Vansudia.netluôn đồng hành cùng bạn đọc trên các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Địa lý và mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan đến Triết học, Văn hóa, Vật lý, Thiên văn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng, đa chiều của bạn đọc ủng hộ và động viên.
Lời người dịch:Sau phần dịch đầu tiên như một cánh cửa mở vào thế giới thi ca xướng họa của Phùng Khắc Khoan, phần hai tiếp tục dẫn người đọc đi sâu hơn vào cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa Đại Việt và Triều Tiên qua từng vần thơ cổ. Những câu chữ tưởng chừng khuôn mẫu của lối ứng đối bang giao, khi được giải mã, lại hiện lên với tất cả sự tinh tế, linh hoạt và giàu cảm xúc của những trí thức lớn. Hành trình dịch thơ vì thế không dừng lại ở việc chuyển ngữ, mà trở thành một quá trình đối thoại liên tục với quá khứ, nơi mỗi bài thơ là một lần khám phá thêm về chiều sâu văn hóa và tâm thế của con người trong lịch sử.
TẶNG AN NAM SỨ THẦN BÀI LUẬT THẬP VẬN Lý Chi Phong
Văn đạo Giao Nam tục, Dân cư chướng hải nhuyên. Ân luân tân vũ lộ, Phong nhưỡng cựu sơn xuyên. Giới cát quần man biểu, Phong liên bách Việt thiên. Thời thanh trình thụy trĩ, Thủy độc thiếp phi diên. Tượng tự thôn đồng ngự, Hương tùy cổ khách thuyền. Sa biên nhiêu quắc nỗ, Uyên để thổ giao diên. Địa khí tiên xuân noãn, Mai hoa vị lạp nghiên. Cống bằng trùng dịch thiệt, Gia dưỡng bát tàm miên. Thái họa Chu vương hội, Đồng tiêu Hán sử biên. Phùng quân hoàn tác biệt, Tương ức Ngũ Khê yên.
Dịch nghĩa:
TẶNG SỨ THẦN NƯỚC AN NAM MƯỜI VẦN THƠ BÀI LUẬT
Nghe nói phong tục phía Nam Giao châu, Dân cư ở sát ngay bờ biển. Ơn mưa móc mới vâng ân chiếu thiên tử, Phong cương vẫn là núi sông xưa. Địa giới tách ngoài quần man, Phong tục gần bên bách Việt. Lúc thanh bình có chim trĩ trắng hiện điềm lành(1 ), Nước độc khiến diều bay phải sa xuống(2 ). Voi thuần, do trẻ quê chăn dắt, Hương thơm theo thuyền khách buôn đưa đi. Bên bãi có nhiều quắc nỗ(3 ), Đáy vực nhả dãi giao long(4 ). Trước mùa xuân, khí đất đã ấm, Chưa tháng Chạp, hoa mai đã tươi. Triều cống phải nhờ qua nhiều lần phiên dịch, Dân gia một năm nuôi tám lứa tằm. Tranh vẽ việc hội kiến vua nhà Chu, Cột đồng có ghi trong sử đời Hán(5 ). Được gặp ngài, lại phải cùng ngài ly biệt, Nhớ nhau, thường tưởng đến mây khói Ngũ Khê(6 ).
Dịch thơ:
TẶNG SỨ THẦN AN NAM MƯỜI VẦN THƠ
Ta nghe phong tục Giao Châu Cư dân chung sống biển sâu dặm ngàn Vâng chầu thiên tử thánh ân Phong cương sơn thủy tầng đồng từ xưa Sách trời phân định nắng mưa Tục dân Bách Việt mau thưa cũng gần Từ xưa bạch trĩ cống phần Nước thiêng diều quạ cơ chừng mạng vong Thuần voi trẻ dắt trên đồng Hương thơm muôn nẻo con đường Đông – Tây Bãi cồn “quắc nỗ” lạ thay Giao long đáy vực còn đây hương trời Xuân về khí đất nhuần tươi Hoa mai chúm chím vàng phơi nắng vàng Cống đoàn xa đến lân bang Đất nhà tám lứa tằm đang chín dần Kìa tranh hội kiến Chu công Kìa trang sử Hán cột đồng còn ghi Cầm tay Phùng sứ biệt ly Nhớ nhau trông khói Ngũ Khê đỡ buồn.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([1]) Trĩ trắng: chỉ việc nước Việt Thường xưa sai sứ mang bạch trĩ dâng lên Chu Thành Vương, có tâu rằng: “Trời không có mưa dầm gió lớn, biển không nổi ba đào đã ba năm, có lẽ Trung Quốc có đấng thánh nhân chăng? Vì vậy mới sang cống”. Sứ Việt Thường phải qua nhiều lần phiên dịch mới vào cống được.
([2]) Nước độc: theo Hậu Hán thư – Mã Viện truyện, khi Mã Viện sang nước ta đến Hồ Tây thấy hơi nước mờ mịt, rất độc, diều bay rơi lả tả xuống hồ.
([3]) Quắc nỗ: Ná bắn con quắc. Quắc là một loài cáo nhỏ, hay ngậm cát phun người làm cho người ốm.
([4]) Dãi giao long: tức long diên hương, tên một thứ hương liệu.
([5]) Cột đồng: tức cột đồng do Mã Viện đời Hán dựng để định biên giới.
([6]) Ngũ Khê: tên năm vùng đất man di ở, nay thuộc đất hai tỉnh Hồ Nam và Qúy Châu – Trung Quốc. Có lẽ ở đây, tác giả dùng Ngũ Khê để chỉ nước ta.
Cực phán hồng mông khí, Khu phân thượng hạ nhuyên. Đông Tây Nam Bắc giới, Hoài Hải Tế Hà xuyên. Việt điện cư sơ định, Thiên trung chính bất thiên. Chu lâm khu hổ báo, Ngu giáo lạc ngư diên. Lư hạng khai thư thục, Kỳ đình mại tửu thuyền. Vũ tình thiêm tượng tích, Phong noãn tống long diên. Hàm nhẫn cường vi thắng, Si văn xảo lộng nghiên. Vạn hoa tranh tú phát, Quần động nhậm an miên. Vương đạo xa thư cộng, Hoàng triều chí kỷ biên. Thi thành liêu sử tả, Hà xán hải vân yên.
Dịch nghĩa:
KÍNH HỌA THƠ TRƯỜNG LUẬT MƯỜI VẦN CỦA CHI PHONG SỨ CÔNG
Phùng Khắc Khoan
Thái cực chia khí hỗn mang, Định ra khu vực trên dưới. Địa giới có Đông – Tây – Nam – Bắc, Sông có Hoài – Hải – Tế – Hà. Cõi nước Việt mới định, Chính giữa trời, không thiên không lệch. Rừng Chu xua hổ báo, Giáo hóa triều Ngu, cá diều đều vui(7 ). Khắp thôn quê đều mở trường học, Nơi kỳ đình có thuyền bán rượu(8 ). Mưa tạnh thấy dấu chân voi in, Gió ấm áp đưa mùi long diên hương. Lấy sức mạnh của sự nhẫn nhịn làm thắng, Viết văn chương khéo điểm tô. Muôn hoa nở đua vẻ đẹp, Mọi loài được mặc sức ngủ yên. Theo đạo vua, chung một cỡ trục xe, chữ viết(9 ), Hoàng triều có ghi trong sử sách. Thơ làm xong đem ra viết ngay, Ráng rực rỡ chiếu khắp mây khói mặt biển.
Dịch thơ:
KÍNH HỌA THƠ MƯỜI VẦN CỦA CHI PHONG
Từ xưa thái cực mang mang Dần dần định giới nước, làng phân chia Đông – Tây – Nam – Bắc tứ bề Tế – Hà – Hoài – Hải sông kia dưới trời Kìa trông Việt quốc mà coi Chính trung trời đất, vật – người hanh thông Rừng Chu hổ báo không cùng Cá, diều trời vực nỗi mừng hiện ra Thôn quê trẻ nhỏ vang ca Kỳ đình thuyền rượu gần xa dập dìu Voi còn in dấu chân rêu Long diên hương ngát gió chiều đưa sang Từ xưa nhẫn nhịn lân bang Văn chương từ phú hàng hàng điểm tô Muôn hoa đùa gió sắc phô Chúng sinh thuần phác sông hồ biếc xanh Trung dung đạo thánh an lành Hoàng triều lưu vết, sách kinh rõ ràng Thơ đôi vần ghép đưa sang Ráng chiều vàng rực biển vàng khói mây.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([7]) Cá diều đều vui: Kinh Thi: “Diên phi lệ thiên, ngư dược vu uyên” (Diều bay sát trời, cá nhảy dưới vực), ý nói đạo thánh nhân tham thiên địa, tán hóa dục khiến muôn loài đều được sung sướng, thỏa thuê.
([8]) Kỳ đình: nghĩa đen là nơi quán chợ.
([9]) Chung trục xe, chữ viết: ý nói thiên hạ thống nhất. Dùng chữ trong sách Trung Dung.
HẢI ĐÔNG KIM DƯƠNG DẬT SĨ KÍNH THỨ SỨ CÔNG TIỀN VẬN, ỔI TRÌNH MAI NAM NGHỊ TRAI(NHỊ THỦ)
KỲ NHẤT
An Nam phong tục tự thành hương, Chung cổ quân thần củng thánh vương. Địa hữu sơn xuyên thiên địa giới, Thiên vô vũ tuyết thiếp y thường. Hiến lai bạch trĩ tam trùng dịch, Bao đắc thanh mao nhất quĩ hương. Bạt thiệp trường đồ dư tứ vạn, Vấn công niên kỷ chính ưng dương.
Dịch nghĩa:
KIM DƯƠNG DẬT SĨ(10 ) Ở HẢI ĐÔNG KÍNH THEO VẦN THƠ TRƯỚC CỦA SỨ CÔNG, MẠN PHÉP TRÌNH NGÀI MAI NAM NGHỊ TRAI (HAI BÀI)
BÀI MỘT
Phong tục An Nam tự thành một nước, Xưa nay vua tôi vẫn thần phục thánh đế. Đất có núi sông, địa giới hơi thiên lệch, Trời không có mưa tuyết, chẳng ướt áo xiêm. Tới dâng bạch trĩ, qua ba lần phiên dịch(11 ), Cống cỏ thanh mao, một hòm thơm phức(12 ). Lội suối, trèo đèo, đường dài hơn bốn vạn dặm, Hỏi tuổi ngài, đương lúc ưng dương(13 ).
Dịch thơ:
KIM DƯƠNG DẬT SĨ HỌA THƠ MAI NAM NGHỊ TRAI
BÀI MỘT
An Nam phong tục chia riêng Từ xưa vẫn giữ mối riềng lân bang Đất trời, sông núi rõ ràng Hiếm khi tuyết lạnh, hân hoan sắc màu Từ xưa bạch trĩ dâng trầu Cống phần gồm đủ thung châu hương lành Gian nan vạn dặm Bắc hành Tuổi thời Lã Vọng tinh anh kém gì?
Phùng Văn Khai dịch
———————
([10]) Kim Dương dật sĩ: Ngờ là Kim Tiêu dật sĩ, người Triều Tiên.
([11]) Dâng bạch trĩ: sứ nước Việt Thường đem trĩ trắng dâng Chu Thành Vương, phải qua nhiều lần phiên dịch.
[12]([12]) Cống cỏ thanh mao: thanh mao (hay bao mao) là một loại cỏ dùng để lọc rượu khi cúng tế. Thời cổ qui định vùng phương Nam hàng năm cống thứ cỏ này cho thiên tử.
([13]) Ưng dương: chim ưng tung cánh bay. Chữ này vốn chỉ Thái công Lã Vọng đời Chu, tuổi đã bảy mươi mà vẫn oai hùng như chim ưng tung cánh bay. Đây chỉ Phùng Khắc Khoan, lúc này cũng bảy mươi tuổi.
Vị duyên vương sự cửu ly cư, Hoàng phát phiêu nhiên thất thập dư. Cống hiến dã kê Chu sử bút, Cảnh phân đồng trụ Hán gia thư. Cửu Chân hương quốc thiên sơn lộ, Vạn lý hành trình nhất trúc dư. Công quán ngẫu đồng nhàn nhật thoại, Phúc trung năng vận Huệ Thi xư (xa).
Dịch nghĩa:
BÀI HAI
Vì việc nhà vua mà phải xa nhà lâu, Ngài hơn bảy mươi tuổi, tóc vàng phơi phới. Sử nhà Chu có ghi nước ngài xưa đã cống gà đồng(14 ), Sách nhà Hán còn chép chuyện cột đồng chia biên giới. Quê hương Cửu Chân của ngài đường xa hơn ngàn núi, Muôn dặm hành trình ruổi rong một chiếc xe tre. Ngẫu nhiên rỗi rãi ở công quán cùng nhau đàm thoại, Trong bụng ngài quả là chứa năm xe sách của Huệ Thi(15 ).
Dịch thơ:
BÀI HAI
Việc vua năm tháng xa nhà Tóc vàng phơi phới, niên đà bảy mươi Sử Chu còn chép tích trời Cột đồng Hán thất dặm phơi muôn trùng Cửu Chân vạn dặm cây rừng Một xe rong ruổi, một thân lý trình Thư phòng công quán phân minh Huệ Thi thuở trước đinh ninh kém gì.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([14]) Gà đồng: chỉ bạch trĩ mà trước kia nước Việt Thường từng mang cống Chu Thành Vương.
([15]) Huệ Thi: Sách Trang Tử có câu “Huệ Thi đa phương, kỳ thư ngũ xa” (Huệ Thi nhiều tài, sách của ông ta có đến năm xe).
ĐÁP THỨ HẢI ĐÔNG SỨ KIM DƯƠNG DẬT SĨ THI VẬN(NHỊ THỦ) Phùng Khắc Khoan KỲ NHẤT
Hải Đông cựu thị Dục Long hương, Tú phát anh tài khả tá vương. Bát đẩu cao danh Tào Tử Kiến, Nhất thiên chính luận Đỗ Hoàng Thường. Xâm xâm xạ sậu hành thiều túc, Phức phức y huân tọa tịch hương. Khách quán tạm thời tương giải cấu, Phi thanh vạn cổ cộng truyền dương.
Dịch nghĩa:
HỌA LẠI THƠ CỦA KIM DƯƠNG DẬT SĨ, SỨ Ở HẢI ĐÔNG (HAI BÀI) Phùng Khắc Khoan BÀI MỘT
Hải đông xưa vốn là nước Dục Long, Tú khí sinh anh tài, có thể giúp vua. Tám đấu cao danh như Tào Tử Kiến0(16 ), Một bài chính luận giống Đỗ Hoàng Thường(17 ). Ngựa chạy nhanh, xe đi nghiêm trang, Áo xông hương, chỗ ngồi thơm phức. Nơi khách quán tạm được cùng nhau gặp gỡ, Thanh danh sẽ cùng được lưu truyền muôn thuở.
Dịch thơ:
BÀI MỘT
Hải đông gốc gác từ xưa Anh hùng xuất xử giúp vua lẽ thường Lừng danh Tử Kiến văn chương Một gương trung chính Hoàng Trường lưu danh Trang nghiêm xe ngựa bon nhanh Xiêm y mẫu mực thơm lành hương bay Quán mừng gặp gỡ nhau đây Danh thơm còn mãi như cây trên rừng.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([16]) Tào Tử Kiến: tức Tào Thực, con thứ của Tào Tháo thời Tam Quốc. Ông giỏi thơ văn, tài cao, từ nhỏ đã nổi tiếng làm thơ nhanh. Tạ Linh Vận từng nói: Văn chương thiên hạ có mười đấu, một mình Tào Tử Kiến được tám đấu.
([17]) Đỗ Hoàng Thường: người thời Đường Đức Tông, từng đỗ tiến sĩ, tính trung trực, làm quan đến Tiết độ sứ.
Đồng nhất chi lan nhất thất cư, Nhật tương huân đức hữu hương dư. Khí bài lật liệt tam đông tuyết, Tín báo bình an vạn lý thư. Nam kị đông tiềm đào giáo hóa, Xuân hồi dương úc mãn kham dư. Cổ vân: Tứ hải giai huynh đệ, Tương tế đồng chu xuất cộng xư (xa).
Dịch nghĩa:
BÀI HAI
Chúng ta cùng ở một nhà có cỏ chi, hoa lan(18 ), Ngày ngày cùng rèn luyện cho nhau có đức, thơm có thừa. Tuyết ba tháng đông, khí trời lạnh buốt, Thư từ muôn dặm, báo vẫn bình an. Giáo hóa huân đào đến cả phương Nam, phương Đông(19 ), Xuân về, khí ấm tràn trề trời đất. Người xưa nói: Bốn bể đều là anh em(20 ), Ngồi cùng thuyền, ra cùng xe, cùng giúp nhau.
Dịch thơ:
BÀI HAI
Chung nhà cỏ chỉ, hoa lan Nức thơm đức hạnh, trời ban chí bền Tháng ba tuyết đọng bên thềm Tin mừng muôn dặm bình yên thêm mừng Huân đào giáo hóa Nam – Đông Phong quang khí ấm cơ tầng như mây Anh em tứ hải về đây Thuyền, xe sum họp chung xây cơ đồ.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([18]) Cỏ chi, hoa lan: sách Khổng Tử gia ngữ có câu: “Dữ thiện nhân cư, như nhập chi lan chi thất” (Cùng ở với người thiện như được vào nhà có cỏ chi hoa lan).
([19]) Câu này ý nói: giáo hóa thánh hiền đã đến cả An Nam (Nam) và Triều Tiên (Đông).
([20]) Bốn bể đều là anh em: câu này trong sách Luận ngữ.