Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 20]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 20]

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI

DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT

(Kỳ thứ hai mươi)

Lời người dịch: Với kiến văn và thực học của mình, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan trong gia tài văn chương đã đề lại những dấu ấn sâu đậm tới hôm nay. Mảng đề tài các loài thực vật, cây cối các hệ sinh trưởng của quan Trạng càng vô cùng phong phú. Trong một tác phẩm thơ Nôm Lâm tuyền vãn với hàng trăm câu lục bát mang tính chỉ dẫn cách thức trồng cấy, đặc tính sinh trưởng và sự diệu dụng của các thức cây gần gũi quanh vườn nhà. Càng sâu sắc hơn, ở những khung cảnh rộng lớn với tư thế đối diện, triết luận và ngẫm ngợi, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan đã có những bài thơ tuyệt hay về cây được giới thiệu trong kỳ này.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai

 

荇 菜

說 見 葩 經 號 接 余
根 生 水 底 異 園 蔬
參 差 葉 向 波 中 泛
肥 嫩 茎 常 釵 股 如
柔 順 有 同 文 后 德
潔 芳 可 為 廟 庭 葅
况 如 脆 美 偏 空 酒
風 味 誰 知 更 有 餘

 

Phiên âm:

HẠNH THÁI

Thuyết kiến ba kinh hiệu tiếp dư,
Căn sinh thủy để dị viên sơ.
Sâm si diệp hướng ba trung phiếm,
Phì nộn kinh thường thoa cổ như.
Nhu thuận hữu đồng Văn Hậu đức,
Khiết phương khả vị miếu đình thư.
Huống như xuệ mĩ thiên không tửu,
Phong vị thùy tri cánh hữu dư.

 

Dịch nghĩa:

RAU HẠNH(1 )

Thấy ở Kinh Thi(2 ) loại này gọi là rau “tiếp dư”(3 ),
Rễ mọc ở đáy nước, không giống loài rau dưa trong vườn.
Lá nhấp nhô, lênh đênh trong sóng,
Nhánh mập mạp, giống cành thoa cài đầu.
Mềm mại, thuần hòa như đức bà Hậu Phi(4 ),
Thơm, sạch có thể làm rau tiến cúng nơi miếu đình.
Huống chi lại rất ngon, dễ làm vơi chén rượu,
Ai đã nếm phong vị của nó, càng thấy dạt dào.

 

Dịch thơ:

RAU HẠNH

“Tiếp dư” chép ở Kinh Thi
Thân vươn đáy nước nhu mì sáng trong
Lênh đênh ngọn sóng theo dòng
Nhánh cành mập mạp như bông thoa cài
Hậu Phi đức hạnh liên tài
Tấm lòng thơm thảo hôm mai miếu đình
Đầy vơi ta cạn với mình
Trăm năm hầu dễ nghĩa tình phôi pha.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([1]) Rau hạnh: một loài rau mọc dưới nước. Thiên Quan thư trong Kinh Thi có câu: “Sâm si hạnh thái” (Rau hạnh cọng dài cọng ngắn không đều nhau).

([2]) Kinh Thi: Hàn Dũ gọi Kinh ThiBa kinh. “Ba” nghĩa là “đẹp”.

([3]) Tiếp dư: một tên gọi khác của “hạnh thái”.

([4]) Bà Hậu Phi (vợ vua Chu Văn Vương) vốn nổi tiếng về đức hạnh. Cho nên thơ cổ thường dẫn làm điển tích về đức hạnh.

 

 

葛 類 原 來 不 一 名
巨 瓜 本 是 蔓 延 生
花 生 夏 仲 爭 開 艷
實 向 秋 先 早 結 成
樛 木 曾 聞 稱 樂 德
旄 丘 何 至 動 憂 情
一 般 物 有 一 般 理
君 子 須 當 格 致 精

 

Phiên âm:

LŨY

Cát loại nguyên lai bất nhất danh,
Cự qua bản thị mạn diên sinh.
Hoa sinh hạ trọng tranh khai diễm,
Thực hướng thu tiên tảo kết thành.
Cù mộc tằng văn xưng lạc đức,
Mạo khâu hà chí động ưu tình.
Nhất ban vật hữu nhất ban lý,
Quân tử tu đương cách trí tinh.

 

Dịch nghĩa:

CÂY CÁT LŨY(5 )

Loài sắn dây vốn không phải là một tên gọi,
Đến như loại dưa lớn cũng vốn là giống mọc bò lan.
Hoa nở giữa mùa hè, đua nhau phô sắc đẹp,
Quả ra đầu mùa thu, sơm sủa kết thành.
Từng nghe ngợi khen đức vui vẻ trong thơ Cù mộc(6 ),
Sao đến nỗi chạnh niềm lo lắng trong thơ Mạo khâu(7 ).
Mỗi giống vật đều có cái lẽ riêng của nó,
Bậc quân tử phải nên thấu suốt tinh vi(8 ).

 

Dịch thơ:

CÂY CÁT LUỸ

Sắn dây chung gốc cội cành
Kìa loài dưa mọc cùng xanh chân trời
Hè sang phô sắc thanh thơi
Mùa thu kết trái tay người thảo thơm
Sánh cùng Cù mộc công ơn
Chạnh niềm riêng mỗi oán hờn Mạo khâu
Lẽ riêng riêng của ai đâu?
Ơi người quân tử muôn sau tạc lòng.

Phùng Văn Khai dịch

——————

([5]) Cát lũy: một loại dây leo, thuộc họ hàng của sắn dây.

([6]) Cù mộc: một loại cây mọc cong cong; cũng là tên một thiên trong thơ Chu Nam, Kinh Thi, nội dung ca ngợi bà Hậu Phi (vợ Văn Vương) độ lượng với các bà vợ lẽ. Cho nên họ ca ngợi đức độ của bà như cây cong để loài dây leo nương tựa.

([7]) Mạo khâu: tên một thiên trong Kinh Thi, nói bề tôi nước Lê lưu vong sang nước Vệ, không được nước Vệ cứu giúp. Họ lo lắng, làm thơ Mạo khâu tỏ ý trách móc nước Vệ.

([8]) Thấu suốt: được dịch thoát ý từ hai chữ “cách trí”, tức “cách vật trí tri”. Theo Tăng Tử trong sách Đại học thì “cách vật trí tri” là cái học thấu suốt mọi sự vật và hiểu biết lý lẽ sự vật đến mức tận cùng.

 

 

芥 看 凡 卉 總 紛 紛
酷 愛 江 東 水 上 蘋
茁 葉 每 於 春 以 後
托 根 都 是 水 之 濱
仙 人 薄 采 風 流 異
宗 廟 虔 將 禮 意 新
花 客 真 為 知 味 者
釋 來 葩 傳 豈 無 因

 

Phiên âm:

TẦN

Giới khan phàm hủy tổng phân phân,
Khốc ái Giang Đông thủy thượng tần.
Đốt diệp mỗi ư xuân dĩ hậu,
Thác căn đô thị thủy chi tần.
Tiên nhân bạc thái phong lưu dị,
Tôn miếu kiền tương lễ ý tân.
Hoa khách chân vi tri vị giả,
Thích lai Ba truyện khởi vô nhân.

 

Dịch nghĩa:

RAU TẦN(9 )

Loại rau thường biết bao mà kể,
Rất đáng yêu, rau tần mọc ở trên nước miền Giang Đông(10 ).
Lá xanh mơn mởn từ mùa xuân trở đi,
Rễ bám đều là ở bến sông nước.
Người tiên(11 ) đi hái lượm coi vẻ phong lưu khác thường,
Nhà tôn miếu dâng lễ tâm thành với ý niệm mới(12 ).
Hoa khách(13 ) thật là kẻ biết mùi vị,
Đem [rau tần] chú thích vào Kinh Thi lẽ nào không có nguyên nhân.

