Vansudia.netluôn đồng hành cùng bạn đọc trên các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Địa lý và mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan đến Triết học, Văn hóa, Vật lý, Thiên văn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng, đa chiều của bạn đọc ủng hộ và động viên.
Lời người dịch: Hiếm có người nào đã vào tuổi bảy mươi vẫn được vua tin dùng phong làm Chánh sứ thực hiện công việc bang giao với phương Bắc muôn phần gian khó. Vậy mà, đối với Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, cuộc đi sứ của ngài không chỉ thành công rạng rỡ được ghi nhận trong chính sử mà các huyền thoại về chuyến đi vẫn còn lưu truyền ngân nga không dứt trong chốn nhân gian đến hôm nay. Đó cũng là một đặc sắc của Trạng Bùng. Các bài thơ đi sứ càng như soi tỏ và khẳng định vững chắc thêm tài hoa và trách nhiệm cao trọng sâu xa của một vị đại quan với trọng trách quốc gia trên lĩnh vực bang giao.
BẮC SỨ ĐĂNG TRÌNH TỰ THUẬT THI (Thơ tự thuật trên đường đi sứ sang đất Bắc)
Trong Mai Lĩnh sứ hoa thi tập có cụm thơ Bắc sứ đăng trình tự thuật thi (Thơ tự thuật trên đường đi sứ sang đất Bắc). Đó là tên có thể do tác giả đặt cho phần thơ tự xướng, tự họa, vịnh cảnh, vịnh vật, xướng họa giao tiếp… trên lộ trình ngàn dặm, từ Nam Quan đến Yên Kinh hai lượt đi về. Phần thơ văn này chiếm khoảng hai phần ba tác phẩm đi sứ. Trích tuyển 12 bài.
Tam bách thi thiên tụng vị tam, Tài phi chuyên đối sứ hề kham. Cư di tự giác càn niên lão, Trú tiết hoàn đương tráng tuế nam. Đế sở cửu trùng chiêm thả luyến, Hoàng hoa ngũ thiện quí phi am. Công thành sự nghiệp bằng trung nghĩa, Ức vạn duy sinh hoạt Bắc Nam.
Dịch nghĩa:
TỰ XƯỚNG TỰ HỌA
Kinh Thi ba trăm bài, tụng đọc chưa được nhiều lần, Không có tài đối đáp, đi sứ làm sao kham nổi(1 ). Được thánh chúa tin dùng, tự biết tuổi đã cao, Cầm cờ tiết đi sứ, như con trai đang tráng kiện. Chốn cửu trùng trông lại càng quyến luyến, Năm điều hay trong thơ Hoàng hoa, thẹn chưa am tường(2 ). Sự nghiệp thành công đều nhờ vào trung nghĩa, Ức vạn sinh linh được sống yên ổn ở Bắc và Nam.
Dịch thơ:
TỰ XƯỚNG TỰ HOẠ
Kinh Thi còn đọc chưa chăm Biếng rèn biện luận biết làm sao đây Tuổi tuy cao thân tuy gầy Mệnh vua cờ tiết cầm tay lên đường Cửu trùng quyến luyến niềm thương Hoàng hoa thi phẩm tỏ tường vài ba Dốc lòng trung nghĩa riêng ta Bắc – Nam dân chúng thái hòa chung vui.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([1]) Không có tài đối đáp (tài phi chuyên đối): Dùng chữ trong sách Luận ngữ. Khổng Tử có nói: “Tụng Thi tam bách, thụ chi dĩ chính, bất đạt: sứ ư tứ phương, bất năng chuyên đối, tuy đa, diệc hề dĩ vi?” nghĩa là: Đọc ba trăm bài Kinh Thi thế mà trao cho làm chính sự, không làm được; đi sứ bốn phương không biết đối đáp thì tuy học nhiều mà để làm gì?
([2]) – Hoàng hoa: tức Hoàng hoàng giả hoa, tên bài thơ ở phần Tiểu nhã – Kinh Thi, nội dung nói về việc vua sai sứ thần đi sứ.
– Ngũ thiện: năm điều tốt: đi hỏi dạo; đi thăm thân thích; đi hỏi lễ nghi; đi hỏi chính sự; đi mưu tính việc khó khăn hoạn nạn. (Theo Tả truyện).
ĐỀ XUYÊN SƠN DỊCH (Tại Mã Bình huyện, hữu sơn xuyên quá như thành môn, cố danh)
Vạn lý trì khu nguyên thấp gian, Việt khê độ hác đáo Xuyên San (sơn). Nghênh nhân điểu lộng ngu ca thiệt, Yêu khách hoa khai xán tiếu nhan. Mệnh tốc bưu truyền hành thượng đức, Cống tùy liễn chí đạt trùng quan. Triều đình hữu đạo dân vô sự, Phì mã khinh cầu nhậm vãng hoàn.
Dịch nghĩa:
ĐỀ TRẠM XUYÊN SƠN (Ở huyện Mã Bình, có chỗ xuyên qua núi như cửa thành cho nên gọi là Xuyên Sơn)
Rong ruổi muôn dặm khắp nơi đồng bằng, nơi thấp trũng(3 ), Vượt suối băng rừng đến trạm Xuyên Sơn. Đón người, chim ríu rít hót, Chào khách, hoa hớn hở cười. Đức lớn lưu hành còn nhanh hơn ngựa trạm truyền mệnh(4 ), Đồ cống theo xe vượt qua tầng tầng cửa ải. Triều đình có đạo, dân vô sự, Sứ giả được cưỡi ngựa béo, mặc áo cừu nhẹ thoải mái lại qua(5 ).
Dịch thơ:
ĐỀ TRẠM XUYÊN SƠN
Thong dong muôn dặm đồng bằng Muôn sông suối đến trạm dừng Xuyên Sơn Đón người, chim hót mừng hơn Hoa cười thắm thiết ngàn hương mát lành Đức cao thêm ngựa truyền nhanh Thức quà xe vượt tầng thành liên thông Vua hiền minh ấy vui chung Sứ thần ngựa béo, áo lông chỉnh tề.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([3]) Nguyên văn có hai từ “trì khu”, “nguyên thấp” trong bài Hoàng hoàng giả hoa (Kinh Thi, Tiểu nhã), thể hiện nỗi vất vả, lao nhọc, gấp gáp, khẩn trương của sứ giả trên đường lo vẹn công việc cho nhà vua.
([4]) Câu này dùng chữ trong sách Mạnh Tử, “Đức nghĩa chi lưu hành, tốc ư trí bưu nhi truyền mệnh” (Đức nghĩa lưu hành nhanh hơn ngựa trạm truyền mệnh).
([5]) Cưỡi ngựa béo, mặc áo cừu nhẹ: theo sách Luận ngữ, Công Tây Xích, học trò của Khổng Tử đi sứ nước Tề cưỡi ngựa béo, mặc áo cừu nhẹ. Sau hay dùng điển này để chỉ sứ giả.
Khách tự Sơn Tây đáo Quảng Tê (Tây), Việt lai hành lễ chấp chương khuê. Xu đường chí yết thượng ty Hán, Giáp đạo nhân nghênh tân sứ Lê. Lễ nhạc y quan thiên lý cộng, Miện lưu cung điện ngũ vân đê. Bài trí kính chúc hoàng vương thọ, Hằng bắc Hành nam cao dữ tề.
Dịch nghĩa:
THƠ ĐỀ LƯU LẠI QUẢNG TÂY
Khách từ Sơn Tây đến Quảng Tây(6 ), Cầm ngọc chương, ngọc khuê đến làm lễ triều cống. Lên công đường, mang lễ vật yết kiến quan trên người Hán, Hai bên đường, dân đón chào sứ giả mới của nhà Lê. Tuy cách ngàn dặm nhưng lễ nhạc mũ áo vẫn giống nhau, Mũ miện, cung điện nhà vua có mây năm sắc bao trùm. Lạy ở thềm kính chúc hoàng đế trường thọ, Thọ ngang với Hằng Sơn phương Bắc, Hành Sơn phương Nam(7 ).
Dịch thơ:
THƠ ĐỀ Ở QUẢNG TÂY
Từ Sơn Tây đến Quảng Tây Ngọc vàng từ biểu trên tay kính mừng Công đường lễ trọng rưng rưng Bên đường dân chúng xem chừng mến yêu Chung nhau lễ nhạc phong nhiêu Mây vàng năm sắc hoàng triều phong quang Lòng mừng hoàng đế an khang Sáng cùng sông núi Bắc – Nam lâu bền.
Phùng Văn Khai dịch
———————
([6]) Sơn Tây: quê của Phùng Khắc Khoan.
([7]) Hằng Sơn là tên ngọn núi ở phương Bắc Trung Quốc, thuộc tỉnh Trực Lệ; Hành Sơn là tên ngọn núi ở phương Nam, thuộc tỉnh Hồ Nam, hai ngọn núi này nổi tiếng trong ngũ nhạc.
SẤU LĨNH MAI (Nhạc bắc hữu cổ mai lục thất chu. Anh Châu Tư khấu sở thực tam thập chu)
Ngã thị Mai Nham thí vấn mai, Kim phùng đại Sấu Lĩnh đầu lai. Sương tiền sương hậu kinh niên nại, Chi bắc chi nam kỷ độ khai. Sơ ảnh ám hương phong nguyệt khách, Phương danh giai thực miếu đường tài. Điều canh tương hữu điều canh tử, Bất phụ hoa trung đệ nhất khôi.
Dịch nghĩa:
CÂY MAI Ở SẤU LĨNH (Phía bắc Sấu Lĩnh có sáu, bảy cây mai già, quan Tư khấu Anh Châu trước có trồng ba mươi cây ở đây)
Ta hiệu là Mai Nham, thử hỏi mai, Nay lại đây được gặp mai ở đầu núi Sấu Lĩnh. Sương năm trước, sương năm sau, mai đã qua bao năm chịu đựng, Cành phía nam, cành phía bắc, đã ba lần nở hoa? Bóng thưa, hương thoảng, mai là khách trăng gió, Danh thơm, quả tốt, lại là vật dụng nơi miếu đường. Mai dùng điều hòa canh, lại có tay điều canh(8 ), Mai thật không phụ là hoa nở sớm nhất trong muôn loài hoa.
Dịch thơ: CÂY MAI Ở SẤU LĨNH
Mai Nham ta thử hỏi mai Đất thiêng Sấu Lĩnh tay ai ươm trồng Sương dày, tuyết thẳm mịt mùng Cành Nam, cành Bắc bao lần đơm hoa Gió trăng hương nhụy la đà Danh thơm tươi tốt câu ca miếu đường Kinh Thư lời dặn Cao Tông Vẫn còn lưu giữ trong lòng hoa mai.
Phùng Văn Khai dịch
——————-
([8]) Điều hòa canh: quả mơ dùng để điều hòa vị chua ngọt trong canh. Thiên Duyệt mệnh – Kinh Thư, vua Cao Tông có bảo Phó Duyệt rằng “Nhược tác điều canh, nhữ duy diêm mai” (Nếu như điều hòa canh, ngươi làm mơ và muối), về sau thành điển cố chỉ tài tể tướng giúp vua điều hành mọi công việc.
Huân phong tùy ngã tự Nam lai, Lĩnh vụ hành khan đáo xứ khai. Nghĩ hướng đế tiền ca đế đức, Giải ngô dân uấn phụ dân tài.
Dịch nghĩa:
ĐẾN AN NAM(9), BẤT CHỢT THÀNH THƠ
Gió thơm mát mẻ theo ta từ phương nam tới, Mây mù núi sẽ thấy, ta đi đến đâu quang đến đó. Ta muốn đến trước vua, ca tụng công đức nhà vua, Đức nhà vua như gió nam giải nỗi buồn giận cho dân và làm cho của dân giầu có(10 ).
Dịch thơ:
ĐẾN AN NAM BẤT CHỢT THÀNH THƠ
Ta từ thanh mát phương Nam Bàn chân rẽ núi mây quang thuận hòa Gió nam réo rắt lời ca Thánh quân đức sáng muôn nhà yên vui.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([9]) An Nam, tên một huyện thuộc tỉnh Quý Châu – Trung Quốc.
([10]) Câu này dùng điển xưa, Khúc Nam huân của vua Thuấn có câu “Nam phong chi huân hề, khả dĩ giải ngô dân chi uấn hề; Nam phong chi thời hề, khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề” (Gió Nam ấm áp, có thể giải nỗi buồn giận cho dân ta; Gió Nam phải thời, có thể giúp cho của cải dân ta thêm giầu có).
Vọng ngoại Lư San san hựu san, Bà Dương hồ thượng đáo quan lan. Tiếp thiên thủy chiếu phù dung kính, Trục lãng hoa khai thược dược bàn. Phạm tử tòng lai phù lưỡng trạo, Lã ông phi quá hạc song hàn. Uông dương lượng bản vô nhai sĩ, Lãi trắc hà nhân mạn thiển khan.
Dịch nghĩa:
QUA HỒ BÀ DƯƠNG(11 )
Trông ra phía ngoài núi Lư Sơn thấy những núi là núi, Nay đến hồ Bà Dương thấy sóng cuộn to. Tiếp giáp với trời, nước chiếu sáng hoa sen, Sóng nối nhau thành bông như thược dược. Ông họ Phạm đi lại, chèo hai mái chân mòng(12 ), Ông họ Lã bay qua, thân cưỡi đôi cánh hạc(13 ). Lượng bể mênh mang vốn không bến bờ, Người nào cứ lấy con mắt thiển cận mà xem thì thật là hồ đồ.
Dịch thơ:
QUA HỒ BÀ DƯƠNG
Lư Sơn mây núi trập trùng Hồ Bà Dương sóng tầng tầng dâng cao Đất trời sáng láng giao nhau Từng bông sóng bạc muôn màu như hoa Phạm Công thong thả hiện ra Lã ông cưỡi hạc mây sà dưới thung Mới hay lượng bể mênh mông E con mắt thịt còn trông nỗi gì.
Phùng Văn Khai dịch
—————-.
([11]) Hồ Bà Dương ở huyện Hồ Khẩu, tỉnh Giang Tây – Trung Quốc.
([12]) Phạm Tử: tức Phạm Lãi, người giúp Việt Vương Câu Tiễn diệt Ngô, xong sự nghiệp liền từ quan, chu du Ngũ hồ.
([13]) Lã ông: tức Lã Động Tân, người đời Đường, tu tiên đắc đạo, thường cưỡi hạc đi chơi.
VỌNG GIANG HIỂU PHÁT (Tại An Khánh phủ, Vọng Giang huyện, Lôi Cảng dịch)
Nhất thống sơn hà nhất thống đồng, Vọng Giang hiểu phát vọng giang trung. Tam can tường quải tam can nhật, Vạn hộc chu thừa vạn hộc phong. Thiên ý thuận nhân nhân ý thuận, Thủy trình thông sứ sứ trình thông. Tòng An Khánh lộ hữu an khánh, Ngũ sắc vân đê ngũ sắc hồng.
Dịch nghĩa:
BUỔI SÁNG RA ĐI TỪ VỌNG GIANG (Sông này ở trạm Lôi Cảng, huyện Vọng Giang, phủ An Khánh)
Nhất thống non sông, nhất thống cả, Buổi sớm ra đi từ Vọng Giang ngắm lòng sông. Cột buồm dài ba sào treo dưới bóng mặt trời lên cao ba sào, Thuyền to chở muôn hộc gặp sức gió to đẩy được muôn hộc. Ý trời chiều người, ý người cũng thuận, Đường thủy tiện cho sứ giả nên đường sứ giả đi được thông. Đi theo đường An Khánh, được bình an phúc khánh, Mây năm sắc bao trùm, năm sắc rực rỡ.
Dịch thơ:
BUỔI SÁNG RA ĐI TỪ VỌNG GIANG
Non sông nhất thống thiên thu Vọng Giang ngắm sóng sông mờ tinh sương Cột buồm ba trượng soi gương Thuyền to muôn hộc gió cường vươn khơi Người vâng thuận đức ông trời Xuôi dòng thủy bạc thanh thơi cung đường Thung thăng Phúc Khánh dặm trường Mây vần ngũ sắc ngàn sương yên bình.