Tập thơ ‘Bầy chim lạc’ của Rabindranath Tagore – Kỳ cuối

Tập thơ ‘Bầy chim lạc’ của Rabindranath Tagore - Kỳ cuối - Người dịch: Bùi Xuân

Tập thơ ‘Bầy chim lạc’ của Rabindranath Tagore – Kỳ cuối

Tác giả: Rabindranath Tagore

Người dịch: Bùi Xuân
(Theo bản dịch từ tiếng Begal sang tiếng Anh của Rabindranath Tagore do The MacMillan Company xuất bản năm 1916.)

 

237
Giọt Mưa thì thầm với Hoa Nhài, “Giữ tôi trong trái tim của bạn mãi mãi.” Hoa nhài thở dài, “Than ôi,” và rơi xuống đất.

237
The raindrop whispered to the jasmine, ‘Keep me in your heart for ever.’ The jasmine sighed, ‘Alas,’ and dropped to the ground.

238
Những suy nghĩ nhút nhát, đừng e sợ tôi.

Tôi là một nhà thơ.

238
Timid thoughts, do not be afraid of me.

I am a poet.

239
Sự im lặng lờ mờ của tâm trí tôi dường như chứa đầy tiếng thỏ thẻ của dế – là mảng màu xám tranh tối tranh sáng của âm thanh.

239
The dim silence of my mind seems filled with crickets’ chirp–the grey twilight of sound.

240
Pháo hoa, sự xúc phạm của bạn đối với các vì sao sẽ theo bạn quay trở lại trái đất.

240
Rockets, your insult to the stars follows yourself back to the earth.

241
Người đã dẫn tôi đi qua chuyến du hành đông đúc ban ngày đến nỗi cô đơn của đêm.

Tôi chờ đợi ý nghĩa của nó thông qua sự tĩnh lặng của đêm.

241
Thou hast led me through my crowded travels of the day to my evening’s loneliness.

I wait for its meaning through the stillness of the night.

242

Cuộc đời này là một chuyến vượt biển, chúng ta gặp nhau trong một con thuyền bé nhỏ.

Đến lúc chết là chúng ta đến bến bờ và mỗi người sẽ đi về thế giới của riêng mình.

242
This life is the crossing of a sea, where we meet in the same narrow ship.

In death we reach the shore and go to our different worlds.

243
Dòng sông chân lí chảy qua các con kênh lầm lỗi.

243
The stream of truth flows through its channels of mistakes.

244
Trái tim tôi hôm nay nhớ da diết từng giờ phút ngọt ngào trên biển cả của thời gian.
244
My heart is homesick to-day for the one sweet hour across the sea of time.

245

Tiếng chim hót là âm vang vọng lại của ánh sáng ban mai từ trái đất.

245
The bird-song is the echo of the morning light back from the earth.

246
Ánh sáng ban mai hỏi cây hoa dại, “Bạn có quá tự hào khi hôn tôi?”

246
‘Are you too proud to kiss me?’ the morning light asks the buttercup.

247
Hoa nhỏ hỏi, “Mặt trời ơi, làm thế nào để tôi có thể ca tụng và tôn thờ người?”

Mặt trời trả lời, “Bằng sự im lặng đơn giản tinh khiết của ngươi.”

247
‘How may I sing to thee and worship, O Sun?’ asked the little flower.

‘By the simple silence of thy purity,’ answered the sun.

248
Con người tồi tệ hơn con vật khi hắn là con vật.

248
Man is worse than an animal when he is an animal.

249

Những đám mây đen trở thành hoa của bầu trời khi nhận được nụ hôn của ánh sáng.

249
Dark clouds become heaven’s flowers when kissed by light.

250
Lưỡi gươm đừng chê cán cùn.

250
Let not the sword-blade mock its handle for being blunt.

251
Sự im lặng của đêm, giống như ngọn đèn sâu thẳm, đốt cháy với ánh sáng của thiên hà.

251
The night’s silence, like a deep lamp, is burning with the light of its milky way.

252
Bao quanh hòn đảo đầy nắng của cuộc sống là biển cả ngày đêm cuộn dâng bài ca bất tận của sự chết.

252
Around the sunny island of Life swells day and night death’s limitless song of the sea.

253
Chẳng phải sao, ngọn núi này là một bông hoa, và chòm đồi kia là những cánh hoa, đang uống ánh mặt trời?

253
Is not this mountain like a flower, with its petals of hills, drinking the sunlight?

254
Cái thực có ý nghĩa bị đọc sai và những điểm nhấn đặt không đúng chỗ trở thành không thực.

254
The real with its meaning read wrong and emphasis misplaced is the unreal.

255

Trái tim tôi ơi, hãy tìm vẻ đẹp của bạn từ sự chuyển động của thế giới, như con thuyền được ân sủng của gió và nước.

255
Find your beauty, my heart, from the world’s movement, like the boat that has the grace of the wind and the water.

256
Đôi mắt không tự hào về tầm nhìn của mình mà về đôi mắt kính của nó.

256
The eyes are not proud of their sight but of their eyeglasses.

257

Tôi sống trong thế giới nhỏ bé của mình và tôi sợ làm cho nó càng nhỏ bé.

Nâng tôi vào thế giới rộng lớn và cho tôi cái tự do được hoan hỉ cho đi tất cả.

257
I live in this little world of mine and am afraid to make it the least less.

Lift me into thy world and let me have the freedom gladly to lose my all.

258
Không bao giờ có thể dùng quyền lực để biến cái giả dối thành cái chân thật.

258
The false can never grow into truth by growing in power.

259
Trái tim tôi, với những con sóng vỗ của bài hát, chờ đợi để vuốt ve thế giới xanh màu lá cây trong những ngày nắng.

259
My heart, with its lapping waves of song, longs to caress this green world of the sunny day.

260
Cỏ bên đường, hãy yêu các vì sao, rồi ước mơ của bạn sẽ đơm hoa.

260
Wayside grass, love the star, then your dreams will come out in flowers.

261
Hãy để âm nhạc của bạn, giống như thanh kiếm, đâm thủng trái tim ồn ào của chợ búa.

261
Let your music, like a sword, pierce the noise of the market to its heart.

262
Những chiếc lá cây run rẩy chạm vào trái tim tôi như các ngón tay của trẻ sơ sinh.

262
The trembling leaves of this tree touch my heart like the fingers of an infant child.

263
Nỗi buồn của linh hồn tôi là tấm mạng che mặt của cô dâu.

Nó chờ đợi để được gỡ ra trong đêm tối.

263
This sadness of my soul is her bride’s veil.

It waits to be lifted in the night.

264
Đóa hoa nhỏ nằm trong bụi.

Nó tìm kiếm đường đi của con bướm.

264
The little flower lies in the dust.

It sought the path of the butterfly.

265
Tôi đang ở giữa trăm ngả đường.

Đêm đến. Hãy mở cửa ra, hỡi thế giới của gia đình.

265
I am in the world of the roads.

The night comes. Open thy gate, thou world of the home.

266
Con đã hát những khúc ca ban ngày.

Buổi tối, hãy để con mang theo chiếc đèn của người băng qua con đường bão tố.

266
I have sung the songs of thy day.

In the evening let me carry thy lamp through the stormy path.

267
Người yêu ơi! Tôi không cầu mong người vào nhà.

Nhưng hãy đi vào sự cô đơn vô hạn của tôi.

267
I do not ask thee into the house.

Come into my infinite loneliness, my Lover.

268
Sinh tử đều là các phần của cuộc sống.

Như bước đi, gồm việc đưa chân lên và đặt chân xuống.

268
Death belongs to life as birth does.

The walk is in the raising of the foot as in the laying of it down.

269

Tôi đã học được ý nghĩa đơn sơ người thì thầm trong hoa và ánh mặt trời- xin dạy cho tôi hiểu lời người trong khổ đau và cái chết.

269
I have learnt the simple meaning of thy whispers in flowers and sunshine- teach me to know thy words in pain and deat

270
Bông hoa đêm muộn màng khi buổi sáng đến hôn nó, nó rùng mình, thở dài rồi rơi xuống đất.

270
The night’s flower was late when the morning kissed her, she shivered and sighed and dropped to the ground.

271
Trong nỗi buồn của vạn vật tôi nghe được tiếng hoàn hảo của Mẹ Vĩnh Cửu.

271
Through the sadness of all things I hear the crooning of the Eternal Mother.

272
Tôi đã đến bờ biển của bạn như một người lạ, tôi sống trong ngôi nhà của bạn như một khách mời, tôi rời khỏi cửa của bạn như một người bạn, trái đất của tôi ơi.

272
I came to your shore as a stranger, I lived in your house as a guest, I leave your door as a friend, my earth.

273

Khi tôi ra đi, hãy để những suy nghĩ của tôi đến cùng người, như ánh tà dương bên lề miền yên lặng long lanh.

273
Let my thoughts come to you, when I am gone, like the afterglow of sunset at the margin of starry silence.

274
Ánh sáng trong tôi như vì sao chiều hôm ngơi nghỉ để rồi nghe tiếng đêm thì thầm lời yêu thương.

274
Light in my heart the evening star of rest and then let the night whisper to me of love.

275
Con là đứa bé trong bóng tối.

Con vươn đôi tay qua tấm chăn màn đêm bao phủ để tìm mẹ, Mẹ ơi.