 

Dịch thơ:

RAU TẦN

Bạt ngàn bờ bãi mom sông
Thêm yêu bóng nước Giang Đông gọi mời
Cành xanh mơn mởn dưới trời
Rễ siêng năng cũng như người siêng năng
Tay tiên hái lượm thung thăng
Tâm thành dâng cúng miếu đường xưa nay
Bậc hiền trí tuệ thẳng ngay
Kinh Thi trang sách luống dày phong tư.

Phùng Văn Khai dịch

———————

([9]) Rau tần: loại rau ăn được, mọc ở trên nước. Thơ Thiệu Nam trong Kinh Thi có bài Thái tần ca ngợi các vị phu nhân – vợ vua chư hầu cần kiệm, chăm lo việc phục vụ cúng tế tôn miếu. Họ đi hái rau tần, rau tảo về làm canh cúng lễ tổ tiên.

([10]) Giang Đông: thuộc lưu vực sông Trường Giang ở phía Nam.

([11]) Người tiên: ở đây chỉ các bà phu nhân hái rau tần, rau tảo trong thơ Thái tần.

([12]) Ý nói rau tần là thứ lễ vật cúng tế tôn miếu.

([13]) Hoa khách: chỉ vị học giả nắm vững đặc tính của mỗi loài thảo mộc.

 

一 似 雞 蘇 一 似 蓬
生 來 種 種 異 而 同
葉 浮 荇 上 青 鋪 水
茎 長 蘋 邊 白 起 風
仙 指 薄 於 行 潦 采
敬 心 厚 可 廟 庭 供
服 章 况 又 施 文 采
這 裡 方 知 有 化 工

 

Phiên âm:

TẢO

Nhất tự kê tô nhất tự bồng,
Sinh lai chủng chủng dị nhi đồng.
Diệp phù hạnh thượng thanh phô thủy,
Hành trưởng tần biên bạch khởi phong.
Tiên chỉ bạc ư hàng lạo thái,
Kính tâm hậu khả miếu đình cung.
Phục chương huống hựu thi văn thái,
Giá lý phương tri hữu hóa công.

 

Dịch nghĩa:

RAU TẢO(14 )

Một giống như loài thủy tô(15 ), một giống như cỏ bồng,
Sinh ra mỗi loài tuy khác mà có chỗ giống nhau.
Lá nổi lên trên rau hạnh, màu xanh trải lên mặt nước,
Nhánh lớn bên cạnh rau tần, màu trắng, lay gió.
Ngón tay tiên hái lượm trong vũng nước bên đường(16 ),
Lòng kính cẩn rất mực có thể dâng cúng miếu đình.
Huống chi lại đem [hình ảnh rau tảo] làm văn thái cho lễ phục,
Điều đó mới biết có bàn tay thợ trời tạo nên(17 ).

 

Dịch thơ:

RAU TẢO

Sinh ra tất có khi dùng
Thủy tô ngấn nước cỏ bồng thơm đêm
Trải mềm mặt nước hồ xanh
Sánh cùng tần, liễu long lanh nắng vàng
Tay tiên hái lượm bên đàng
Miếu đường dâng cúng phong quang đức trời
In trên phẩm phục rạng ngời
Đều từ muôn dặm sương phơi mà thành.

Phùng Văn Khai dịch

——————-

([14]) Rau tảo: tên một loài rau nước, có văn thái đẹp. Cho nên trong văn Hán cổ thường ghép nó với một chữ khác để chỉ văn thái đẹp như: tảo sức, tảo giám, tảo bút…

([15]) Thủy tô: dịch chữ “kê tô”. Kê tô là tử tô sinh ở trong ao, nên gọi là thủy tô.

([16]) Vũng nước bên đường: dịch nghĩa ba chữ “hàng lạo thái”. Bài Thái tần trong Kinh Thi có câu: “Vu dĩ thái tảo, vu bỉ hàng lạo” (hái rau tảo ở vũng nước bên đường).

([17]) Lễ phục thời xưa có thêu hình rau tảo. Ý thơ nói rau tảo là thứ rau quí do bàn tay tạo hóa tạo nên.

 

荷 花

時 惟 首 夏 尚 清 和
彼 澤 之 陂 花 有 荷
西 子 曉 粧 紅 映 水
太 真 新 浴 白 澄 波
風 生 閣 上 清 香 遠
月 滿 湖 中 富 貴 多
君 子 方 知 君 子 操
賞 心 應 唱 水 仙 歌

 

Phiên âm:

HÀ HOA

Thời duy thủ hạ thượng thanh hòa,
Bỉ trạch chi bi hoa hữu hà.
Tây Tử hiểu trang hồng ánh thủy,
Thái Chân tân dục bạch trừng ba.
Phong sinh các thượng thanh hương viễn,
Nguyệt mãn hồ trung phú quí đa.
Quân tử phương tri quân tử tháo,
Thưởng tâm ưng xướng Thủy tiên ca.

 

Dịch nghĩa:

HOA SEN

Lúc đầu mùa hạ khí trời còn trong trẻo hòa dịu,
Ở góc đầm kia có hoa gọi là sen.
Tây Thi(18 ) trang điểm lúc sớm mai, sắc hồng ánh xuống nước,
Thái Chân(19 ) mới tắm xong, sắc trắng lắng trong làn sóng.
Gió nổi trên gắc, mùi hương thoang thoảng bay xa,
Trăng đầy trong hồ, cảnh phú quí thịnh vượng.
Bậc quân tử mới biết được tiết tháo của người quân tử,
Lòng thưởng thức phải hát lên bài Thủy tiên ca (20 ).

 

Dịch thơ:

HOA SEN

Khí thơm đầu hạ dịu dàng
Góc đầm chúm chím nụ mang thân gầy
Tây Thi vóc điểm hồng mây
Thái Chân tha thướt vui vầy nước trong
Gác thanh hương ngát quyện nồng
Trăng trong gió, gió trong trăng mỹ miều
Anh hùng thắm thiết niềm yêu
Thủy tiên khúc thức sáo diều đêm trăng.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([18]) Tây Thi: người con gái nước Việt (nay là miền Chiết Giang và Giang Tô), dung nhan tuyệt trần.

([19]) Thái Chân: tức Dương Quý Phi, ái phi của Đường Minh Hoàng.

([20]) Thủy tiên: vị tiên ở dưới nước. Sen có biệt hiệu là “thủy tiên”. Thủy tiên ca là tên một khúc hát.

 

 

大 庾 山 頭 得 地 名
芳 標 人 仰 聖 之 清
冰 霜 不 改 孤 高 操
風 月 相 知 耐 久 情
肯 向 西 湖 誇 逸 節
好 來 東 閣 掇 奇 英
占 春 調 鼎 孚 時 用
不 負 花 中 宰 相 名

Phiên âm:

MAI

Đại Dữu sơn đầu đắc địa danh,
Phương tiêu nhân ngưỡng thánh chi thanh.
Băng sương bất cải cô cao tháo,
Phong nguyệt tương tri nại cửu tình.
Khẳng hướng Tây Hồ khoa dật tiết,
Hảo lai Đông Các xuyết kỳ anh.
Chiếm xuân điều đỉnh phu thời dụng,
Bất phụ hoa trung tể tướng danh.

 

Dịch nghĩa:

CÂY MAI(21 )

Ở đầu núi Đại Dữu(22 ) được đặt làm địa danh,
Hương thơm nổi bật làm người ta ngưỡng mộ phẩm giá thanh cao của bậc thánh(23 ).
Băng sương chẳng thay đổi tiết tháo cao cả riêng biệt ấy,
Gió trăng còn hiểu biết tâm tình lâu bền nhẫn nại ấy.
Đâu chịu hướng về Tây Hồ(24 ) mà khoe tiết tháo kẻ ẩn dật,
Thích đến nơi Đông Các(25 ) để biểu hiện phẩm chất bậc kỳ anh.
Chiếm bảng xuân, điều hòa đỉnh vạc(26 ), được đời tin tưởng sử dụng,
Chẳng phụ cái danh tể tướng trong làng hoa(27 ).

 

Dịch thơ:

CÂY MAI

Rừng mai Đại Dữu còn không
Thanh cao vóc đạo kìa trông thánh hiền
Tuyết sương càng vững niềm riêng
Gió trăng thấu tỏ hoa đèn thiên thu
Cần chi hướng vọng Tây Hồ
Ưa tìm Đông Các mà phô đức tài
Bản xuân đỉnh vạc còn ai
Nhất trông Tể tướng muôn loài hoa thơm.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([21]) Mai: cây mơ, một loại cây được ghi trong thiên Phiếu hữu mai Kinh Thi.

([22]) Đại Dữu: tên núi ở địa phận Giang Tây tiếp giáp Quảng Đông thuộc miền Nam Trung Quốc. Núi này có rừng mai (mơ) nên gọi là Mai Lĩnh (núi Mai).

([23]) Mai là loài cây thân gầy, hoa trắng, người xưa tôn vẻ thanh tao của nó vào bậc thánh.

([24]) Tây Hồ: tên hồ ở phía Tây thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, rộng 15 dặm, là nơi phong cảnh đẹp nổi tiếng. Lâm Bô đời Tống từng ẩn dật ở đây, trồng mai, nuôi hạc làm vui.

([25]) Đông Các: Bài thơ Họa Bùi Địch đăng Thục Châu đông đình tống khách phùng tảo mai tương ức kiến ký của Đỗ Phủ đời Đường có câu: “Đông Các quan mai động thi hứng” (Cây mai ở Đông Các làm động hứng thơ). Đông Các là nơi tể tướng tiếp đãi hiền tài.

([26]) Chiếm bảng xuân: hoa mai có loại nở vào tháng 10, có loại nở vào đầu mùa xuân. Thi Hội, thi Đình mở vào thời gian đầu năm. Cho nên, người đỗ Tiến sĩ gọi là “bảng xuân”.

Điều hòa đỉnh vạc: Kinh Thư chép việc Ân Cao Tông tuyển dụng Phó Duyệt làm tể tướng. Vua ca ngợi Duyệt: “Nhược tác điều canh, nhữ duy diêm mai” (như điều hòa mùi vị thức ăn trong đỉnh vạc thì nhà ngươi là muối và mơ). Ý nói Duyệt có đại tài điều hành công việc thiên hạ quốc gia. Hai chữ “điều đỉnh” trong bài này dùng để ca ngợi người có tài kinh bang tế thế.

([27]) Tể tướng trong làng hoa: ý nói hoa mai được coi như bậc cao quý trong làng hoa.

 

芳 園 好 向 結 根 生
紫 綺 青 房 惹 得 名
縞 夜 花 開 鋪 雪 白
照 鄰 實 結 映 星 明
譽 騰 物 二 桃 其 弟
名 亞 魁 三 梅 是 兄
擅 得 中 州 聲 價 重
果 珍 端 可 報 之 瓊

 

Phiên âm:

Phương viên hảo hướng kết căn sinh,
Tử ỷ thanh phòng nhạ đắc danh.
Cảo dạ hoa khai phô tuyết bạch,
Chiếu lân thực kết ánh tinh minh.
Dự đằng vật nhị đào kỳ đệ,
Danh á khôi tam mại thị huynh.
Thiện đắc trung châu thanh giá trọng,
Quả trân đoan khả báo chi quỳnh.

 

Dịch nghĩa:

CÂY MẬN(28 )

Đến khu vườn thơm gốc rễ sinh sôi,
Vóc tía phòng xanh nổi tiếng tăm hay.
Hoa nở đêm thanh phô bày tuyết trắng,
Quả kết soi sang láng giềng, ánh lên sao sáng.
Tiếng tăm lừng lẫy, so hai loài thì đào là em(29 ),
Danh vọng á khôi, so ba loài thì mai là anh(30 ).
Chiếm được giá trị thanh quý ở miền trung châu,
Thật là quí báu xứng đáng đem ngọc quỳnh(31 )đền đáp.

 

Dịch thơ:

CÂY MẬN

Kinh Thi từng đã nhắc tên
Vườn thơm gốc rễ cội cành sinh sôi
Phòng xanh tuyết trắng rong chơi
Sao đêm đêm sáng phúc người anh em
Nâng đào tay đã từng quen
Kính mai sau trước lửa đèn “mai khôi”
Trung thâu rộng rãi đất trời
Ngọc quỳnh đền đáp với người tình chung.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([28]) Cây mận: tên một loài cây được nhắc tới trong thiên Mộc qua thơ Vệ phong trong Kinh Thi.

([29]) Câu này nói, cây đào và cây mận là hai loài có tiếng tăm, nhưng cây đào xếp loại em.

([30]) Cây mai được xếp vào hạng đầu trăm hoa. Người đậu Tiến sĩ hạng đầu, gọi là “mai khôi”. Ở đây nói cây mai là anh cây mận.

([31]) Kinh Thi, thiên Mộc qua có câu: “Đầu ngã dĩ mộc lý, báo chi dĩ quỳnh cửu” (Tặng ta quả mận, ta đền đáp lại bằng ngọc quỳnh cửa đẹp đẽ).

 

 

好 尚 淇 園 植 美 名
此 君 舊 譜 簡 猶 青
高 標 挺 出 雲 霄 迥
勁 節 依 然 霜 雪 經
衛 武 德 猶 聞 後 世
溫 公 望 久 注 生 靈
春 來 更 喜 龍 孫 長
繼 襲 侯 封 列 笋 庭

 

Phiên âm:

TRÚC

Hảo thượng kỳ viên thực mỹ danh,
Thử quân cửu phả giản do thanh.
Cao tiêu đĩnh xuất vân tiêu quýnh,
Kính tiết y nhiên sương tuyết kinh.
Vệ Vũ đức do văn hậu thế,
Ôn công vọng cửu chú sinh linh.
Xuân lai cánh hỷ long tôn trưởng,
Kế tập hầu phong liệt duẩn đình.

 

Dịch nghĩa:

CÂY TRÚC

Ưa chuộng danh tốt đẹp cây trồng trong vườn bờ sông Kỳ(32 ),
Bản phả xưa nay của nhà vua, thẻ trúc còn xanh.
Nêu cao sừng sững giữa mây trời xa xôi,
Đốt cứng vẫn như thế với tuyết sương từng nếm trải(33 ).
Đức của Vũ công nước Vệ còn vọng đến đời sau(34 ),
Danh vọng của Ôn công từ lâu đã tưới nhuần xuống dân chúng(35 ).
Xuân sang lại càng vui mừng cháu rồng khôn lớn(36 ),
Thừa kế nghiệp phong hầu bày ra trên sân như măng mọc(37 ).

 

Dịch thơ:

CÂY TRÚC

Ươm danh sóng nước sông Kỳ
Quân vương ban thẻ trúc uy khắc lòng
Mây trời sừng sững soi sông
Tuyết sương nếm trải trong từng đốt phơi
Vũ công truyền vọng muôn đời
Kìa quan Tư Mã nơi nơi nhắc về
Xuân sang đội ngũ chỉnh tề
Phong hầu kế nghiệp sao Khuê chứng lòng.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([32]) Bờ sông Kỳ ở nước Vệ có rừng trúc xanh tốt. Vũ công, vua nước Vệ là người có tài năng phẩm chất tốt. Người đương thời làm bài thơ Kỳ úc để ca ngợi.

([33]) Bản chữ Hán chép tay mất hai chữ. Người dịch bổ sung hai chữ “y nhiên” thành “kính tiết y nhiên” để dịch (đốt cứng vẫn như thế).

([34]) Xem chú thích 1.

([35]) Ôn công: tước phong của Tư Mã Quang, nhà sử học lớn đời Tống. Khi ông làm quan được dân chúng mến phục, ca ngợi là vị Phật sống của muôn nhà.

Người dịch nghi hai chữ “Ôn công” bị viết lầm và có lẽ là “Lai công” thì đúng hơn. Vì “Lai công” là tước phong của Khấu Chuẩn, một tể tướng giỏi của nhà Tống. Ông bị gièm pha và bị đuổi ra trấn thủ Lôi Châu. Khi ông đến nhậm chức dân chúng ra đón, mỗi người cầm một cành trúc cắm cạnh đường, trông như một rừng trúc xanh tốt. Người bấy giờ lấy đó để ca ngợi đức độ của ông, khiến cho cành trúc khô cũng xanh tốt trở lại.

([36]) Măng trúc gọi là “long tôn” (cháu rồng).

([37]) Măng mọc chỉnh tề khiến người ta liên tưởng đến cảnh các vị sĩ phu khi thiết triều, gọi là “duẩn ban”. Ở đây dùng hai chữ “duẩn đình” cho hợp vận.

 

 

氣 得 於 天 物 物 同
誰 將 四 種 別 梧 桐
高 岡 夜 照 千 枝 月
金 井 秋 傳 萬 葉 風
思 厚 剪 珪 周 令 主
歌 形 伐 瑟 衛 文 公
有 詩 引 得 鳴 朝 鳳
壓 倒 園 林 百 萬 叢

 

Phiên âm:

ĐỒNG

Khí đắc ư thiên vật vật đồng,
Thùy tương tứ chủng biệt ngô đồng.
Cao cương dạ chiếu thiên chi nguyệt,
Kim tỉnh thu truyền vạn diệp phong.
Tứ hậu tiễn khuê Chu lệnh chủ,
Ca hình phạt sắt Vệ Văn công.
Hữu thi dẫn đắc minh triêu phượng,
Áp đảo viên lâm bách vạn tùng.

 

Dịch nghĩa:

CÂY NGÔ ĐỒNG

Bẩm thụ khí trời, mọi vật đều giống nhau,
Ai đã đem ngô đồng để chia ra làm bốn loại(38 )?
Trên gò cao(39 ) trăng đêm soi thấu nghìn cành,
Bên giếng vàng(40 ) gió thu truyền khắp muôn lá.
Bậc vua hiền nhà Chu ý tứ đôn hậu, khi cắt làm hình cái khuê(41 ),
Văn công nước Vệ lời ca biểu hiện khi chém gỗ làm đàn sắt(42 ).
Có lời thơ dẫn được tiếng chim phượng kêu lúc sớm mai(43 ),
Áp đảo cả trăm vạn khóm cỏ cây trong vườn rừng.

 

Dịch thơ:

CÂY NGÔ ĐỒNG

Khí trời vạn vật như nhau
Ngô đồng bốn chủng một màu lá xanh
Đêm trăng soi thấu nghìn cành
Giếng vàng lá rụng khởi hành gió thu
Chu vương há dễ câu đùa?
Vệ công hưng quốc hơi mưa sắt cầm
Phượng kêu trong buổi sớm xuân
Cây rừng vạn khóm xa gần cung nghinh.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([38]) Người xưa chia ngô đồng ra làm bốn giống: giống hoa trắng, giống hoa tía, giống đực, giống cái.

([39]) Trên gò cao: Kinh Thi có câu: “Ngô đồng sinh hỹ, vu bỉ cao cương” (ngô đồng mọc ở gò cao kia). Câu này ý nói: cây ngô đồng có ánh trăng soi vào càng thêm đẹp.

([40]) Bên giếng vàng: Cổ thi: “Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu” (Ngô đồng rụng một lá, thiên hạ đều biết thu), nói lá ngô đồng rụng trên giếng vàng là báo hiệu mùa thu đã đến.

([41]) Cơ Tụng (Thành Vương nhà Chu) lúc bé chơi với các em, bẻ ká ngô đồng cắt làm hình cái khuê phong cho em là Ngu Thúc. Sử Dật chúc mừng. Cơ Tụng nói rằng: “Ta bỡn đùa với em bé thôi”. Sử Dật nói: “Thiên tử không bao giờ nói đùa!”. Cơ Tụng bèn phong cho Ngu Thúc đi làm vua đất Đường.

([42]) Chém gỗ làm đàn sắt: Thơ Dung phong khen Vệ Văn công trung hưng nước Vệ, xây dựng cung điện và trồng các loại cây như: trăn, lật, ỷ, đồng, tử, tất để sau này chế tạo đàn cầm, đàn sắt. Đề vịnh cây đồng cho nên thơ đề cập đến chữ “phạt sắt”.

([43]) Tiếng chim phượng kêu lúc sớm mai: Kinh Thi có câu: “Phượng hoàng minh hỹ, vu bỉ triêu dương” (phượng hoàng kêu ở chỗ mặt trời mọc buổi sớm), “ngô đồng sinh hỹ, vu bỉ cao cương” (ngô đồng mọc ở trên gò cao kia), “bồng bông thê thê, ung ung ê ê” (ngô đồng tươi tốt, tiếng phượng ngân nga).

許 多 物 有 許 多 般
這 裡 那 知 樹 有 檀
滑 澤 青 皮 滋 雨 潤
堅 貞 素 節 傲 霜 寒
材 生 本 是 天 心 厚
輪 琢 全 歸 梓 匠 觀
一 入 葩 詩 形 品 藻
香 聲 留 取 後 人 看

 

Phiên âm:

ĐÀN

Hứa đa vật hữu hứa đa ban,
Giá lý na tri thụ hữu đàn.
Hoạt trạch thanh bì tư vũ nhuận,
Kiên trinh tố tiết ngạo sương hàn.
Tài sinh bản thị thiên tâm hậu,
Luân trác toàn quy tử tượng quan.
Nhất nhập Ba thi hình phẩm tảo,
Hương thanh lưu thủ hậu nhân khan.

 

Dịch nghĩa:

CÂY ĐÀN

Trong muôn vật có nhiều loại khác nhau,
Trong đó nào hay loài cây có cây đàn.
Nhựa trơn, da xanh, nhờ có mưa nhuần thấm,
Lõi cứng bền, tiết tháo trắng trong, xem thường sương giá.
Tài chất sinh ra vốn được lòng trời vun đắp,
Đẽo gọt thành bánh xe đều do thợ mộc suy xét.
Một khi đưa vào thơ trong Kinh Thi mà biểu hiện ra văn chương,
Tiếng thơm để lại cho người đời sau soi gương.

 

Dịch thơ:

CÂY ĐÀN

Khác nhau muôn loại dưới trời
Ai hay riêng một thảnh thơi cây đàn
Da xanh tưới tắm suối nguồn
Lá bền, lõi cứng xem thường gió sương
Lòng trời soi xét yêu thương
Sai người thợ mộc đo lường binh xa
Kinh Thi văn bút sơn hà
Tiếng thơm để lại ai đà soi gương.

Phùng Văn Khai dịch

Phùng Văn Khai dịch

—————–

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 10]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 11]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 12]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 13]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 14]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 15]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 16]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 17]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 18]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 19]

     


     

Bài trướcĐộng lực để Đồng Nai trở thành đô thị lớn, văn minh-hiện đại-hạnh phúc
Bài tiếp theoLê Xuân Niêm: Người thương binh viết tiếp sử vàng bằng bước chân không mỏi – Tác giả: Nhà nghiên cứu Tuệ Nhã

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây