Vansudia.netluôn đồng hành cùng bạn đọc trên các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Địa lý và mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan đến Triết học, Văn hóa, Vật lý, Thiên văn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng, đa chiều của bạn đọc ủng hộ và động viên.
Lời người dịch:Việc dịch các bài thơ xướng họa giữa Phùng Khắc Khoan và sứ thần Triều Tiên đặt ra một yêu cầu không chỉ về độ chính xác ngôn ngữ, mà còn về khả năng thấu cảm văn hóa và bối cảnh lịch sử. Dưới đây là Thơ xướng họa của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan với sứ thần nước Triều Tiên. Và cũng là những tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật ứng đối ngoại giao bằng thi ca của các trí thức Đông Á thời trung đại, nơi mỗi vần thơ đều hàm chứa thông điệp về tư tưởng, lễ nghi và quan hệ bang giao. Thông qua việc chuyển ngữ và chú giải, người dịch thơ mong muốn góp phần làm sáng rõ giá trị của những cuộc đối thoại thi ca này, đồng thời đưa di sản ấy đến gần hơn với độc giả đương đại, như một minh chứng sinh động cho truyền thống ngoại giao của dân tộc.
DỮ TRIỀU TIÊN QUỐC SỨ THẦN XƯỚNG HỌA THI (Thơ xướng họa với sứ thần nước Triều Tiên)
Tên gọi này do Nhóm biên soạn đặt dựa vào đề tài, tính chất của mảng thơ và từ sự gợi ý của nhan đề mảng thơ tương ứng của Lý Toái Quang([1]). Văn bản phần thơ xướng họa này rút từ An Nam quốc sứ thần xướng họa vấn đáp lục (Hỏi đáp xướng họa cùng sứ thần nước An Nam) do chúng tôi mang từ Hàn Quốc về([2]), có tham khảo các văn bản của ta để bổ sung([3]). Thơ xướng họa giữa Phùng Khắc Khoan với Lý Toái Quang tức Lý Chi Phong (9 bài) và Kim Dương dật sĩ (2 bài) đều là quốc sứ Triều Tiên, có 11 bài. Phần trích tuyển theo thứ lớp xướng họa của văn bản gốc gồm 14 bài, 7 bài là phụ tuyển thơ xướng của hai sứ thần Triều Tiên, 7 bài là thơ họa của Phùng Khắc Khoan.
Để độc giả có dịp tiếp cận với một số áng văn xuôi viết chân thực và ý vị về chân dung, tình cảm sứ thần Phùng Khắc Khoan, về lối sống và sinh hoạt của đoàn sứ bộ nước ta, ngoài bài Tựa của Lý Toái Quang viết cho tập thơ Vạn thọ thánh tiết… đã phụ tuyển ở trên, xin được đưa thêm vào đây các bài: Hậu, Vấn đáp, Chí, Bạt của Lý Toái Quang viết về Phùng Khắc Khoan cùng sứ bộ nước ta, và nhân sĩ Triều Tiên bình luận về thơ xướng họa, tình giao hảo giữa Lý Toái Quang với Phùng Khắc Khoan. Đây là những áng thơ văn hiếm quý đánh dấu sự khai sáng tình hữu nghị Việt Triều thời trung đại.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai
——————–
([1]) Lý Toái Quang đặt nhan đề: An Nam quốc sứ thần xướng họa vấn đáp lục cho toàn bộ thơ văn xướng họa, giao tiếp, hỏi đáp… với Phùng Khắc Khoan ở Yên Kinh.
([2]) Phùng Khắc Khoan – Chánh sứ nước ta và Lý Toái Quang – Chánh sứ Triều Tiên có thơ văn xướng họa giao tiếp khi gặp nhau ở Yên Kinh. Phần viết của Lý Toái Quang được tập hợp trong: An Nam quốc sứ thần xướng họa vấn đáp lục. Xem: Hàn quốc văn tập tùng san 66 – Chi Phong tiên sinh tập quyển 8 – An Nam quốc sứ thần xướng họa vấn đáp lục – Bản chữ Hán 1991 – tờ 85 – 92. Tài liệu do Bùi Duy Tân đem từ Hàn Quốc về. Lý Toái Quang (Ly Xúc Wan) tự là Nhuận Khanh, hiệu là Chi Phong, bút danh Tai-bon, học rộng đỗ cao, có văn tài học hạnh, danh sĩ nổi tiếng, người khởi xướng phong trào Siéc-hác (Sirhak), phong trào thực học, phê phán giáo điều, coi trọng kiến thức thực tiễn… Ông đi sứ Minh nhiều lần, năm 1597 có điều kiện giao tiếp với Phùng Khắc Khoan, sứ giả nước ta. Đây là lần gặp gỡ đầu tiên giữa sứ thần hai nước Triều Việt trên đất Trung Hoa. Cuộc tao ngộ sứ giả – nhà thơ ấy đã để lại cho đời tập thơ văn kỳ thú nói trên.
([3]) Các bài thơ xướng họa giữa Phùng Khắc Khoan và Kim Dương dật sĩ là rút từ văn bản của ta, tập sách của Lý Chi Phong không có. Trong số các thi tập của Phùng Khắc Khoan, ở phần sau Ngôn chí thi tập (VHv.1442) có chép tay tập: An Nam quốc sứ thần xướng họa vấn đáp lục, trích từ Chi Phong tiên sinh tập quyển chi bát. Bản sao này vốn là của Thư viện hội Khai trí tiến đức. Đối chiếu thì thấy bản sao này khá giống với bản in của Hàn Quốc.
TẶNG AN NAM QUỐC SỨ THẦN (NHỊ THỦ) Lý Chi Phong NHẤT
Vạn lý lai tòng chướng lệ hương, Viễn bằng trùng dịch yết quân vương. Đề phong Hán đại tân đồng trụ, Cống hiến Chu gia cựu Việt Thường. Sơn xuất dị hình nhiêu tượng cốt, Địa chưng linh khí sản long hương. Tức kim Trung Quốc phùng thần thánh, Thiên tải phong điềm ba bất dương.
Dịch nghĩa:
TẶNG SỨ THẦN NƯỚC AN NAM (HAI BÀI) Lý Chi Phong BÀI MỘT
Ngài từ nơi lam chướng xa xôi muôn dặm tới, Từ xa tới yết kiến thiên tử phải nhờ ba lần phiên dịch. Cột đồng mới dựng đời Hán để ghi rõ biên giới(4 ), Nước Việt Thường xưa từng sang cống hiến nhà Chu(5 ). Núi quê ngài hình dáng lạ kỳ, có nhiều ngà voi đẹp, Đất bốc khí thiêng, sinh ra long diên hương(6 ). Mừng nay Trung Quốc có đấng thiên tử thần thánh, Nghìn năm gió lặng, biển không nổi ba đào(7 ).
Dịch thơ:
TẶNG SỨ THẦN NƯỚC AN NAM
BÀI MỘT
Ngài từ muôn dặm quan san Thuận chầu thiên tử gian nan mấy tầng Hán triều còn đó cột đồng Việt Thường thuở trước cống phần Chu vương Kỳ sơn, cốt tướng lạ thường Hương rồng, dị hải bốn phương hiếm tìm Nay mừng thiên tử anh minh Trời yên, biển lặng thanh bình muôn dân.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([4]) Đồng trụ: tức cột đồng do Mã Viện đời Hán dựng để thể hiện võ công và định mốc biên giới sau khi đánh thắng Hai Bà Trưng.
([5]) Việt Thường: tên một nước đời cổ, sau nhập vào nước ta (ở vào khoảng vùng Nghệ, Tĩnh ngày nay). Sử chép vào thời Chu Thành Vương, nước Việt Thường từng sai sứ mang chim trĩ trắng sang dâng nhà Chu.
([6]) Long diên hương: một thứ hương liệu dẻo như chất sáp, là một chất sinh ra trong nội tạng cá voi, người xưa thấy nó thường nổi trên mặt nước, không rõ là chất gì nên gọi là long diên (nước dãi rồng).
([7]) Biển không nổi ba đào (Ba bất dương): sử chép khi sứ Việt Thường sang nhà Chu có tâu rằng “Trời không mưa dầm gió lớn, biển không nổi ba đào đã ba năm, có lẽ Trung Quốc có đấng thánh nhân chăng?”.
Văn quân gia tại Cửu Chân cư, Thủy dịch sơn trình vạn lý dư. Hưu đạo y quan thù chế độ, Khước tương văn tự cộng Thi Thư. Lai nhân hiến trĩ thông man khiếu, Cống vị bao mao cận tượng dư. Hồi thủ viêm châu qui lộ viễn, Hữu thùy trùng tác chỉ nam xư (xưa).
Dịch nghĩa:
BÀI HAI
Nghe nói nhà ngài ở Cửu Chân(8 ), Đường thủy, đường núi xa hơn vạn dặm. Đừng nói chế độ, áo mũ chúng ta khác nhau, Hãy đem bàn về chữ nghĩa, chúng ta cùng học Thi Thư. Nhân dâng trĩ tới đây, đi qua biên giới cõi man(9 ), Vì đem cống cỏ bao mao nên được vào chầu xe ngà(10 ). Ngoảnh đầu nhìn viêm châu, đường về xa xôi quá(11 ), Liệu có ai lại làm xe chỉ nam cho không(12 )?
Dịch thơ:
BÀI HAI
Cửu Chân có phải quê ngài Núi non ngàn dặm sông dài biển sâu Đã đành áo mũ khác nhau Đều cùng tín nghĩa, thông làn Thi, Thư Ngày nào bạch trĩ dâng vua Cỏ bao mao nức thơm vừa đâu đây Viêm châu trùng điệp mây bay Liệu rằng thiên tử ban cây kim vàng?
Phùng Văn Khai dịch
——————
([8]) Cửu Chân: tên một quận của nước ta thời Bắc thuộc, vị trí ở khoảng Bắc trung bộ bây giờ. Có lẽ ở đây tác giả dùng chữ Cửu Chân để chỉ chung nước ta chứ không phải nói cụ thể Cửu Chân xưa.
([9]) Dâng trĩ: nhắc lại chuyện nước Việt Thường xưa đem bạch trĩ dâng nhà Chu.
([10]) Bao mao: một loại cỏ dùng để lọc rượu khi cúng tế. Thời cổ qui định vùng phương Nam hàng năm phải cống cỏ bao mao cho thiên tử.
([11]) Viêm châu: chỉ nước nam. Viêm nghĩa là nóng. Phương Nam thuộc hành hỏa, nóng, nên dùng chữ Viêm để chỉ phương Nam.
([12]) Xe chỉ nam: theo truyền thuyết, sứ Việt Thường sau khi dâng bạch trĩ trở về, vì đường xa nên Chu công ban xe chỉ nam để định hướng về cho khỏi lạc.
TÚC THỨ CHI PHONG SỨ CÔNG VẬN (NHỊ THỦ) An Nam sứ thần Phùng Khắc Khoan
NHẤT
Dị vực đồng qui lễ nghĩa hương, Hỷ phùng kim nhật cộng lai vương. Xu triều tiếp vũ Ân quan hủ, Quan quốc chiêm quang Thuấn miện thường. Yến hưởng tại đình triêm đế trạch, Qui lai mãn tụ nhạ thiên hương. Duy quân tử thức chân quân tử, Hạnh đắc thi trung nhất biểu dương.
Dịch nghĩa:
KÍNH HỌA VẦN THƠ CỦA CHI PHONG SỨ CÔNG(HAI BÀI) Sứ thần An Nam Phùng Khắc Khoan
BÀI MỘT
Chúng ta ở những nơi khác nhau cùng trở về quê hương lễ nghĩa(13 ), Mừng gặp ngày hôm nay cùng đi sứ sang chầu vua. Đến triều thấy nối tiếp mũ hủ của nhà Ân(14 ), Sang thượng quốc xem vẻ sáng tươi, được thấy mũ miện, áo xiêm của vua Thuấn. Ăn yến tại triều đình, thấm ơn hoàng đế, Lúc trở về hương trời nức đầy tay áo. Chỉ có bậc quân tử mới biết được bậc chân quân tử, May được trong thơ ngài lại biểu dương tôi.
Dịch thơ:
HỌA THƠ CHI PHONG SỨ
BÀI MỘT
Cùng ngài hội hộ vui thay Thân mang quốc sự tâu bày thánh quân Sân triều sắc mũ nhà Ân Hòang bào vua Thuấn muôn phần sáng tươi Yến ban rạng rỡ hoa cười Hương thơm quấn quýt tay người đắm say Kính người quân tử xưa nay Văn chương còn mãi sâu dày thiên thu.
Phùng Văn Khai dịch
———————
([13]) Quê hương lễ nghĩa: chỉ Trung Hoa.
([14]) Mũ hủ: một loại mũ trong lễ phục của nhà Ân thời cổ. Thiên Văn Vương (Đại Nhã) trong Kinh Thi có ghi chuyện kẻ sĩ nhà Ân đội mũ hủ sang chầu vua Chu. Đây chỉ sứ thần các nước đến chầu thiên tử.
Nghĩa an hà địa bất an cư, Lễ tiếp thành giao lạc hữu dư. Bỉ thử tuy thù sơn hải vực, Uyên nguyên đồng nhất thánh hiền thư. Giao lân tiện thị tín vi bản, Tiến đức thâm duy kính tác dư. Ký thủ sứ thiều hồi quốc nhật, Đông Nam ngũ sắc vọng vân xư (xa).
Dịch nghĩa:
BÀI HAI
Yên theo nghĩa thì nơi nào mà chẳng ở yên, Giao tiếp với nhau bằng Lễ, bằng Thành nên vui có thừa. Đấy đây dẫu khác nhau về núi sông, bờ cõi, Nhưng chung nhau một nguồn sâu là sách thánh hiền. Giao thiệp với lân bang nên lấy tín làm gốc, Tiến đức nên nghĩ lấy kính làm xe. Nhớ lấy ngày xe sứ về nước, Ngóng theo xe mây năm sắc rẽ đôi ngả Đông – Nam.
Dịch thơ:
BÀI HÀI
Nghĩa thuần thành tất an yên Khang trang giữ lễ, vui nên có thừa Cách xa sông núi, cõi bờ Chung nhau nguồn cội Thi, Thơ thánh hiền Lân bang tín nghĩa làm nền Đức quang tâm kính lâu bền luân xa Bồi hồi tiễn sứ bôn ba Mây theo năm sắc chiều tà Đông – Nam.
TRÙNG TẶNG AN NAM SỨ THẦN ĐIỆP TIỀN VẬN (NHỊ THỦ) Lý Chi Phong
NHẤT
Ngã cư Đông quốc tử Nam hương, Văn quĩ do lai cộng bách vương. Phụng sứ hỷ quan Chu lễ nhạc, Xu ban vinh xí Hán quan thường. Vân di điện bệ mê tiên trượng, Yên súc cung lô thức ngự hương. Đồng mộc thánh ân chiêm thịnh sự, Cưỡng niêm thi bút tiếm du dương.
Dịch nghĩa:
LẠI TẶNG SỨ THẦN NƯỚC AN NAM THEO VẦN TRƯỚC(HAI BÀI)
BÀI MỘT
Tôi ở nước phương Đông, ngài ở quê phương Nam, Nhưng chế độ vốn cùng chung theo bách vương(15 ). Vâng mệnh đi sứ, mừng được thấy lễ nhạc nhà Chu, Theo ban chầu, vẻ vang được đứng vào hàng mũ xiêm nhà Hán. Mây đưa nơi điện bệ, tiên trượng uy nghi, Trong lò khói tỏa biết là ngự hương. Cùng tắm gội thánh ân, được xem thịnh sự, Gượng cầm bút, lạm làm thơ ca tụng.
Dịch thơ:
LẠI TẶNG SỨ THẦN NƯỚC AN NAM
BÀI MỘT
Ta phương Đông – ngài phương Nam Mối giềng quốc đạo theo hàng bách vương Sứ thần hưởng nhạc Chu công Mũ xiêm triều Hán chúng thần an khang Uy nghi điện ngọc mấy hàng Lò trong khói tỏa ngự hương bốn bề Thánh ân tắm gội trúc tre Lời thơ dâng tặng thắm về muôn phương.
Tân khổ thê hàng tẩu đế cư, Việt trung qui lộ nhất niên dư. Tương phùng hải ngoại nan phùng khách, Đắc kiến nhân gian vị kiến thư. Man quán lữ hoài vô trúc diệp, Chướng giang hành lý hữu lam dư. Quân hoàn chính trị xuân phong tảo, Mai lĩnh thanh hương tưởng mãn xư (xa).
Dịch nghĩa:
BÀI HAI
Vất vả vượt biển trèo non tới đế kinh, Đường về nước Việt kể tới hơn một năm. Được gặp khách khó gặp nơi hải ngoại, Lại được xem sách quí nhân gian chưa từng thấy. Tình lữ thứ nơi man quán, không có rượu “Trúc diệp”(16 ), Hành lý chốn chướng giang có cỗ xe mầu lam(17 ) Ngài về đúng lúc gió xuân sớm, Có lẽ rằng hương thơm dịu ở Mai Lĩnh sẽ phả đầy xe(18 ).
Dịch thơ:
BÀI HÀI
Đế kinh vạn dặm non ngàn Đường về nước Việt gian nan kém gì Tay cầm tay khách phân ly Nâng pho sách quý lòng thì vấn vương Tìm đâu “Trúc diệp” trong sương Mịt mùng muôn nỗi chướng giang trùng trùng Người đi gửi gió xuân mừng Xe qua Mai Lĩnh còn lừng hương mai.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([15]) Chế độ: dịch chữ “văn quĩ”, chữ trong sách Trung Dung: “Xa đồng quĩ, thư đồng văn”: xe cùng một cỡ trục, viết cùng một lối chữ. Ý nói chế độ thống nhất, cùng tuân theo vương chế.
([16]) Man quán: quán của sứ thần các nước ở khi sang chầu thiên tử. “Trúc diệp” là tên một loại rượu.
([17]) Chướng giang: sông có chướng khí. Người phương Bắc cho rằng phương Nam có nhiều chướng khí nên gọi những sông ở phía nam Ngũ Lĩnh là Chướng giang.
([18]) Mai Lĩnh: tức Đại Dũ Lĩnh, một ngọn núi trong Ngũ Lĩnh, ở vào khoảng tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc ngày nay. Vì núi này có nhiều mai nên gọi là Mai Lĩnh. Sứ thần nước ta sang Trung Quốc hay về đều phải qua Mai Lĩnh.
TÚC HỌA TÁI THỨ HẢI ĐÔNG CHI PHONG SỨ CÔNG TIỀN VẬN(NHỊ THỦ) Phùng Khắc Khoan
NHẤT
Cư hương tất trạch Lỗ Trâu hương, Giảng đạo đồng sư Khổng Tố vương. Học hải tuấn nguyên uyên hạo hạo, Bút hoa sinh thái sắc thường thường. Thi nang kim ngọc châu cơ bảo, Dược lũng sâm linh truật quế hương. Công ngã điệt vi tân dữ chủ, Tẫn Đông Nam mỹ nhậm xưng dương.
Dịch nghĩa:
LẠI KÍNH HỌA THEO VẦN TRƯỚC CỦA CHI PHONG SỨ CÔNG Ở HẢI ĐÔNG(HAI BÀI)
Phùng Khắc Khoan
BÀI MỘT
Nơi ở ắt phải chọn đất Lỗ, đất Trâu(19 ), Giảng đạo cùng tôn đức Tố vương Khổng Tử làm thầy(20 ). Biển học khơi nguồn, mênh mông sâu thẳm, Bút hoa sinh vẻ, đủ mọi mầu sắc. Túi thơ đầy vật báu vàng, ngọc, châu, cơ(21 ), Hòm thuốc nức mùi sâm, linh, truật, quế(22 ). Ngài cùng tôi thay nhau lần lượt làm chủ và khách, Mặc sức tán dương những điều hay đẹp ở Đông và Nam(23 ).
Dịch thơ:
LẠI HỌA THƠ SỨ THẦN CHI PHONG
BÀI MỘT
Xin cùng chọn đất Lỗ, Trâu Cùng ngài tôn đức Khổng Khâu làm thầy Mênh mông bể học sâu dày Tờ hoa muôn vẻ, mây bay muôn ngàn Văn thơ châu ngọc từng hàng Thuốc tiên tứ vị thơm làn hương xa Mời ngài làm chủ cùng ta Đông – Nam hai nước chan hòa vầng dương.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([19]) Lỗ, Trâu: Lỗ là quê hương Khổng Tử; Trâu là quê Mạnh Tử.
([20]) Tố vương: Tố vương là xứng đáng làm vua mà không ở ngôi vua. Người đời sau tôn xưng Khổng Tử là Tố vương.
([21]) Cơ: tên một loại ngọc quý.
([22]) Sâm, linh, truật, quế: tên các vị thuốc.
([23]) Đông Nam: Đông chỉ Triều Tiền, Nam chỉ An Nam.
Vãng vãng lai lai duyệt nhật cư, Khách trung nhị thập hựu tuần dư. Vệ thân kiện bộc duy trường kiếm, Giao tý lương bằng hữu cổ thư. Nghênh chí lễ hành tư cổ vũ, Sinh dương khí phục dĩ quyền dư. Đồ trường mã khoái xuyền qui tảo, Nhậm trọng phương tri thị đại xư (xa).
Dịch nghĩa:
BÀI HAI
Ngày ngày cứ qua qua lại lại, Ở nơi đất khách đã hơn hai mươi tuần. Đầy tớ khỏe để bảo vệ mình chỉ một thanh gươm dài, Bạn tốt kết giao với tay có cuốn sách cổ. Theo lễ đón khách, cùng cổ vũ nhau, Khí dương đã bắt đầu sinh trở lại. Đường dài, ngựa nhanh, mau về sớm, Thế mới biết là xe to chở nặng.
Dịch thơ:
BÀI HAI
Ngày qua ngày lại qua ngày Phong sương đất khách đã rày tháng năm Theo cùng tấc kiếm dưới trăng Cổ thư dăm cuốn tay cầm trao tay Khách sang quấn quýt như mây Phong quang kéo đến như cây trên ngàn Đường xa muôn dặm đá vàng Xe đầy nhạc ngựa mang mang lối về.