275
I am a child in the dark.

I stretch my hands through the coverlet of night for thee, Mother.

276
Các công việc của ngày đã xong. Giấu khuôn mặt con trong vòng tay của mẹ, Mẹ ơi.

Hãy để con ước mơ.

276
The day of work is done. Hide my face in your arms, Mother.

Let me dream

277
Chiếc đèn gặp gỡ đã cháy cạn; nó vụt tắt ở giây phút chia tay.

277
The lamp of meeting burns long; it goes out in a moment at the parting.

278
Cõi đời ơi, khi tôi chết, trong vắng lặng của người, chỉ một lời này còn lại, “Tôi đã yêu.”
278
One word keep for me in thy silence, O World, when I am dead, “I have loved.”

279
Chúng ta sẽ tồn tại trong cõi đời này khi chúng ta yêu mến nó.

279
We live in this world when we love it.

280
Hãy để người chết tìm bất tử trong danh tiếng, nhưng người sống thì tìm sự bất tử trong tình yêu.

280
Let the dead have the immortality of fame, but the living the immortality of love.

281
Tôi đã nhìn thấy người như một trẻ thơ chập chờn thức dậy, nhìn thấy mẹ mình trong tranh tối tranh sáng của bình minh và sau đó mỉm cười rồi ngủ lại.

281
I have seen thee as the half-awakened child sees his mother in the dusk of the dawn and then smiles and sleeps again.

282
Tôi sẽ chết một lần nữa và một lần nữa để biết rằng cuộc sống là vô tận.

282
I shall die again and again to know that life is inexhaustible.

283
Khi đang đi với đám đông trên đường, tôi nhìn thấy nụ cười em nơi ban công, tôi đã hát và quên hết mọi ồn ào.

283
While I was passing with the crowd in the road I saw thy smile from the balcony and I sang and forgot all noise.

284
Tình yêu là cuộc sống trong trạng thái tràn đầy như cái cốc có rượu.

284
Love is life in its fulness like the cup with its wine.

285
Họ thắp sáng ngọn đèn của riêng mình và hát những lời của chính họ trong các đền thờ.

Nhưng những con chim hát tên người trong ánh sáng ban mai, bởi tên ngươi là niềm hoan lạc.

285
They light their own lamps and sing their own words in their temples.

But the birds sing thy name in thine own morning light,–for thy name is joy.

286
Dẫn tôi vào cõi im lặng tận cùng của người để rót đầy trái tim tôi tiếng hát.

286
Lead me in the centre of thy silence to fill my heart with songs.

287
Chúa của tôi ơi! Ai muốn sống trong thế giới rộn ràng của pháo hoa thì cứ để họ sống.

Riêng tôi khao khát những vì sao của người.

287
Let them live who choose in their own hissing world of fireworks.

My heart longs for thy stars, my God.

288
Nỗi đau tình yêu trong đời tôi như biển sâu thẳm, và niềm vui tình yêu hót như chim trong vườn nở hoa.

288
Love’s pain sang round my life like the unplumbed sea, and love’s joy sang like birds in its flowering groves.

289

Hãy tắt ngọn đèn khi người muốn.

Tôi sẽ biết bóng tối của người là thế nào và sẽ yêu mến nó.

289
Put out the lamp when thou wishest.

I shall know thy darkness and shall love it.

290
Khi tôi đứng trước mặt người vào lúc cuối ngày, người sẽ nhìn thấy những vết sẹo của tôi, biết là tôi đã có những vết thương và cũng đã được chữa lành.

290
When I stand before thee at the day’s end thou shalt see my scars and know that I had my wounds and also my healing.

291

Một ngày nào đó tôi sẽ hát cho người trong bình minh của một thế giới khác, “Tôi đã nhìn thấy người trước đây trong ánh sáng của trái đất, trong tình yêu của con người.”

291
Some day I shall sing to thee in the sunrise of some other world, “I have seen thee before in the light of the earth, in the love of man.”

292
Những đám mây lang thang trong cuộc sống tôi ngày nọ, nay không còn đổ mưa hoặc bão, mà lại tô màu lên bầu trời hoàng hôn của tôi.

292
Clouds come floating into my life from other days no longer to shed rain or usher storm but to give colour to my sunset sky.

293
Chân lí tạo ra cơn bão, quất vào chính mình, để rải các hạt giống của nó ra xa.

293
Truth raises against itself the storm that scatters its seeds broadcast.

294
Cơn bão đêm qua đã quàng vương miện bình yên huy hoàng lên buổi sáng hôm nay.

294
The storm of the last night has crowned this morning with golden peace.

295
Sự thật dường như đi kèm với quyết định cuối cùng của nó, và quyết định cuối cùng lại sinh ra những quyết định tiếp theo.

295
Truth seems to come with its final word; and the final word gives birth to its next.

296

Phúc thay cho kẻ nào không cần phải để danh tiếng đánh bóng sự thật cho mình.

296
Blessed is he whose fame does not outshine his truth.

297

Vị ngọt của tên bạn lấp đầy cõi lòng tôi khi tôi quên vị ngọt của chính mình – giống như mặt trời của buổi sáng lúc sương mù tan chảy.

297
Sweetness of thy name fills my heart when I forget mine–like thy morning sun when the mist is melted.

298
Đêm im lặng có vẻ đẹp của người mẹ và ngày ồn ào có vẻ đẹp của đứa trẻ.

298
The silent night has the beauty of the mother and the clamorous day of the child.

299
Thế giới yêu mến con người khi họ mỉm cười thân thiện. Thế giới trở nên sợ hãi con người khi họ đắc thắng.

299
The world loved man when he smiled. The world became afraid of him when he laughed.

300

Thượng đế chờ đợi con người để lấy lại tuổi thơ của mình trong sự khôn ngoan.

300
God waits for man to regain his childhood in wisdom.

301

Hãy để tôi cảm thấy thế giới này là hiện hình tình yêu của người, rồi tình yêu tôi sẽ trợ giúp thêm.

301
Let me feel this world as thy love taking form, then my love will help it.

302
Ánh nắng mặt trời của Chúa mỉm cười với những ngày mùa đông của trái tim tôi, không bao giờ nghi ngờ những đóa hoa xuân trong đó.

302
Thy sunshine smiles upon the winter days of my heart, never doubting of its spring flowers.

303
Trong tình yêu, nụ hôn của Thượng đế là hữu hạn nhưng với con người là vô biên.

303
God kisses the finite in his love and man the infinite.

304
Người đi qua vùng đất sa mạc bao nhiêu năm tháng cằn cỗi để đạt đến thời điểm hoàn thành.

304
Thou crossest desert lands of barren years to reach the moment of fulfilment.

305
Sự im lặng của Thượng đế giúp suy nghĩ của con người chín muồi thành lời nói.

305
God’s silence ripens man’s thoughts into speech.

306

Này du khách Vĩnh Cửu, bạn sẽ tìm thấy dấu chân của mình qua các bài hát của tôi.

306
Thou wilt find, Eternal Traveller, marks of thy footsteps across my songs.

307
Xin cho con không hổ thẹn, Cha ơi, người đã hiển thị vinh quang ở con cái của người.

307
Let me not shame thee, Father, who displayest thy glory in thy children.

308

Ủ rũ là ngày, ánh sáng theo những đám mây cau mày giống như một đứa trẻ bị trừng phạt còn dấu vết của những giọt nước mắt trên đôi gò má xanh xao, và tiếng kêu của gió giống như tiếng kêu của một thế giới bị thương. Nhưng tôi biết tôi đang đi du lịch là để gặp Người Bạn của mình.

308
Cheerless is the day, the light under frowning clouds is like a punished child with traces of tears on its pale cheeks, and the cry of the wind is like the cry of a wounded world. But I know I am travelling to meet my Friend.

309
Tối nay, tiếng xào xạc trong đám lá cọ, biển dâng lên, vầng trăng tròn, như nhịp tim của thế giới. Từ cõi trời nào người đã mang trong im lặng nỗi đớn đau thầm lặng của tình yêu?

309
To-night there is a stir among the palm leaves, a swell in the sea, Full Moon, like the heart throb of the world. From what unknown sky hast thou carried in thy silence the aching secret of love?

310
Tôi mơ ước một vì sao, một hòn đảo của ánh sáng, nơi tôi sẽ được sinh ra và trong sâu thẳm nhàn tản thành quả của đời mình sẽ chín muồi như cánh đồng lúa trong nắng thu.

310
I dream of a star, an island of light, where I shall be born and in the depth of its quickening leisure my life will ripen its works like the ricefield in the autumn sun.

311
Trong mưa, mùi đất ẩm ướt bốc lên giống như một bài ca chúc tụng của đám bầy nhầy vô nghĩa vô thanh.

311
The smell of the wet earth in the rain rises like a great chant of praise from the voiceless multitude of the insignificant.

312
Tình yêu có thể sẽ mất, đó là một thực tế mà chúng ta không thể chấp nhận như là chân lí .

312
That love can ever lose is a fact that we cannot accept as truth.

313
Chúng ta biết rằng một ngày nào đó cái chết có đến cũng không cướp được những gì linh hồn của chúng ta đã đạt được, bởi những thứ đó đã là đồng nhất với chính linh hồn chúng ta.

313
We shall know some day that death can never rob us of that which our soul has gained, for her gains are one with herself.

314
Thượng đế đến với tôi trong nhá nhem tối mang theo chiếc giỏ chứa đầy bông hoa từ thời quá vãng của tôi còn thật tươi nguyên.

314
God comes to me in the dusk of my evening with the flowers from my past kept fresh in his basket.

315

Thầy ơi, khi tất cả các dây đàn của cuộc đời con đã được lên dây, thì khi người kẽ chạm vào, nó sẽ vang lên khúc nhạc tình yêu.

315
When all the strings of my life will be tuned, my Master, then at every touch of thine will come out the music of love.

316
Chúa ơi, hãy để con sống thực, cho cái chết đối với con là sự thật.

316
Let me live truly, my Lord, so that death to me become true.

317
Lịch sử con người đang kiên nhẫn chờ đợi chiến thắng của con người bị xúc phạm.

317
Man’s history is waiting in patience for the triumph of the insulted man.

318
Tôi cảm thấy đôi mắt của người trên trái tim tôi giống như sự tĩnh lặng của mặt trời buổi sáng trên các cánh đồng quạnh hiu sau mùa gặt hái.

318
I feel thy gaze upon my heart this moment like the sunny silence of the morning upon the lonely field whose harvest is over.

319
Tôi mong chờ hải đảo những bài hát trong lô nhô trên sóng biển cuồng nộ.

319
I long for the Island of Songs across this heaving Sea of Shouts.

320
Khúc dạo đầu của bài ca đêm bắt đầu từ lúc hoàng hôn, trong bản thánh ca trang nghiêm cho bóng tối mịt mùng.

320
The prelude of the night is commenced in the music of the sunset, in its solemn hymn to the ineffable dark.

321
Leo lên đỉnh cao, tôi không tìm thấy nơi trú ẩn trên đỉnh cao ảm đạm, cằn cỗi của danh vọng. Người dẫn đường ơi, trước khi hoàng hôn mờ tối hãy dẫn dắt tôi vào thung lũng yên tĩnh mà mùa màng cuộc sống đang chín vàng màu thông tuệ.

321
I have scaled the peak and found no shelter in fame’s bleak and barren height. Lead me, my Guide, before the light fades, into the valley of quiet where life’s harvest mellows into golden wisdom.

322
Những điều trông tuyệt vời trong tranh tối tranh sáng của hoàng hôn- các ngọn tháp mất hút trong bóng đêm và ngọn cây đen như vết mực. Tôi sẽ chờ đợi buổi sáng và thức dậy để xem thành phố của người trong ánh sáng.

322
Things look phantastic in this dimness of the dusk–the spires whose bases are lost in the dark and tree tops like blots of ink. I shall wait for the morning and wake up to see thy city in the light.

323
Tôi từng chịu đau khổ tuyệt vọng và từng biết đến cái chết nhưng tôi sung sướng là mình đã ở trong thế giới vĩ đại này.

323
I have suffered and despaired and known death and I am glad that I am in this great world.

324
Trong cuộc sống của tôi có những khoảng trống và im lặng. Đó là những không gian mở, cho những ngày bận rộn của tôi có được ánh sáng và khí trời.

324
There are tracts in my life that are bare and silent. They are the open spaces where my busy days had their light and air.

325
Xin cho tôi được thoát khỏi những công việc trong quá khứ chưa kịp hoàn thành còn đeo đẳng sau lưng để dễ từ biệt cõi đời này.

325
Release me from my unfulfilled past clinging to me from behind making death difficult.

326
Đây là lời nói cuối cùng của tôi, rằng tôi tin ở tình yêu của con người.

326
Let this be my last word, that I trust in thy love.

Hết

TIẾNG GỌI TỪ BẦY CHIM LẠC

         

Rabindranath Tagore (6 tháng 5 năm 1861 – 7 tháng 8 năm 1941) là một nhà thơ Bengal, một nhà triết học, nhà dân tộc chủ nghĩa được trao Giải Nobel văn học năm 1913, trở thành người châu Á đầu tiên đoạt giải này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu nhận xét: “Đại văn hào Rabindranat Tago cả thế giới đều kính trọng” (Nhân Dân, ngày 19-3-1958).

 Mới đây thôi, ngày 9 tháng 11 năm 2011, nhân kỉ niệm 150 năm ngày sinh và 70 năm ngày mất của R. Tagore, tại Hà Nội, Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia đã phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam mở hội thảo quốc tế về cuộc đời và di sản vĩ đại của Rabindranath Tagore.

Các chuyến đi vòng quanh thế giới đã giúp ông hiểu và thông cảm với nhiều dân tộc. R.Tagore từng đến Việt Nam. Ông được xem là biểu tượng điển hình cho sự kết hợp tinh tế của phương Đông và phương Tây trong văn chương và triết học. R.Tagore là con người giàu lòng yêu nước, có tinh thần nhân loại.

Thơ ông đến với độc giả Việt Nam qua các bản dịch của Đỗ Khánh Hoan, Đào Xuân Quý, Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu, Lưu Đức Trung, Phạm Hồng Dung, Phạm Bích Thủy và một số dịch giả khác.

Trong di sản vĩ đại của R.Tagore, có tập thơ Bầy chim lạc (Stray Birds). Tập thơ được xuất bản năm 1916, gồm 326 bài thơ ngắn. Đây cũng là tập thơ do chính R.Tagore chuyển ngữ từ tiếng Bengal sang tiếng Anh. Tác phẩm này được Đào Xuân Quý dịch và giới thiệu số bài (Xem R.Tagore, Thơ, NXB Văn học, HN 2009). Lần này, Bùi Xuân đã dịch đầy đủ 326 bài, có kèm bản Tiếng Anh để tiện đối chiếu.

Tập thơ mở đầu bằng những cánh chim mùa hè bay lạc đến cửa sổ của nhà thơ, rồi cất lên tiếng hót. Tiếng hót ấy đã lang thang qua nhiều vùng, nhiều bầu trời, nhiều thời điểm khác nhau,…làm nên những cung bậc tình cảm, những ước vọng cao đẹp, những ý tưởng sâu xa, những hồi hộp tâm tình, những bùng cháy tình yêu, những tin tưởng đối với con người,…            

Trong Bầy chim lạc, R.Tagore tự nhận mình là nghệ sĩ bé nhỏ trên cõi đời này, mang nụ cười, giọt nước mắt, ngọn lửa hi  vọng, nỗi buồn của trái tim,… đến với mọi người, đến với cuộc đời. Và, cứ thế, như một hành giả, nhà thơ trải lòng mình ra với đời sống mến yêu này:

Thế giới mở rộng tấm lòng của ánh sáng ban mai                                        

Hãy bước ra, trái tim tôi, đem tình yêu đến gặp gỡ thế giới này.                                                                                     (Bài số 149)

Đêm âm thầm mở ra những đóa hoa để cho ngày nhận được lời cảm ơn. (Bài số 157)

Điều khiến tôi băn khoăn, có phải hồn tôi muốn ra ngoài trời rộng, hay là hồn đời gõ cửa trái tim tôi đòi mở lối vào?

                                                                            (Bài số 168)

Trái tim tôi trải rộng cánh buồm cho ngọn gió nhàn tản đưa đến hòn đảo râm mát ở bất cứ nơi nào. (Bài số 218)

Hãy cho ta làm chiếc cốc của ngươi và trọn vẹn những gì bên trong đó dành cho ngươi và cho mọi người. (Bài số 220)

Xuất thân trong một gia đình quý tộc Bà la môn, song vì chống lại sự bất công của đẳng cấp, R.Tagore bị khai trừ ra khỏi đẳng cấp. Ông không lấy thế làm buồn, trái lại, ông lại càng gắn bó sâu sắc hơn với cuộc sống, với nhân dân của mình. Với một trái tim hay xúc động, ưa trầm tư suy nghĩ, sau những mất mát của người thân (1902: vợ chết, 1904:con gái thứ hai qua đời, 1905: người cha thân yêu và đầy kính trọng cùng người anh vĩnh biệt cõi thế, 1907: con trai đầu ra đi), R.Tagore thường đến với thiên nhiên, ngắm mây trời trôi lơ lững, nghe tiếng sóng vỗ, nhìn dòng sông lấp loáng dưới nắng chiều, nghe bước đi chầm chậm của thời gian, suy tư về những vấn đề triết học. Có lần, trong Bầy chim lạc, nhà thơ thổ lộ:

Hãy lắng nghe, trái tim tôi, những lời thì thầm của thế giới mà lòng mình đã yêu thương. (Bài số 13)

Nơi bờ biển của thế giới, trái tim tôi sóng vỗ và viết trong nước mắt dòng chữ, “Tôi yêu người”. (Bài số 29)

Mây lấp đầy nước cho sông đang ẩn mình trong những ngọn đồi xa. (Bài số 174)

Tôi giống như con đường trong đêm nằm nghe tiếng chân của kỉ niệm trong im lặng. (Bài số 182)

Tôi là đám mây mùa thu, không còn giọt mưa nào, tôi nhìn thấy sự viên mãn của mình ở cánh đồng lúa chín. (Bài số 185)

R.Tagore luôn cất lên tiếng hát trữ tình, ca ngợi tình yêu thương cao cả, rộng lớn giữa con người với con người và cũng cảnh báo về sự vô cảm với cuộc đời. Ông nói về cái thiện, cái chân, đức tin, lòng trắc ẩn,…bằng tất cả sự chân thành:

Tôi không thể lựa chọn cái tốt nhất. Cái tốt nhất lựa chọn tôi.                                                                                  (Bài số 20)

Tôi hắt bóng tối trên đường bởi chiếc đèn của tôi chưa được thắp sáng. (Bài số 109)

Tôi có những vì sao trên trời, Nhưng, chao ơi, chiếc đèn nhỏ trong nhà tôi chưa thắp. (Bài số 146)

Đêm âm thầm mở ra những đóa hoa để cho ngày nhận được lời cảm ơn. (Bài số 157)

Tôi cảm thấy đôi mắt của người trên trái tim tôi giống như sự tĩnh lặng của mặt trời buổi sáng trên các cánh đồng quạnh hiu sau mùa gặt hái. (Bài số 318)

Đây là lời nói cuối cùng của tôi, rằng tôi tin ở tình yêu của con người. (Bài số 326)         

R.Tagore tin rằng: “Thượng đế yêu thương ánh sáng ngọn đèn của con người hơn cả các vì sao tuyệt vời của mình” (Bài số 194). Nhiều câu thơ của R.Tagore thống thiết như trái tim rạn vỡ về tình yêu con người: “Các cơn bão giống như tiếng kêu đau đớn của một vị thần khi lòng yêu thương của ngài bị trái đất chối từ” (Bài số 221) hay “Nỗi đau tình yêu trong đời tôi như biển sâu thẳm, và niềm vui tình yêu hót như chim trong vườn nở hoa” (Bài số 288), lại có khi: “Người yêu ơi! Tôi không cầu mong người vào nhà. Nhưng hãy đi vào sự cô đơn vô hạn của tôi” (Bài số 267).

R.Tagore có những vần thơ viết về phụ nữ rất đằm thắm, với các so sánh, liên tưởng bất ngờ, đem lại những mĩ  cảm cho người đọc:

Phụ nữ, khi họ chăm lo cho gia đình, chân tay của họ hát như dòng suối chảy theo triền đồi róc rách giữa các viên đá sỏi. (Bài số 38)

Ta cảm nhận, đêm tối có vẻ đẹp giống như của người phụ nữ được yêu khi nàng vừa thổi tắt ngọn đèn. (Bài số 120)

Phụ nữ, với những ngón tay dịu dàng, họ đã chạm vào những gì ta có và sắp xếp những thứ đó thành âm nhạc. (Bài số 143)

Phụ nữ, người bao phủ trái tim của thế giới bằng dòng lệ thẳm sâu, như biển cả bao bọc trái đất. (Bài số 179)

Trong tiếng cười của phụ nữ có âm nhạc của suối nguồn cuộc sống.     (Bài số 192) 

Đêm im lặng có vẻ đẹp của người mẹ và ngày ồn ào có vẻ đẹp của đứa trẻ. (Bài số 298)           

Nếu đa thần giáo tôn thờ các vật thể làm thần thì con người cũng là bản thể đáng tôn thờ. Tư tưởng phiếm thần luận (Pantheisme) này của R.Tagore dẫn đến việc tôn trọng cuộc đời và con người cùng những sản phẩm do con người tạo ra: “Cõi đời ơi, khi tôi chết, trong vắng lặng của người, chỉ một lời này còn lại, “Tôi đã yêu”(Bài số 278). Hoặc có chỗ, nhà thơ viết : “Chúng ta sẽ tồn tại trong cõi đời này khi chúng ta yêu mến nó” (Bài số 279). Tình yêu cuộc sống khiến R.Tagore cũng yêu luôn cái chết, không sợ cái quy luật muôn đời của nhân gian:

Những khoảng trống trong cuộc đời là chỗ để điệu nhạc buồn của cái chết len qua. (Bài số 148)                   

Mạch nguồn của cái chết khơi động dòng nước tĩnh lặng của sự sống. (Bài số 225)

Tôi sẽ chết một lần nữa và một lần nữa để biết rằng cuộc sống là vô tận (Bài số 282)

Khi tôi ra đi, hãy để những suy nghĩ của tôi đến cùng bạn, như ánh tà dương bên lề miền yên lặng long lanh. (Bài số 273)

Giống như Thơ Dâng, Người làm vườn, Mùa hái quả, Mảnh trăng non, cái tôi trữ tình của nhiều bài thơ ngắn trong Bầy chim lạc là cái “tôi” của chủ thể trữ tình luôn hướng về vẻ đẹp của trần thế. Chỉ có điều là, cái “tôi” này  không hoặc ít sử dụng dạng câu cầu khiến, câu cảm thán.

Những tập thơ khác chứa đựng nhiều bài thơ dài, diễn tả trọn vẹn một nội dung, có khi một câu chuyện. Trong Bầy chim lạc thì không thế. Ở đây, thơ ngắn hơn. Phần lớn các bài chỉ trên dưới 20 âm tiết trở lại. Nó giống như chuỗi hạt vàng trên vòng cườm của những chú chim. Vòng cườm đa sắc ấy pha nhiều màu của các khung cảnh thiên nhiên mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, làm nên tiếng thơ riêng, không giống với các tập thơ khác của R.Tagore.

Tác giả hóa thân vào “sóng biển”, “dòng sông”, “cánh buồm”, “con đường”, “hạt sương”, “cánh đồng”, “ngọn đồi”, “giọt nước mắt”, “mặt trời”, “bầu trời đêm”, “vì sao trên trời”,”ngọn đèn nhỏ”, “cơn bão”, “đôi mắt”, “trái tim”, “tiếng hát”,…để gửi gắm niềm tin yêu, khát vọng sống, ước nguyện chân thành đối với cuộc đời và con người. Điều này phản ánh sự tiếp biến văn hóa của R.Tagore. Cách đây hằng nghìn năm, kinh Vệ Đà đã ghi: “Trong tất cả mọi cái gì đang tồn tại, trong tất cả mọi cái gì sẽ tồn tại, Con Người là và sẽ là Tối Cao”. Thơ R. Tagore cũng vậy. Cái chỗ đến cuối cùng của thơ vẫn là con người.

Trong Bầy chim lạc có không ít những câu thơ như những châm ngôn đầy tính chất triết luận về lẽ sống ở đời. Nếu tách ra, đứng riêng, nó sẽ là những danh ngôn hay, sâu sắc và tinh tế:

Này sắc đẹp, hãy tìm hình ảnh ngươi trong tình yêu, chứ không phải trong sự tán tỉnh của chiếc gương soi. (Bài số 28)

Thượng đế tìm thấy mình trong sự sáng tạo. (Bài số 46)

Cảm ơn ngọn đèn cho ánh sáng, nhưng đừng quên cái chân đèn nhẫn nại đứng trong bóng tối triền miên. (Bài số 64)

Bụi đất nhận điều sỉ nhục và trả lại cho đời những bông hoa. (Bài số 101)

Nếu bạn đóng cửa nhốt hết mọi lỗi lầm thì chân lí  phải bị đứng ngoài. (Bài số 130)

Con người tồi tệ hơn con vật khi hắn là con vật. (Bài số 248)

Lưỡi gươm đừng chê cán cùn. (Bài số 250)

Thế giới yêu mến con người khi họ mỉm cười thân thiện. Thế giới trở nên sợ hãi con người khi họ đắc thắng. (Bài số 299)

Những câu thơ tựa như châm ngôn đã phản ánh sự trải nghiệm, lòng khát khao về một xã hội công bằng và nhân ái của R.Tagore. Điều này có cội nguồn từ văn hóa cổ xưa, từ lòng từ bi của các tôn giáo Ấn Độ.

Bầy chim lạc là sự hòa quyện thiên nhiên, đất nước và con người Ấn Độ. R.Tagore, nhà nhân văn chủ nghĩa này đã tung những cánh chim, bay qua bầu trời, gieo những tiếng hót lảnh lót như bao giọt sương trong lành của buổi sáng xuân: “Tiếng chim hót là âm vang vọng lại của ánh sáng ban mai từ trái đất”. (Bài số 245)  

Đà Nẵng, tháng 02 năm 2012
TS.HUỲNH VĂN HOA

 

LỜI CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:
– Nhà giáo Nguyễn Hải (tức Nhà thơ Hải Nguyên), nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ và Văn học nước ngoài, Trường Đại học Tổng hợp Huế, nay là Trường Đại học Khoa học Huế;
– Nhà giáo, Nhạc sĩ Tôn Thất Lan, người đã chuyển ngữ nhiều tác phẩm dân ca và truyện ngắn Việt Nam sang tiếng Anh;
– Ông Võ Văn Thắng, Thạc sĩ Văn chương (Đại học Cornell, Hoa Kỳ).
– Ông Huỳnh Văn Hoa, Tiến sĩ Ngữ văn.
– Ông Trương Công Báo, Giám đốc Nhà xuất bản Đà Nẵng;
– Ông Nguyễn Kim Huy, Thạc sĩ Ngữ văn, Trưởng Ban biên tập Nhà xuất bản Đà Nẵng;
– Cùng các Nhà thơ, Nhà giáo: Đỗ Xuân Đồng, Nguyễn Nho Khiêm, Mai Hữu Phước, Phụng Lam, Nguyễn Thị Diệu Trâm…;
đã động viên và góp ý cho chúng tôi trong quá trình chuyển ngữ tập thơ này.

Người dịch

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây