Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 24]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 24]

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai.

CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI

DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT

(Kỳ thứ hai mươi bốn)

Lời người dịch: Sau phần dịch đầu tiên như một cánh cửa mở vào thế giới thi ca xướng họa của Phùng Khắc Khoan, phần hai tiếp tục dẫn người đọc đi sâu hơn vào cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa Đại Việt và Triều Tiên qua từng vần thơ cổ. Những câu chữ tưởng chừng khuôn mẫu của lối ứng đối bang giao, khi được giải mã, lại hiện lên với tất cả sự tinh tế, linh hoạt và giàu cảm xúc của những trí thức lớn. Hành trình dịch thơ vì thế không dừng lại ở việc chuyển ngữ, mà trở thành một quá trình đối thoại liên tục với quá khứ, nơi mỗi bài thơ là một lần khám phá thêm về chiều sâu văn hóa và tâm thế của con người trong lịch sử.

Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai

 

 

Phụ tuyển:

贈 安 南 使 臣 排 律 十 韻
李 芝 峰

聞 道 交 南 俗
民 居 瘴 海 堧
恩 綸 新 雨 露
封 壤 舊 山 川
界 割 群 蠻 表
風 連 百 越 偏
時 清 呈 瑞 雉
水 毒 跕 飛 鳶
象 自 村 童 馭
香 隨 賈 客 船
沙 邊 饒 蜮 弩
淵 底 吐 蛟 涎
地 氣 生 春 暖
梅 花 未 臘 妍
貢 憑 重 譯 舌
家 養 八 蠶 眠
彩 畫 周 王 會
銅 標 漢 史 編
逢 君 還 作 別
相 憶 五 溪 煙

 

Phiên âm:

TẶNG AN NAM SỨ THẦN
BÀI LUẬT THẬP VẬN
                                     Lý Chi Phong

Văn đạo Giao Nam tục,
Dân cư chướng hải nhuyên.
Ân luân tân vũ lộ,
Phong nhưỡng cựu sơn xuyên.
Giới cát quần man biểu,
Phong liên bách Việt thiên.
Thời thanh trình thụy trĩ,
Thủy độc thiếp phi diên.
Tượng tự thôn đồng ngự,
Hương tùy cổ khách thuyền.
Sa biên nhiêu quắc nỗ,
Uyên để thổ giao diên.
Địa khí tiên xuân noãn,
Mai hoa vị lạp nghiên.
Cống bằng trùng dịch thiệt,
Gia dưỡng bát tàm miên.
Thái họa Chu vương hội,
Đồng tiêu Hán sử biên.
Phùng quân hoàn tác biệt,
Tương ức Ngũ Khê yên.

 

 

Dịch nghĩa:

TẶNG SỨ THẦN NƯỚC AN NAM
MƯỜI VẦN THƠ BÀI LUẬT

Nghe nói phong tục phía Nam Giao châu,
Dân cư ở sát ngay bờ biển.
Ơn mưa móc mới vâng ân chiếu thiên tử,
Phong cương vẫn là núi sông xưa.
Địa giới tách ngoài quần man,
Phong tục gần bên bách Việt.
Lúc thanh bình có chim trĩ trắng hiện điềm lành(1 ),
Nước độc khiến diều bay phải sa xuống(2 ).
Voi thuần, do trẻ quê chăn dắt,
Hương thơm theo thuyền khách buôn đưa đi.
Bên bãi có nhiều quắc nỗ(3 ),
Đáy vực nhả dãi giao long(4 ).
Trước mùa xuân, khí đất đã ấm,
Chưa tháng Chạp, hoa mai đã tươi.
Triều cống phải nhờ qua nhiều lần phiên dịch,
Dân gia một năm nuôi tám lứa tằm.
Tranh vẽ việc hội kiến vua nhà Chu,
Cột đồng có ghi trong sử đời Hán(5 ).
Được gặp ngài, lại phải cùng ngài ly biệt,
Nhớ nhau, thường tưởng đến mây khói Ngũ Khê(6 ).

 

Dịch thơ:

TẶNG SỨ THẦN AN NAM MƯỜI VẦN THƠ

Ta nghe phong tục Giao Châu
Cư dân chung sống biển sâu dặm ngàn
Vâng chầu thiên tử thánh ân
Phong cương sơn thủy tầng đồng từ xưa
Sách trời phân định nắng mưa
Tục dân Bách Việt mau thưa cũng gần
Từ xưa bạch trĩ cống phần
Nước thiêng diều quạ cơ chừng mạng vong
Thuần voi trẻ dắt trên đồng
Hương thơm muôn nẻo con đường Đông – Tây
Bãi cồn “quắc nỗ” lạ thay
Giao long đáy vực còn đây hương trời
Xuân về khí đất nhuần tươi
Hoa mai chúm chím vàng phơi nắng vàng
Cống đoàn xa đến lân bang
Đất nhà tám lứa tằm đang chín dần
Kìa tranh hội kiến Chu công
Kìa trang sử Hán cột đồng còn ghi
Cầm tay Phùng sứ biệt ly
Nhớ nhau trông khói Ngũ Khê đỡ buồn.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([1]) Trĩ trắng: chỉ việc nước Việt Thường xưa sai sứ mang bạch trĩ dâng lên Chu Thành Vương, có tâu rằng: “Trời không có mưa dầm gió lớn, biển không nổi ba đào đã ba năm, có lẽ Trung Quốc có đấng thánh nhân chăng? Vì vậy mới sang cống”. Sứ Việt Thường phải qua nhiều lần phiên dịch mới vào cống được.

([2]) Nước độc: theo Hậu Hán thư – Mã Viện truyện, khi Mã Viện sang nước ta đến Hồ Tây thấy hơi nước mờ mịt, rất độc, diều bay rơi lả tả xuống hồ.

([3]) Quắc nỗ: Ná bắn con quắc. Quắc là một loài cáo nhỏ, hay ngậm cát phun người làm cho người ốm.

([4]) Dãi giao long: tức long diên hương, tên một thứ hương liệu.

([5]) Cột đồng: tức cột đồng do Mã Viện đời Hán dựng để định biên giới.

([6]) Ngũ Khê: tên năm vùng đất man di ở, nay thuộc đất hai tỉnh Hồ Nam và Qúy Châu – Trung Quốc. Có lẽ ở đây, tác giả dùng Ngũ Khê để chỉ nước ta.

 

 

肅 次 芝 峰 使 公 長 律 十 韻
馮 克 寬

極 判 洪 濛 氣
區 分 上 下 堧
東 西 南 北 界
淮 海 濟 河 川
越 甸 居 初 定
天 中 正 不 偏
周 林 驅 虎 豹
虞 教 樂 魚 鳶
閭 巷 開 書 塾
旗 亭 賣 酒 船
雨 晴 添 象 跡
風 暖 送 龍 涎
含 忍 強 為 勝
摛 文 巧 弄 妍
萬 花 爭 秀 發
群 動 任 安 眠
王 道 車 書 共
皇 朝 志 紀 編
詩 成 聊 使 寫
霞 燦 海 雲 煙


Phiên âm:

TÚC THỨ CHI PHONG SỨ CÔNG
TRƯỜNG LUẬT THẬP VẬN

                             Phùng Khắc Khoan

Cực phán hồng mông khí,
Khu phân thượng hạ nhuyên.
Đông Tây Nam Bắc giới,
Hoài Hải Tế Hà xuyên.
Việt điện cư sơ định,
Thiên trung chính bất thiên.
Chu lâm khu hổ báo,
Ngu giáo lạc ngư diên.
Lư hạng khai thư thục,
Kỳ đình mại tửu thuyền.
Vũ tình thiêm tượng tích,
Phong noãn tống long diên.
Hàm nhẫn cường vi thắng,
Si văn xảo lộng nghiên.
Vạn hoa tranh tú phát,
Quần động nhậm an miên.
Vương đạo xa thư cộng,
Hoàng triều chí kỷ biên.
Thi thành liêu sử tả,
Hà xán hải vân yên.

 

Dịch nghĩa:

KÍNH HỌA THƠ TRƯỜNG LUẬT MƯỜI VẦN
CỦA CHI PHONG SỨ CÔNG

                                   Phùng Khắc Khoan

Thái cực chia khí hỗn mang,
Định ra khu vực trên dưới.
Địa giới có Đông – Tây – Nam – Bắc,
Sông có Hoài – Hải – Tế – Hà.
Cõi nước Việt mới định,
Chính giữa trời, không thiên không lệch.
Rừng Chu xua hổ báo,
Giáo hóa triều Ngu, cá diều đều vui(7 ).
Khắp thôn quê đều mở trường học,
Nơi kỳ đình có thuyền bán rượu(8 ).
Mưa tạnh thấy dấu chân voi in,
Gió ấm áp đưa mùi long diên hương.
Lấy sức mạnh của sự nhẫn nhịn làm thắng,
Viết văn chương khéo điểm tô.
Muôn hoa nở đua vẻ đẹp,
Mọi loài được mặc sức ngủ yên.
Theo đạo vua, chung một cỡ trục xe, chữ viết(9 ),
Hoàng triều có ghi trong sử sách.
Thơ làm xong đem ra viết ngay,
Ráng rực rỡ chiếu khắp mây khói mặt biển.

 

Dịch thơ:

KÍNH HỌA THƠ MƯỜI VẦN CỦA CHI PHONG

Từ xưa thái cực mang mang
Dần dần định giới nước, làng phân chia
Đông – Tây – Nam – Bắc tứ bề
Tế – Hà – Hoài – Hải sông kia dưới trời
Kìa trông Việt quốc mà coi
Chính trung trời đất, vật – người hanh thông
Rừng Chu hổ báo không cùng
Cá, diều trời vực nỗi mừng hiện ra
Thôn quê trẻ nhỏ vang ca
Kỳ đình thuyền rượu gần xa dập dìu
Voi còn in dấu chân rêu
Long diên hương ngát gió chiều đưa sang
Từ xưa nhẫn nhịn lân bang
Văn chương từ phú hàng hàng điểm tô
Muôn hoa đùa gió sắc phô
Chúng sinh thuần phác sông hồ biếc xanh
Trung dung đạo thánh an lành
Hoàng triều lưu vết, sách kinh rõ ràng
Thơ đôi vần ghép đưa sang
Ráng chiều vàng rực biển vàng khói mây.

Phùng Văn Khai dịch

——————

([7]) Cá diều đều vui: Kinh Thi: “Diên phi lệ thiên, ngư dược vu uyên” (Diều bay sát trời, cá nhảy dưới vực), ý nói đạo thánh nhân tham thiên địa, tán hóa dục khiến muôn loài đều được sung sướng, thỏa thuê.

([8]) Kỳ đình: nghĩa đen là nơi quán chợ.

([9]) Chung trục xe, chữ viết: ý nói thiên hạ thống nhất. Dùng chữ trong sách Trung Dung.

 

Phụ tuyển:

海 東 金 羊 逸 士 敬 次 使 公 前 韻
猥 呈 梅 南 毅 齋 二 首
其 一

安 南 風 俗 自 成 鄉
終 古 君 臣 拱 聖 王
地 有 山 川 偏 地 界
天 無 雨 雪 浹 衣 裳
獻 來 白 雉 三 重 譯
包 得 青 茅 一 匭 香
跋 涉 長 途 餘 四 萬
問 公 年 紀 正 鷹 揚

 

Phiên âm:

HẢI ĐÔNG KIM DƯƠNG DẬT SĨ KÍNH THỨ
SỨ CÔNG TIỀN VẬN, ỔI TRÌNH MAI NAM NGHỊ TRAI (NHỊ THỦ)

KỲ NHẤT

An Nam phong tục tự thành hương,
Chung cổ quân thần củng thánh vương.
Địa hữu sơn xuyên thiên địa giới,
Thiên vô vũ tuyết thiếp y thường.
Hiến lai bạch trĩ tam trùng dịch,
Bao đắc thanh mao nhất quĩ hương.
Bạt thiệp trường đồ dư tứ vạn,
Vấn công niên kỷ chính ưng dương.

 

Dịch nghĩa:

KIM DƯƠNG DẬT SĨ(10 ) Ở HẢI ĐÔNG KÍNH THEO VẦN THƠ TRƯỚC CỦA SỨ CÔNG, MẠN PHÉP TRÌNH NGÀI MAI NAM NGHỊ TRAI (HAI BÀI)

BÀI MỘT

Phong tục An Nam tự thành một nước,
Xưa nay vua tôi vẫn thần phục thánh đế.
Đất có núi sông, địa giới hơi thiên lệch,
Trời không có mưa tuyết, chẳng ướt áo xiêm.
Tới dâng bạch trĩ, qua ba lần phiên dịch(11 ),
Cống cỏ thanh mao, một hòm thơm phức(12 ).
Lội suối, trèo đèo, đường dài hơn bốn vạn dặm,
Hỏi tuổi ngài, đương lúc ưng dương(13 ).

 

Dịch thơ:

KIM DƯƠNG DẬT SĨ HỌA THƠ MAI NAM NGHỊ TRAI

BÀI MỘT

An Nam phong tục chia riêng
Từ xưa vẫn giữ mối riềng lân bang
Đất trời, sông núi rõ ràng
Hiếm khi tuyết lạnh, hân hoan sắc màu
Từ xưa bạch trĩ dâng trầu
Cống phần gồm đủ thung châu hương lành
Gian nan vạn dặm Bắc hành
Tuổi thời Lã Vọng tinh anh kém gì?

Phùng Văn Khai dịch

———————

([10]) Kim Dương dật sĩ: Ngờ là Kim Tiêu dật sĩ, người Triều Tiên.

([11]) Dâng bạch trĩ: sứ nước Việt Thường đem trĩ trắng dâng Chu Thành Vương, phải qua nhiều lần phiên dịch.

[12]([12]) Cống cỏ thanh mao: thanh mao (hay bao mao) là một loại cỏ dùng để lọc rượu khi cúng tế. Thời cổ qui định vùng phương Nam hàng năm cống thứ cỏ này cho thiên tử.

([13]) Ưng dương: chim ưng tung cánh bay. Chữ này vốn chỉ Thái công Lã Vọng đời Chu, tuổi đã bảy mươi mà vẫn oai hùng như chim ưng tung cánh bay. Đây chỉ Phùng Khắc Khoan, lúc này cũng bảy mươi tuổi.

 

 

其 二

為 緣 王 事 久 離 居
黃 髮 飄 然 七 十 餘
貢 獻 野 雞 周 史 筆
境 分 銅 柱 漢 家 書
九 真 鄉 國 千 山 路
萬 里 行 程 一 竹 輿
公 館 偶 同 閒 日 話
腹 中 能 運 惠 施 車

 

Phiên âm:

KỲ NHỊ

Vị duyên vương sự cửu ly cư,
Hoàng phát phiêu nhiên thất thập dư.
Cống hiến dã kê Chu sử bút,
Cảnh phân đồng trụ Hán gia thư.
Cửu Chân hương quốc thiên sơn lộ,
Vạn lý hành trình nhất trúc dư.
Công quán ngẫu đồng nhàn nhật thoại,
Phúc trung năng vận Huệ Thi xư (xa).

 

Dịch nghĩa:

BÀI HAI

Vì việc nhà vua mà phải xa nhà lâu,
Ngài hơn bảy mươi tuổi, tóc vàng phơi phới.
Sử nhà Chu có ghi nước ngài xưa đã cống gà đồng(14 ),
Sách nhà Hán còn chép chuyện cột đồng chia biên giới.
Quê hương Cửu Chân của ngài đường xa hơn ngàn núi,
Muôn dặm hành trình ruổi rong một chiếc xe tre.
Ngẫu nhiên rỗi rãi ở công quán cùng nhau đàm thoại,
Trong bụng ngài quả là chứa năm xe sách của Huệ Thi(15 ).

 

Dịch thơ:

BÀI HAI

Việc vua năm tháng xa nhà
Tóc vàng phơi phới, niên đà bảy mươi
Sử Chu còn chép tích trời
Cột đồng Hán thất dặm phơi muôn trùng
Cửu Chân vạn dặm cây rừng
Một xe rong ruổi, một thân lý trình
Thư phòng công quán phân minh
Huệ Thi thuở trước đinh ninh kém gì.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([14]) Gà đồng: chỉ bạch trĩ mà trước kia nước Việt Thường từng mang cống Chu Thành Vương.

([15]) Huệ Thi: Sách Trang Tử có câu “Huệ Thi đa phương, kỳ thư ngũ xa” (Huệ Thi nhiều tài, sách của ông ta có đến năm xe).

 

 

答 次 海 東 使 金 羊 逸 士 詩 韻 二 首
馮 克 寬
其 一

海 東 舊 是 浴 龍 鄉
秀 發 英 才 可 佐 王
八 斗 高 名 曹 子 建
一 篇 正 論 杜 黃 裳
駸 駸 車 驟 行 軺 肅
馥 馥 衣 熏 坐 席 香
客 館 暫 時 相 解 逅
蜚 聲 萬 古 共 傳 揚

 

Phiên âm:

ĐÁP THỨ HẢI ĐÔNG SỨ KIM DƯƠNG DẬT SĨ THI VẬN (NHỊ THỦ)
                                                                                       Phùng Khắc Khoan
KỲ NHẤT

Hải Đông cựu thị Dục Long hương,
Tú phát anh tài khả tá vương.
Bát đẩu cao danh Tào Tử Kiến,
Nhất thiên chính luận Đỗ Hoàng Thường.
Xâm xâm xạ sậu hành thiều túc,
Phức phức y huân tọa tịch hương.
Khách quán tạm thời tương giải cấu,
Phi thanh vạn cổ cộng truyền dương.

 

Dịch nghĩa:

HỌA LẠI THƠ CỦA KIM DƯƠNG DẬT SĨ,
SỨ Ở HẢI ĐÔNG (HAI BÀI)
                                                   Phùng Khắc Khoan
BÀI MỘT

Hải đông xưa vốn là nước Dục Long,
Tú khí sinh anh tài, có thể giúp vua.
Tám đấu cao danh như Tào Tử Kiến0(16 ),
Một bài chính luận giống Đỗ Hoàng Thường(17 ).
Ngựa chạy nhanh, xe đi nghiêm trang,
Áo xông hương, chỗ ngồi thơm phức.
Nơi khách quán tạm được cùng nhau gặp gỡ,
Thanh danh sẽ cùng được lưu truyền muôn thuở.

 

Dịch thơ:

BÀI MỘT

Hải đông gốc gác từ xưa
Anh hùng xuất xử giúp vua lẽ thường
Lừng danh Tử Kiến văn chương
Một gương trung chính Hoàng Trường lưu danh
Trang nghiêm xe ngựa bon nhanh
Xiêm y mẫu mực thơm lành hương bay
Quán mừng gặp gỡ nhau đây
Danh thơm còn mãi như cây trên rừng.

Phùng Văn Khai dịch

 

—————-

([16]) Tào Tử Kiến: tức Tào Thực, con thứ của Tào Tháo thời Tam Quốc. Ông giỏi thơ văn, tài cao, từ nhỏ đã nổi tiếng làm thơ nhanh. Tạ Linh Vận từng nói: Văn chương thiên hạ có mười đấu, một mình Tào Tử Kiến được tám đấu.

([17]) Đỗ Hoàng Thường: người thời Đường Đức Tông, từng đỗ tiến sĩ, tính trung trực, làm quan đến Tiết độ sứ.

 

 

其 二

同 一 芝 蘭 一 室 居
日 相 薰 德 有 香 餘
氣 排 栗 烈 三 冬 雪
信 報 平 安 萬 里 書
南 暨 東 漸 陶 教 化
春 回 陽 燠 滿 堪 輿
古 云 四 海 皆 兄 弟
相 濟 同 舟 出 共 車

 

Phiên âm:

KỲ NHỊ

Đồng nhất chi lan nhất thất cư,
Nhật tương huân đức hữu hương dư.
Khí bài lật liệt tam đông tuyết,
Tín báo bình an vạn lý thư.
Nam kị đông tiềm đào giáo hóa,
Xuân hồi dương úc mãn kham dư.
Cổ vân: Tứ hải giai huynh đệ,
Tương tế đồng chu xuất cộng xư (xa).

 

 

Dịch nghĩa:

BÀI HAI

Chúng ta cùng ở một nhà có cỏ chi, hoa lan(18 ),
Ngày ngày cùng rèn luyện cho nhau có đức, thơm có thừa.
Tuyết ba tháng đông, khí trời lạnh buốt,
Thư từ muôn dặm, báo vẫn bình an.
Giáo hóa huân đào đến cả phương Nam, phương Đông(19 ),
Xuân về, khí ấm tràn trề trời đất.
Người xưa nói: Bốn bể đều là anh em(20 ),
Ngồi cùng thuyền, ra cùng xe, cùng giúp nhau.

 

Dịch thơ:

BÀI HAI

Chung nhà cỏ chỉ, hoa lan
Nức thơm đức hạnh, trời ban chí bền
Tháng ba tuyết đọng bên thềm
Tin mừng muôn dặm bình yên thêm mừng
Huân đào giáo hóa Nam – Đông
Phong quang khí ấm cơ tầng như mây
Anh em tứ hải về đây
Thuyền, xe sum họp chung xây cơ đồ.

Phùng Văn Khai dịch

—————-

([18]) Cỏ chi, hoa lan: sách Khổng Tử gia ngữ có câu: “Dữ thiện nhân cư, như nhập chi lan chi thất” (Cùng ở với người thiện như được vào nhà có cỏ chi hoa lan).

([19]) Câu này ý nói: giáo hóa thánh hiền đã đến cả An Nam (Nam) và Triều Tiên (Đông).

([20]) Bốn bể đều là anh em: câu này trong sách Luận ngữ.

Phùng Văn Khai dịch

—————–

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 10]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 11]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 12]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 13]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 14]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 15]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 16]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 17]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 18]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 19]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 20]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 21]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 22]

Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 23]

 

 

     


     

Bài trướcĐồng chí Lê Minh Hưng được bầu giữ chức Thủ tướng Chính phủ
Bài tiếp theo700 sinh vật lạ từ Trung Quốc viết lại lịch sử sự sống

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây