lý tri chỉ của bậc sĩ đại phu.
([10]) Ra khỏi hang vắng, dời lên cây cao: thơ Hoàng điểu trong Kinh Thi có câu: “Xuất tự u cốc, thiên vu kiều mộc” (ra từ hang vắng dời lên cây cao) là nói quá trình hoạt động của chim hoàng oanh mang tính chất tiến triển đi lên. Văn chương cổ hay dùng ý này để kích động chí tiến thủ của người sĩ quân tử.
Thiên nữ danh xưng thuyết đáo câm (kim), Cầm trung duy nhĩ dị chư cầm. Vu phi nhật lộng si trì vũ, Học ngữ thời văn thướng há âm. Di noãn tằng trình Thương Tiết thụy, Thuật hoài dị khởi Vệ Khương ngâm. Cao đường tự hữu an thân xứ, Ưng chuẩn vô lao bác kích tâm.
Dịch nghĩa:
CHIM ÉN
Tên gọi là thiên nữ, thuyết ấy truyền đến ngày nay, Trong loài chim chỉ có em là khác với loài chim khác. Bay lên hằng ngày múa đôi cánh xập xòe, Học nói có lúc nghe thấy tiếng lên xuống bổng chìm. Quả trứng bỏ sót lại, từng biểu hiện điềm sinh ông Tiết nhà Thương(11 ), Nói nỗi lòng dễ nổi lên giọng ngâm của nàng Vệ Khương(12 ). Trên nhà cao tự có chỗ yên thân, Bọn chim ưng, chim cắt không phải nhọc lòng vồ bắt.
Dịch thơ:
CHIM ÉN
Tên từ truyền thuyết còn đây Én riêng chức phận thẳng ngay, chung tình Xập xòe nắng gió bình minh Càng thêm tiếng bổng tiếng chìm nước mây Điềm sinh ông Tiết còn đây Trang Khương nước Vệ tình dày Kinh Thi Nhà cao riêng chốn đi về Kia nào ưng, cắt cần chi nhọc lòng.
Phùng Văn Khai dịch
———————
([11]) Thời thượng cổ ở Trung Quốc, mẹ ông Tiết nhặt được quả trứng chim én. Sau khi bà nuốt quả trứng ấy, ít lâu có thai, sinh ra ông Tiết, lớn lên, ông Tiết làm quan với vua Thuấn. Ông Tiết chính là ông tổ khai sáng của nhà Thương sau này.
([12]) Vệ Khương: tức nàng Trang Khương nước Vệ. Bài Yến yến trong Kinh Thi, nói việc Trang Khương tiễn vợ lẽ của chồng về thăm nhà, sau khi Trang Công đã mất. Lời lẽ thống thiết đó là tình cảm chân thành sâu sắc của một quả phụ đối với chúng thiếp của mình.
Thụ thiên chính khí đắc dương sinh, Bắc quốc Nam nhân cộng thức danh. Túc túc phi thời khinh kiện cách, Ung ung minh xứ hưởng hòa thanh. Phán băng lễ trọng tân hôn chí, Đới tuyết thư thông cố quốc tình. Thức tự hướng đồng huynh đệ nghĩa, Nhân nhi cách vật yếu đương minh.
Dịch nghĩa:
CHIM NHẠN
Bẩm thụ chính khí của trời, được khí dương sinh trưởng(13 ), Nước phía Bắc, người phương Nam đều biết tên(14 ). Khi bay chăm chắm, nhẹ đôi cánh khỏe, Chỗ kêu lanh lảnh(15 ) vang tiếng hài hòa. Tan băng giá(16 ) trọng lễ tình tân hôn, Mang theo tuyết, lá thư thông mối tình cố quốc(17 ). Hiểu biết thứ tự, giống như nghĩa tình anh em(18 ), Người “cách vật” cần phải hiểu rõ lẽ ấy(19 ).
Dịch thơ:
CHIM NHẠN
Bẩm sinh dương khí thuận dòng Bắc – Nam biết tiếng hanh thông dặm ngàn Tầng không cánh vững hiên ngang Tiếng kêu lanh lảnh mà mang tin về Tan băng giá, trọng ước thề Mối tình cố quốc thư đề biên phong Dưới trên tình nghĩa ngoài trong Hiền nhân “cách vật” tấm lòng phân ưu.
Phùng Văn Khai dịch
——————-
([13]) Chim nhạn là loài chim thuộc dương, nên gọi là dương điểu. Đó là thiên bẩm của nó.
([14]) Nhạn khi ấm áp thì bay về phương Bắc, khi giá rét thì bay về phương Nam. Cho nên phương Nam, phương Bắc đều biết tên nó.
([15]) Lanh lảnh: bài Bào hữu khổ diệp trong Kinh Thi có câu: “Ung ung minh nhạn (Chim nhạn kêu lanh lảnh).
([16]) Tan băng giá: bài Bào hữu khổ diệp trong Kinh Thi có câu: “Sĩ như quy thê, đãi băng vị phán” (kẻ sĩ rước vợ về nhà, lúc băng giá chưa tan).
([17]) Mang theo tuyết: Tô Vũ đi sứ Hung Nô bị giữ lại chăn dê ở vùng băng tuyết. Ông viết thư buộc vào chim nhạn, để nhạn bay về đất Hán, đậu ở vườn Thượng Lâm. Vua Hán Vũ Đế đi săn bắt được, biết tin Tô Vũ vẫn còn sống. “Thông mối tình cố quốc” là để nói nhờ chim nhạn đưa thư mà nhà vua biết được tin tức và tình cảm của Tô Vũ.
([18]) Đặc tính của chim nhạn khi bay bao giờ cũng có thứ tự như tình anh em không lộn xộn hàng ngũ.
Tri cừ nguyên bất mặc chi đồ, hà sự toàn thân hắc nhiễm ô? Song dực phi lai hồng nhật lý, Sổ thanh đề phá bích vân cù. Hỏa lưu vĩ thượng tường khai Vũ, Mộc túc đài trung triệu ứng Chu. Phản bộ huống năng minh điểm hảo, A Ngô thị nhữ quí tâm vô?
Dịch nghĩa:
QUẠ
Biết chúng vốn không phải là bọn đen như mực, Tại sao toàn thân lại nhuộm mầu đen. Hai cánh bay(20 ) tới chỗ mặt trời hồng, Vài tiếng kêu làm lộ ra con đường mây xanh. Điểm lửa cháy trên đuôi là điểm mở sự nghiệp của Vũ Vương(21 ), Đậu trên cây ở trong đài tạ là điềm ứng vào nhà Chu(22 ). Huống chi lại biết mớm trả lại(23 ), đó là điểm tốt, Chàng họ Ngô(24 ) xem mày có thẹn lòng không.
Dịch thơ:
QUẠ
Vốn không như mực trong nghiên Tấm thân đậm một gam tuyền lạ không Cánh bay vỗ mặt trời hồng Tiếng kêu hé sáng bềnh bồng mây xanh Bao nhiêu huân nghiệp rành rành Khởi ra Vũ Đế, điềm lành Chu Vương Từ ô hiếu thuận hiền lương Chàng Ngô tự thẹn mà thương đến giờ.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([20]) Hai cánh bay: mặt trời còn gọi là kim ô (ác vàng). Thần thoại Trung Quốc nói trong mặt trời có con ác vàng (quạ vàng). Bài này nói về con quạ nên câu thơ vận dụng điển này.
([21]) Vũ Vương: tức Cơ Phát. Trước khi Vũ Vương diệt Trụ, có con quạ bay ra đuôi đỏ như màu lửa cháy, phát ra tiếng kêu lanh lảnh. Người ta cho đó là điềm trời báo tin Vũ Vương đánh thắng Trụ, dựng nên cơ nghiệp nhà Chu.
([22]) Chu Toàn Trung làm quan đời nhà Đường, diệt Đường lập ra nhà Lương, tức Lương Thái Tổ. Trước khi Trung cướp được ngôi nhà Đường, có con quạ đậu trên cây ở tòa Ngự sử đài, kêu oang oang. Có người cho đó là điềm báo Chu Toàn Trung sẽ lên thay nhà Đường làm vua.
([23]) Mớm trả lại: chim quạ còn có tên là chim từ ô (chim quạ hiền thảo), vì nó biết mớm cho quạ già, bố mẹ đẻ ra nó. Cho nên người ta còn gọi quạ là “hiếu điểu”.
([24]) Chàng họ Ngô: anh này không thực hiện trách nhiệm làm con đối với cha mẹ khi già cả. Một hôm anh ta ra ngoài nội thấy quạ con mớm mồi cho quạ già, liền hổ thẹn tự thấy mình không bằng giống chim.