Vansudia.netluôn đồng hành cùng bạn đọc trên các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Địa lý và mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan đến Triết học, Văn hóa, Vật lý, Thiên văn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng, đa chiều của bạn đọc ủng hộ và động viên.
Lời người dịch: Tập thơ Vạn thọ thánh tiết khánh hạ thi tập của sứ thần Phùng Khắc Khoan chúc thọ vua Minh đã gây tiếng vang lớn trong Minh triều từ ngày đó tới tận hôm nay. Không chỉ các đại thần nhà Minh mà cả vua Minh và sứ thần các nước trong đó có Triều Tiên, Nhật Bản đều rất khâm phục, tán dương, trân trọng tặng thơ của vị sứ thần cao tuổi đến từ phương Nam. Tập thơ với những thông điệp sâu sắc về lễ nghĩa, phong tục, điển tích, các bài học triều chính từ thượng cổ, những bậc thánh quân, đại thần danh tiếng… đã được Phùng Khắc Khoan thể hiện trong thơ rất sâu sắc. Điều đó cho thấy sự thực học, thực hành, thành tựu về văn hóa, chính trị của người phương Nam đã đường hoàng sánh với các lân quốc và phương Bắc. Đó cũng là vẻ đẹp của Vạn thọ thánh tiết khánh hạ thi tập được giới thiệu trong kỳ này.
Trong các tập thơ đi sứ còn lại, cụm thơ chúc thọ vua Minh mang nhiều tên khác nhau. Phùng Khắc Khoan trong Mai lĩnh sứ hoa thi tập đặt cho cụm thơ một cái tên khá dài: An Nam kỳ mục Phùng Khắc Khoan vạn bái vạn chúc hạ thiên triều hoàng đế vạn thọ tiết thi (Thơ của kỳ mục nước An Nam là Phùng Khắc Khoan muôn lạy, muôn chúc mừng tiết vạn thọ của thiên triều hoàng đế). Thiếu bảo, Thượng thư bộ Lại là Trương Vị của triều Minh, khi dâng thơ chúc thọ này lên vua Minh, thì gọi cụm thơ này là Vạn thọ thi tập (Tập thơ Vạn thọ). Lý Toái Quang, sứ Triều Tiên khi viết Tựa cho cụm thơ này đề rõ: An Nam sứ thần vạn thọ thánh tiết khánh hạ thi tập tự (Bài Tựa tập thơ mừng vạn thọ thánh tiết của sứ thần An Nam)… Dựa vào bản in bài Tựa từ Hàn Quốc đem về, phù hợp với bản chép tay cùng tác phẩm của ta, lấy tên tập thơ là: Vạn thọ thánh tiết khánh hạ thi tập (Tập thơ mừng vạn thọ thánh tiết) là thỏa đáng. Số bài của tập thơ có sách đề 30 bài, có sách đề 31 bài, có lẽ sách đề 35 bài, không hề trùng nhau mới là số chuẩn.
Phần trích tuyển chỉ chọn 5 bài, để độc giả qua thơ mà thấy được phần nào tính chất đặc thù của văn chương bang giao nước Việt, trong bối cảnh văn hóa của các nước đồng văn khu vực Đông Bắc Á thời trung đại. Ngoài ra, trích thêm bài Tựa tập thơ của Lý Toái Quang để trước phần tuyển tác phẩm. Còn đoạn văn chép việc Trương Vị dâng tập thơ này lên vua Minh thì để ở Phụ tuyển sau phần tuyển thơ.
Thu hạo bình phân tiết chính trung, Vạn bang tất tập Đại Minh cung. Nghiêu mi Thuấn mục thiên tư dị, Thang kính Văn hy thánh đức đồng. Ngự tọa miện lưu lung thụy nhật, Cống đình ngọc bạch nhạ hương phong. Uyên hàng vũ đạo đồng hoan chúc, Đế thọ tăng cao thiên tỷ sùng.
Dịch nghĩa:
THƠ MỪNG VẠN THỌ THÁNH TIẾT
BÀI MỘT
Giữa mùa thu, đương tiết chính trung, Muôn nước đều hội ở cung Đại Minh. Thiên tư lạ như mày vua Nghiêu, mắt vua Thuấn(1 ), Thánh đức giống như đức kính vua Thang, đức sáng vua Văn(2 ). Trên ngự tọa, cổn miện lồng bóng mặt trời đẹp, Dưới sân triều cống, ngọc lụa đượm hương thơm. Quần thần sắp hàng nhảy múa cùng vui mừng kính chúc, Chúc hoàng đế tuổi thọ tăng cao sánh với trời.
Dịch thơ:
THƠ MỪNG VẠN THỌ THÁNH TIẾT
BÀI MỘT
Trời thu lồng lộng sáng trong Muôn phường chầu thuận bốn cung lạy mừng Mày Nghiêu, mắt Thuấn sáng bừng Huân công, thánh đức sánh cùng Thang, Văn Bệ rồng lồng lộng thánh ân Sân rồng nườm nượp cống phần như mây Quần thần rạng rỡ dắt tay Vang lời chúc tụng như cây muôn trùng.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([1]) Mày vua Nghiêu, mắt vua Thuấn: theo truyền thuyết, lông màu vua Nghiêu có tám màu, mắt vua Thuấn có hai đồng tử.
([2]) Đức kính vua Thang, đức sáng vua Văn: vua Thang là vua sáng nghiệp nhà Thương, Văn là vua Văn Vương nhà Chu. Kính thư có chép vua Thang “nhật tê thánh kính” (đức kính ngày một cao). Kinh Thi có chép vua Văn “tập hy kính chỉ” (kính cẩn nối sáng).
Bách thế tông thân bách thế chi, Nhân bồi nhất mạch phúc sinh ky. Thuấn vô hoang đãi tồn trung xứ, Thang khắc khoan nhân lâm hạ thì. Chu tảo tứ khai ngư lộc yến, Hy đồng điệt tấu Phượng Hoàng trì. Hạ thần thiểm phụng nam lai sứ, Nguyện thướng Nam sơn vạn thọ thi.
Dịch nghĩa:
BÀI NĂM
Tôn thống lâu dài trăm đời, chi phái cũng trăm đời, Lấy nhân bồi đắp, phúc gây nền. Tồn tâm như vua Thuấn không lười nhác, không phóng túng, Trị dân như vua Thang có đức khoan nhân. Tiếp chư hầu như nhà Chu mở yến ngư lộc(3 ), Cử âm nhạc như đàn vua Phục Hy gẩy ở ao Phượng Hoàng(4 ). Hạ thần lạm được vâng mệnh đi sứ từ nước Nam tới, Xin dâng bài thơ “Nam sơn vạn thọ”(5 ).
Dịch thơ:
BÀI NĂM
Trăm đời tôn thống như mây Nghĩa nhân bồi đắp đức dày khơi thông Siêng năng vua Thuấn chăm dân Vua Thang sớm tối chuyên cần quản chi Chu công mở yến còn ghi Phượng Hoàng nước bạc Phục Hy gảy đàn Sứ thần từ đất phương Nam “Nam sơn vạn thọ” dâng lên thánh triều.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([3]) Yến ngư lộc: Ngư, lộc là tên hai thiên Nam hữu gia ngư và Lộc minh ở phần Tiểu nhã, Kinh Thi, nội dung nói việc vua đãi yến quần thần tân khách.
([4]) Ao Phượng Hoàng: ao trong cung vua.
([5]) Nam sơn vạn thọ: tức câu “Như Nam sơn chi thọ” (Thọ như núi Nam) trong bài Thiên bảo (Kinh Thi, Tiểu nhã). Thiên bảo là bài thơ bề tôi chúc vua.
Nhất đóa tường quang chiếu Tử Vi, Hoan thanh hỷ khí dật Nghiêu kỳ. Kim chung nhã tấu Thiều Anh nhạc, Bảo đỉnh hương ngưng phủ cồn y. Thái Cực điện tiền trường nhật noãn, Bồng Lai cung lý thọ tinh huy. Nguyện tương kính đức vi cơ bản, Thiên địa thần nhân vĩnh hữu y.
Dịch nghĩa:
BÀI SÁU
Một đóa mây lành chiếu cung Tử Vi(6 ), Tiếng vui, vẻ mừng tràn ngập Nghiêu kỳ(7 ). Chuông vàng tấu nhạc Thiều, nhạc Anh(8 ), Đỉnh báu tỏa hương đượm áo long cổn. Trước điện Thái Cực, ngày dài ấm áp, Trong cung Bồng Lai, sao thọ rạng soi. Mong thiên tử lấy đức kính làm căn bản, Để trời, đất, thần, người mãi có chỗ nhờ.
Dịch thơ:
BÀI SÁU
Mây lành cung chiếu tử vi Tiếng mừng ca hát Nghiêu kỳ vút cao Thiều, Anh khúc thức xôn xao Chuông vàng hương tỏa hoàng bào tinh tươm Bồng Lai phúc thọ soi gương Khoan hòa Thái Cực văn chương vang lừng Đức trời thăm thẳm khôn cùng Ấy lòng thiên tử người, thần an khang.
Phùng Văn Khai dịch
———————
([6]) Tử Vi: chỉ cung vua ở.
([7]) Nghiêu kỳ: cõi đất vua Nghiêu. Ở đây chỉ kinh đô.
([8]) Thiều Anh: tên hai khúc nhạc. Nhạc Thiều của Đế Thuấn, nhạc Anh của Đế Cốc thời thượng cổ Trung Quốc.
Thánh tiết hân phùng phú Lục tiêu, Trạch gia tứ hải ngưỡng thiên triều. Phủ Hoa tiện thị thâm an bố, Trí viễn vưu hoằng lệnh đức chiêu. Hợp cửu châu qui đồng triệt nhất, Trác thiên cổ quán bách vương siêu. Viễn thần hỷ cận giai tam xích, Nguyện hiệu phong nhân chúc thọ Nghiêu.
Dịch nghĩa:
BÀI MƯỜI TÁM
Mừng gặp ngày vạn thọ thánh tiết, hát thơ Lục tiêu(9 ), Ngưỡng vọng thiên triều ân huệ ban ra khắp bốn bể. Vỗ yên Hoa Hạ, ơn sâu lan khắp, Rộng ơn đến cả chốn xa xôi, đức tốt tỏ ngời. Hợp cả chín châu cùng theo về một khuôn phép, Vượt lên đứng đầu nghìn xưa, hơn hết bách vương. Kẻ bầy tôi nơi xa xôi này mừng được gần điện bệ trong gang tấc, Xin được bắt chước quan Phong nhân chúc thọ Đế Nghiêu(10 ).
Dịch thơ:
BÀI MƯỜI TÁM
“Lục tiêu” vạn thọ ca ngâm Đức ban bốn bể sứ thần càng vui Ơn sâu Hoa Hạ đắp bồi Non cao biển thẳm xa xôi chúc mừng Chín châu theo phép tắc chung Cột trời sừng sững châu tuần bách vương Sân chầu một sớm tinh sương Kính dâng lời ngọc Phong nhân thuở nào.
Phùng Văn Khai dịch
——————-
([9]) Lục tiêu: tên một bài thơ trong phần Tiểu nhã – Kinh Thi, nội dung nói thiên tử ban yến cho các chư hầu, chư hầu ca tụng và chúc thọ thiên tử.
([10]) Phong nhân chúc thọ Nghiêu: truyền thuyết kể rằng xưa vua Nghiêu đi chơi đến đất Hoa, quan Phong nhân ở đất Hoa dâng lời chúc vua Nghiêu: giàu có, sống lâu, nhiều con trai.
Thánh ngự trung khu trạch phổ đàm, Đằng đằng thụy khí mãn dư kham. Đế tinh thai nguyệt huy thần bắc, Giáo vũ nhân phong kỵ Nhật Nam. Đình nhập cửu châu qui triệt nhất, Điện hô vạn tuế chúc tụng tam. Tài thành thiên địa nhân chi đạo, Sở vọng hoàng vương tâm dự tham.
Dịch nghĩa:
BÀI HAI MƯƠI CHÍN
Thánh đế ngự ở trung ương, ân huệ ban khắp, Khí tốt lành ngùn ngụt tràn ngập đất trời. Đế tinh, thai nguyệt sáng rực bắc thần(11 ), Mưa giáo hóa, gió nhân từ đến cả Nhật Nam(12 ). Chín châu qui phục triều đình, theo một khuôn phép, Trên cung điện tung hô vạn tuế ba lần. Đạo của người là sửa sang, giúp đỡ trời đất, Trông mong nhà vua luôn để tâm ở việc tham dự vào sự hóa dục của đất trời.
Dịch thơ:
BÀI HAI MƯƠI CHÍN
Trung ương thánh đế ban ân Khí lành loang khắp tầng không bốn mùa Bắc phương rực sáng tua rua Nam phương hòa mục tình xưa thuần thành Chín châu qui thuận triều đình Điện vàng vạn tuế trăm cành đơm hoa Đạo vua sáng đức khoan hòa Thuận thiên thừa vận càng là thiên thu.