CHÙM THƠ PHÙNG KHẮC KHOAN DO PHÙNG VĂN KHAI
DỊCH SANG THỂ LỤC BÁT
(Kỳ thứ hai mươi lăm)
Lời người dịch: Trong quá trình dịch thơ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan sang thể lục bát công bố trên các trang báo thời gian qua, người dịch đã nhận được nhiều phản hồi tích cực, nhất là sự bổ sung các nguồn tư liệu để giúp phần dịch thơ được khang trang, trọn vẹn hơn. Về các bài hành niên trong Ngôn chí thi tập, ngoài phần tuyển chọn của các vị Giáo sư Bùi Duy Tân, Trần Lê Sáng, Trần Quốc Vượng đã in trong Hợp tuyển thơ văn Phùng Khắc Khoan, người dịch đã có thêm các nguồn tư liệu khác bổ sung vào tập thơ. Chùm dịch thơ về các bài hành niên trong kỳ thứ hai mươi lăm ở trong khung khổ ấy. Người dịch cũng đã có buổi làm việc với lãnh đạo Nhà xuất bản Giáo dục để tiến hành các thủ tục xuất bản thơ văn Phùng Khắc Khoan hướng tới chào mừng kỷ niệm 500 năm ngày sinh đức Trạng Bùng (1528-2028).
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai
行 年 自 述
天 厚 因 材 栽 者 掊,
一 年 又 迎 一 春 來.
靜 推 易 理 庭 前 草,
動 索 詩 褱 窗 外 梅.
學 造 道 原 期 日 進,
迨 逢 文 運 幸 天 開.
男 見 遇 些 好 時 節,
到 手 方 知 大 用 材.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN TỰ THUẬT
Thiên hậu nhân tài tài giả bồi,
Nhất niên hựu nghinh nhất xuân lai.
Tĩnh suy dị lý(1 ) đình tiền thảo,
Động tố thi hoài song ngoại mai.
Học tháo đạo nguyên(2 ) kỳ nhật tiến,
Đãi phùng văn vận hạnh thiên khai.
Nam nhi ngộ ta hảo thời tiết,
Đáo thủ phương tri đại dụng tài.
Dịch nghĩa:
THUẬT LẠI VIỆC TRONG NĂM
Trời ưu ái nên vun đắp tài năng cho ta,
Mỗi năm lại đón một mùa xuân tới.
Đám cỏ trước sân ẩn chứa cái “tĩnh” của dịch lí,
Cây mai ngoài cửa sổ là cái động của lòng thơ.
Học là khởi nguồn của đạo, mỗi ngày một thêm tiến bộ
May mắn gặp được lúc văn vận thiên khai
Nam nhi gặp thời cơ thuận lợi
Đến tay mới biết dùng cái tài lớn.
Dịch thơ:
THUẬT LẠI VIỆC TRONG NĂM
Trời xanh vun đắp tài hoa
Mùa xuân lại đến muôn hoa đón mừng
Trong sân mầm cỏ âm thầm
Nhành mai buông bắt mỗi vần thơ reo
Khơi nguồn đạo học ta theo
Thiên khai văn vận nước bèo hanh thông
Nam nhi tụ hội mây rồng
Thân mang tài lớn tất dùng đâu sai.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([1]) Dị lý: triết lý của kinh Dịch.
([2]) Đạo nguyên: tức sách Nguyên đạo của Hàn Dũ, giải thích các trước tác Đại học, Trung dung để đáp ứng những vấn đề của thời đại. Ông viết: “Cái ta gọi là Đạo, không phải là các cho tới nay gọi là Đạo của Lão và Phật. Nghiêu (thánh vương đời cổ) lấy Đạo truyền cho Thuấn (một thánh vương khác được coi là người nối vua Nghiêu). Thuấn lấy đó truyền cho Vũ( người nối vua Thuấn và lập nhà Hạ), Vũ lấy đó truyền cho vua Văn, Vũ, Chu Công (ba người sáng lập nhà Chu) truyền cho Khổng Tử. Khổng Tử truyền cho Mạnh Kha. Mạnh Kha chết thì không truyền được nữa. Tuân Tử và Dương Hùng chọn lấy mà không tinh, nói đến mà không tường”. (Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên – Từ ngữ điển cố văn học, nxb Văn học, 1999, trang 314+315).
行 年 自 述
時 蓋 壬 戌 三 十 五 歲 也, 家 居 御 營. 太 師 諒 國 公 再 進 兵 撂 定 西 南, 軸 營 在 南 道.
行 庚 卅 有 五 春 秋,
學 與 年 期 日 進 俱.
養 德 養 身 頤 理 義,
于 盤 于 陸 漸 工 夫.
刻 雕 預 齒 詞 章 士,
致 澤 常 心 事 業 儒.
屈 久 也 知 伸 必 大,
此 天 所 以 厚 於 吾.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN TỰ THUẬT
Thời cái Nhâm Tuất chi tam thập ngũ tuế dã, gia cư ngự doanh.
Thái sư lượng quốc công tái tiến binh lược định tây nam, trục doanh tại nam đạo.
Hành canh táp hữu ngũ xuân thu
Học dữ niên kì nhật tiến câu
Dưỡng đức dưỡng thân di(3 ) lý nghĩa
Vu bàn vu lục tiệm(4 ) công phu.
Khắc điêu dự xỉ từ chương sĩ,
Trí trạch(5 ) thường tâm sự nghiệp nho.
Khuất cửu dã tri thân tất đại,
Thử thiên sở dĩ hậu ư ngô.
Dịch nghĩa:
TRẢI QUA TỪNG NĂM, TỰ THUẬT TÂM SỰ MÌNH
Bấy giờ năm Nhâm Tuất, tôi 35 tuổi, ở ngay vào doanh trại nhà vua ngự. Quan thái sư là Vượng Quốc Công lại tiến quân đi lược định vùng tây nam, doanh trại đóng ở Nam đạo.
Tính tuổi tôi năm nay ba mươi nhăm,
Sức học cùng với tuổi, đều một ngày một tiến.
Học nghĩa lý quẻ di, để bồi dưỡng đức tính, bồi dưỡng bản thân,
Dụng công phu quẻ tiệm, để tiến lên tảng đá, tiến lên trên cạn.
Cũng kể vào hạng từ chương, có văn thơ điêu luyện mài rũa,
Thường tâm để làm nhà nho, có sự nghiệp trí quân trạch dân.
Chờ đợi đã lâu, nay gặp thời thì vươn dậy tiến lên ắt to lớn,
Đó là giời sở dĩ đã hậu cho đời ta.
Dịch thơ:
HÀNH NIÊN TUỔI BA MƯƠI LĂM
Ta nay tuổi đúng ba lăm
Tuổi thêm trí lực như trăng thêm tròn
Quẻ di thông đến càn khôn
Dụng công quẻ tiệm vững bền đá xanh
Văn chương mài giũa mà thành
Hưng dân gắng sức, điều lành giúp vua
Hạn lâu trời bỗng đổ mưa
Cao xanh luận đạo lời thưa tạ mừng.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([1]) Quẻ Di: quẻ di, Tự Quái nói rằng: chứa rồi mới có thể nuôi (chữ 頤di có nghĩa là mép, nghĩa là nuôi) cho nên tiếp đến quẻ Di. Ôi loài vật đã có chứa họp, thì ắt có cái nuôi nó, không có cái nuôi thì không thể tồn tại, sinh sôi. Vì vậy quẻ Di mới nối quẻ Đại Súc. Quẻ này trên Cấn dưới Trấn, trên dưới hai hào dương, giữa ngậm bốn hào âm, trên đậu mà dưới đông, ngoài đặc và trong rỗng, là Tượng mép cắm người ta. Di là nuôi, miệng người ta cốt để ăn uống, nuôi thân người ta. Cho nên gọi là quẻ Di. Đấng Thánh nhân đặt quẻ, suy rộng nghĩa của chữ nuôi, lớn thì đến như trời đất nuôi lớn muôn vật, đấng Thánh nhân nuôi người hiền, cho đến muôn dân và người ta nuôi đời sống, nuôi hình hài, nuôi đạo đức, nuôi người khác, đều là đạo nuôi nấng. Động cựa hay nghỉ ngơi, dè dặt hay phát tiết là để nuôi đời sống, ăn uống quần áo là để nuôi hình hài, dáng dấp hạnh nghĩa là để nuôi đạo đức, suy mình ra người là để nuôi người khác. (Kinh Dịch – Ngô Tất Tố dịch và chú giải, nxb Văn học, 2003, trang 391).
([4]) Quẻ Tiệm: Tự Quái nói rằng: các vật không thể đậu mãi, cho nên tiếp đến quẻ Tiệm. Tiệm nghĩa là dần dần. Tiệm là tiến lên, đậu ắt có tiến, đó là lẽ co duỗi, tiêu sinh(nghĩa là tiêu đi, sinh ra). Cái của sự đậu sinh ra cũng là sự tiến, cái phản lại với sự đậu cũng là sự tiến. Vì vậy quẻ Tiệm mới nối quẻ Cấn. Tiến bằng thứ tự là dần dần, ngày nay người ta bảo là tiến thong thả là tiến dần dần, vì nó không vượt qua thứ tự mới thong thả. Nó là quẻ Tốn dưới Cấn, trên núi có cây, cây cao như núi, sự cao của nó có chỗ nhân thức (tức là sự tiến của nó có thứ tự). Vì vậy mới gọi là quẻ Tiệm.(Kinh Dịch – Ngô Tất Tố dịch và chú giải, nxb Văn học, 2003, trang 693).
([5]) Trí trạch: tận tâm với vua cho vua được hay, tận lực với dân cho dân được nhờ.
行 年
時 蓋 癸 亥 三 十 六 歲 也. 時 駐 營 在 西 都 城 外.
玩 三 十 六 易 中 爻,
自 覺 年 來 氣 愈 壕.
白 雪 庭 前 祛 舊 腊,
青 雲 路 上 結 新 交.
手 探 月 桂 由 中 得,
足 躡 天 根 到 處 高.
舜 旦 光 花 玆 又 旦,
致 君 願 效 契 而 皋.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
Thời cái Quý Hợi chi tam thập lục tuế dã.
Thời trú doanh tại tây đô thành ngoại.
Ngoạn tam thập lục dị trung hào(6 ),
Tự giác niên lai khí dũ hào.
Bạch tuyết đình tiền khư cựu lạp,
Thanh vân(7 ) lộ thượng kết tân giao.
Thủ thám nguyệt quế do trung đắc,
Túc nhiếp thiên căn đáo xứ cao.
Thuấn(8 ) đán quang hoa tư hựu đán,
Trí quân nguyện hiệu Tiết(9 ) nhi Dao(10 ).
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Qúy Hợi, ta ba mươi sáu tuổi.
Thời gian đó ta đóng quân tại phía tây ngoài kinh thành.
Tuổi ba mươi sáu, ta nghiền ngẫm mỗi quẻ trong Kinh dịch,
Tự biết rằng năm tới khí chất càng mạnh mẽ.
Tuyết trắng trước sân xua tháng 12 cũ,
Trên dặm thanh vân kết giao bạn mới,
Tay với cung trăng tự mình đã có được cơ hội,
Chân nhẹ bước lên bầu trời tới nơi cao.
Ánh sáng ngày Thuấn rực rỡ nay lại thêm một ngày mới
Phò vua nguyện học theo ông Tiết và ông Cao Dao.
Dịch thơ:
HÀNH NIÊN TUỔI BA MƯƠI SÁU
Ba mươi sáu tuổi tay cầm
Lời trong Kinh dịch xem phần sâu xa
Năm sang tuyết trắng sân nhà
Thanh vân muôn dặm bạn xa nên gần
Cung trăng dường tự tay cầm
Trời cao vạn trượng trong ngần mây bông
Lung linh ngày Thuấn rực hồng
Học theo ông Tiết theo cùng ông Cao.
Phùng Văn Khai dịch
———————
([6]) Hào: vạch bát quái, mỗi quẻ trong kinh dịch chia ra sáu hào. Hào nghĩa là giao nhau.
([7]) Thanh vân: mây xanh. Chỉ việc đi thi lập công danh. Sử ký: Tu Gải viết: Giả bất ý quân năng tự chí ư thanh vân chi thượng, Giả bất cảm phục độc thiên hạ chi thư, bất cảm phục dự thiên hạ chi sự(492) = Tu Giả nói: Giả này không ngờ ngài tự mình đã đến được địa vị cao(như thế). Giả tôi về sau không dám đọc sách của thiên hạ, không dám dựa vào việc thiên hạ nữa. Đường mây. (Từ ngữ điển cố văn học – Nguyên Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên, Nxb Văn học,1999, trang 878).
([8]) Thuấn: Thuấn họ Diêu, tên Trùng Hoa, cha là Cổ Tẩu, người có mắt như mù, không phân biệt điều phải trái tốt xấu, mẹ chết sớm, Cổ Tẩu lấy vợ kế sinh ra tượng là người kiêu ngạo nhưng được cha yêu. Hai người đều muốn giết Thuấn, nhưng Thuấn vẫn một mực giữ tròn đạo hiếu với cha, mẹ kế và cả với Tượng. Thuấn cày ruộng ở Lịch Sơn, đánh cá ở đầm Lôi Trạch, nổi tiếng hiền đức, có người tiến cử lên vua Nghiêu. Vua Nghiêu gả con gái cho Thuấn và giao cho Thuấn nhiều việc để thử tài, đức. Sau hai mươi năm thử thách, biết Thuấn có thể đảm đương được việc thiên hạ, bèn nhường thiên hạ cho Thuấn. Thuấn lên ngôi thiên tử hiệu là Hữu Ngu. Thiên hạ đại trị, Thuấn đi tuần về phương nam, mất ở đất Thượng Ngô, ở ngôi mười tám năm, nhường thiên hạ cho Vũ Tức vua vũ nhà Hạ. (Từ ngữ điển cố văn học- Nguyên Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên, Nxb Văn học,1999, trang 671+672).
([9]) Tiết: là tên một danh thần nổi tiếng dưới triều vua Thuấn, được nhân dân ca ngợi.
([10]) Cao: là tên một danh thần nổi tiếng dưới triều vua Thuấn, được nhân dân ca ngợi.
行 年 自 述.
卅 八 年 逢 歲 序 開,
九 他 鄉 館 四 營 臺.
從 王 租 效 坤 三 迪,
進 暈 叨 朋 泰 五 來.
遭 歲 風 雲 欣 有 幸,
經 綸 時 節 愧 非 才.
勉 將 忠 孝 希 前 哲,
不 負 天 心 栽 者 培.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN TỰ THUẬT
Tạp bát niên phùng tuế tự khai,
Cửu tha hương quán tứ doanh đài.
Tòng vương tô hiệu khôn(11 ) tam địch,
Tiến vựng thao bằng thái ngũ lai(12 ).
Tao tuế phong vân(13 ) hân hữu hạnh,
Kinh luân(14 ) thời tiết quý phi tài.
Miễn tương trung hiếu hy tiền triết(15 ),
Bất phụ thiên tâm tài giả bồi.
Dịch nghĩa:
THUẬT LẠI VIỆC TRONG NĂM
Gặp năm ba mươi tám, tuổi bắt đầu phải đi,
Phải xa quê hương, doanh trại đóng quân thì ở bốn phương.
Theo vua vụng về bắt chước ba đạo lí của quẻ Khôn,
Năm đến tiến theo vầng dương có được ơn vua ban.
Gặp năm thời vận tốt, mừng vui có được phúc lành,
Thời cơ làm chính trị đến, tự thẹn vì không có nhiều tài năng.
Không ngừng gắng sức sẽ dốc lòng phù trợ vua, hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, người hiền trí trước ít thấy,
Không phụ lòng trời đã vun đắp tài năng cho ta.
Dịch thơ:
HÀNH NIÊN TUỔI BA MƯƠI TÁM
Ba mươi tám tuổi lên đường
Quân doanh đóng khắp bốn phương đất trời
Theo vua hành đạo xem thời
Vầng dương thêm tỏ vận người thêm thông
Phúc lành kia hội mây rồng
Tài sơ riêng thẹn tấc lòng riêng ta
Dốc tôn thờ nước, vun nhà
Cũng là không phụ trời xa giúp mình.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([11]) Khôn: quẻ khôn trong kinh dịch, ví như đất; tính thuộc về phía nữ giới. đầu cả hanh thông, lợi về nết trinh của ngựa cái. Quân tử có sự đi. Trước mê sau được, chủ về lợi. Phía tây nam được bạn, phía đồn bắc mất bạn. Yên phận giữ nét trinh thì tốt. Ngựa cái là giống ngựa ngoan ngoãn mà đi khỏe. Dương trước âm sau, dương chủ về nghĩa, âm chủ về lợi, tây nam là phương âm, đông bắc là phương dương. An là việc làm của nết thuận, “Trinh” là sự giữ gìn của đức mạnh. Hễ gặp quẻ này thì lời chiêm là cả hanh thông mà lợi, phải lấy nết thuận, đức mạnh làm chính, nếu có đi đâu thì trước mê sau được mà chủ về lợi, đi sang tây nam thì được bạn, đi sang đông bắc mà mất bạn. Đại để nếu chịu yên về đường chính thì tốt. (Kinh Dịch – Ngô Tất Tố dịch và chú giải, nxb Văn học, 2003, trang 106).
([12]) Thái ngũ lai: năm tốt đẹp, may mắn.
([13]) Phong vân: gió mây. Chỉ việc gặp thời vận tốt mà làm nên. Kinh dịch Vân tùng long, phong tùng hổ (424) = mây theo rồng, gió theo hồ, là những vật cùng khí cùng loại thường cảm ứng mà tìm đến nhau.X. Hội long vân. (Từ ngữ điển cố văn học – Nguyên Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên, Nxb Văn học,1999, trang 761).
([14]) Kinh luân: Kinh là gỡ từng mối tơ ra, luân là so những sợi tơ cùng một loại mà kết thành con. Chỉ việc sửa sang sắp đặt việc chính trị. (Từ ngữ điển cố văn học – Nguyên Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên, Nxb Văn học,1999, trang 531).
([15]) Tiền triết: người hiền trí trước.
行 年
時 蓋 丙 寅 之 三 十 九 也.
行 庚 三 十 年 加 九,
進 德 工 夫 期 日 就.
既 往 前 愆 雪 盡 融,
方 來 新 善 陽 初 復.
虛 盈 消 息 與 時 行,
否 泰 窮 通 随分 有.
天 若 陰 扶 積 善 家,
兒 孫 福 德 應 吾 厚.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
Thời cái Bính Dần chi tam thập cửu tuế dã.
Hành canh tam thập niên gia cửu,
Tiến đức công phu kỳ nhật tựu.
Ký vãng tiền khiên tuyết tận dong,
Phương lai tân thiện dương sơ phục(16 ).
Hư doanh tiêu tức(17 ) dữ thời hành,
Bĩ thái(18 ) cùng thông(19 ) tùy phận hữu.
Thiên nhược âm phù(20 ) tích thiện gia,
Nhi tôn phúc đức ứng ngô hậu.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Bính Dần, ta ba mươi chín tuổi.
Năm nay ta ba mươi chín tuổi,
Người đàn ông rèn luyện đạo đức thường xuyên thì mới mong có ngày thành công.
Nên rửa sạch hết những lỗi lầm trước đây,
Sửa lỗi lầm, quay về con đường chính thì những điều thiện mới sẽ đến với ta.
Vơi đầy, mất được đều là sự biến đổi không ngừng, như mùa đi qua vậy.
Con người cũng như vạn vật trong trời đất đều phải trải qua sự biến đổi: hết thịnh tới suy, hết bế tắc là tới hanh thông, hết khổ tới sướng.
Cõi dương thuận ý trời, cõi âm thì được giúp đỡ, gia đình làm được nhiều việc tốt,
Vì phúc đức của con cháu nên ta phải coi trọng việc luyện rèn tài đức.
Dịch thơ:
HÀNH NIÊN TUỔI BA MƯƠI CHÍN
Tuổi ba mươi chín đẹp thay
Đức siêng rèn luyện ắt ngày thành công
Lỗi lầm gột rửa hanh thông
Đường đi chính đạo tất không sai đường
Vơi – đầy, được – mất lẽ thường
Người như vạn vật yêu thương mà thành
Âm dương thuận thảo an lành
Nêu cao gương sáng mà xanh biển trời.
Phùng Văn Khai dịch
—————-
([16]) Phục: quẻ phục: hanh thông, ra vào không gặp tai nạn, bạn bè sẽ lần lượt tới, không lầm lỗi nữa. Vận trời phản phục (tráo đi trở lại), cứ bảy ngày thì trở lại, hành động việc gì cũng có lợi. Hay là: khí dương bây giờ trở lại, cho nên hanh thông. Người quân tử(dương) ra vào tự do, không bị tai nạn; rồi cũng như các hào dương khác kéo tới theo cũng như bạn bè tới, không còn lầm lỗi nữa (theo Nguyễn Hiến Lê – Kinh dịch đạo của người quân tử, Nxb Văn học, 1992, trang 284+285).
([17]) Hư doanh tiêu tức: nói về quy quy luật của vũ trụ, nhân sinh, cực thịnh thì suy, hết suy lại thịnh, cứ lần lượt thay đồi.
([18]) Bĩ thái: tên hai quẻ trong Kinh Dịch. Bĩ trái với Thái, Thái thì dương ở dưới đi lên, giao với âm ở trên giáng xuống. Trời đất không giao hòa nhau được, mọi vật đều bế tắc gọi là bĩ, bĩ thì dương ở trên đi lên, âm ở dưới đi xuống không giao nhau; trời đất giao hòa nhau, mọi vật đều sinh trưởng, thông suốt gọi là thái. Chỉ vận số lúc cùng lúc thông, khi thịnh khi suy. Âm dương không giao nhau thì bế tắc, ở đạo người như vậy mà vạn vật cũng như vậy. (theo Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch đạo của người quân tử, tblần 9, Nxb Văn học, tr 266).
([19]) Cùng thông: Sự vật phát triển tới cực điểm, khi cùng tận, thì tất phải biến hóa, sau khi biến hóa liền thông đạt, nhờ thông đạt mà được dài lâu.
([20]) Thiên nhược âm phù: thiên trợ âm phù.
己 巳 行 年.
時 盖 己 巳 之 四 十 二 歲 也. 時 移 居 西 都 砦
四 十 行 庚 有 二 加,
鄉 情 將 半 度 韶 花.
災 秧 盡 墜 秋 霜 業,
富 貴 重 開 春 雨 花.
靜 驗 乾 坤 推 理 數,
占 饒 山 水 作 生 涯.
慶 餘 定 有 兒 孫 福
水 信 天 扶 積 善 家.
Phiên âm:
KỶ TỴ HÀNH NIÊN
Thời cái Kỷ Tỵ chi tứ thập nhị tuế dã. Thời? cư tây đô?
Tứ thập hành canh hữu nhị gia,
Hương tình tương bán độ thiều hoa.
Tai ương tận trụy thu sương nghiệp,
Phú quý trùng khai xuân vũ hoa.
Tĩnh nghiệm càn khôn(1) suy lí số(2),
Chiêm nhiêu sơn thủy tác sinh nhai,
Khánh dư định hữu nhi tôn phúc.
Thủy tín thiên phù tích thiện gia.
Dịch nghĩa:
TRẢI QUA NĂM KỶ TỴ
Bấy giờ là năm Kỷ Tỵ, ta bốn mươi hai tuổi
Năm nay ta bốn mươi hai tuổi,
Tình quê sắp tới nửa đến độ tốt đẹp,
Vượt qua hết tai ương tới khi già có được sự nghiệp.
Giàu sang lại nở mưa xuân đẹp,
Tĩnh tâm chiêm nghiệm quẻ càn khôn để mà tìm gỡ ra quy luật lí học và số học.
Xem nhiều cảnh đẹp núi sông để làm mà kiếm sống.
Ta mừng được yên ổn để phúc lại cho con cháu,
Có lòng thành thực, cõi dương thì được giúp đỡ, gia đình làm được nhiều điều tốt.
Dịch thơ:
BÀI HÀNH NIÊN TUỔI BỐN MƯƠI HAI
Năm nay tuổi chẵn bốn hai
Tình quê đương độ hôm mai sáng bừng
Vượt qua tai ách muôn trùng
Tuổi thêm sự nghiệp xem chừng cao thêm
Càn khôn lý, số chong đèn
Núi sông tươi thắm móng nền yên an
Gia phong mực thước khang trang
Cõi lòng thành thực như ngàn thông reo.
Phùng Văn Khai dịch
行 年
時 蓋 辛 未 之 四 十 四 歲 也.
行 庚 四 十 四 年 強,
時 節 欣 逢 泰 進 陽.
惟 日 每 加 曾 省 已 ,
? 時 租 效 孟 尊 王.
幸 遭 千 載 風 雲 會,
喜 近 中 天 日 月 光.
瑞 氣 農 浮 丹 禁 曉,
朝 回 滿 神 惹 餘 香.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
Thời cái Tân Mùi chi tứ thập tứ tuế dã.
Hành canh tứ thập tứ niên cường,
Thời tiết hân phùng thái tiến dương.
Duy nhật mỗi gia tăng tỉnh dĩ
Tế thời tô hiệu mạnh tôn vương.
Hạnh tao thiên tải phong vân( ) hội,
Hỉ cận trung thiên nhật nguyệt quang.
Thụy khí nông phù đan cấm hiểu,
Triêu hồi mãn thần nhạ dư hương.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Tân Mùi, ta bốn mươi tư tuổi.
Năm nay ta bốn mươi tư tuổi khỏe,
Hớn hở gặp được thời cơ thuận lợi mà tiến lên từng ngày.
Mưu nghĩ ngày một tăng thêm tầm mở mang,
Mong gặp thời để được phù tá đấng quân vương.
Hớn hở gặp được cơ hội nghìn năm,
Niềm vui mong tìm được ngày tháng tươi sáng.
Khí trời tốt giúp cho trồng trọt, như liều thuốc mà không ai hiểu rõ,
Đi chầu về, tay áo các thần vẫn còn đầy hương nhà vua thơm phức.
Dịch thơ:
BÀI HÀNH NIÊN TUỔI BỐN MƯƠI TƯ
Thân cường tuổi bốn mươi tư
Mỗi ngày tinh tấn mỗi giờ hanh thông
Kế mưu, sách lược xa trông
Quân vương sớm gặp thêm mong mỗi ngày
Nghìn năm hội tụ nhau đây
Phong quang thắm thiết rồng mây giữa trời
Khí lành cây cối thêm tươi
Áo chầu trở gót nức mùi hương thơm.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([21]) Phong vân: gió mây. Chỉ việc gặp thời vận tốt mà làm nên. Kinh dịch Vân tùng long, phong tùng hổ (424) = mây theo rồng, gió theo hồ, là những vật cùng khí cùng loại thường cảm ứng mà tìm đến nhau.X. Hội long vân. (Từ ngữ điển cố văn học, Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên, trang 761).
行 年
時 蓋 癸 酉 之 四 十 六 歲 也.
人 生 失 得 總 由 天,
聊 自 閑 中 養 浩 然.
詠 雪 庭 前 非 舊 日,
觀 梅 窗 外 已 新 年.
詩 書 萬 卷 生 平 契,
香 火 三 生 夙 昔 緣.
時 遇 泰 來 欣 有 幸,
春 增 壽 弄 愊 兼 全.
Phiên âm:
HÀNH NIÊN
Thời cái Qúy Dậu chi tứ thập lục tuế dã.
Nhân sinh thất đắc tổng do thiên,
Liêu tự nhàn trung dưỡng hạo nhiên( ).
Vịnh tuyết đình tiền phi cựu nhật,
Quan mai song ngoại dĩ tân niên.
Thi thư vạn quyển sinh bình khiết,
Hương hỏa( ) tam sinh( ) túc tích duyên.
Thời ngộ thái lai( ) hân hữu hạnh,
Xuân tăng thọ lộng phúc kiêm toàn.
Dịch nghĩa:
NĂM TRẢI QUA
Bấy giờ là năm Qúy Dậu, ta bốn mươi sáu tuổi.
Đời người, được hay mất đều là quy luật của tự nhiên,
Hãy làm cho tâm an nhàn, nuôi dưỡng chí khí thẳng tiến.
Vịnh tuyết trước sân, chẳng phải đã lâu ngày?
Ngắm cây mai bên ngoài song cửa sổ, biết năm mới đến.
Sách vở đến nay đã vạn quyển, đọc từ lúc còn sống khó khăn, nhọc nhằn,
Thật là hợp với duyên xưa, vua tôi hương hỏaba sinh.
Gặp dịp thái lai, hớn hở vì sẽ có phúc lành,
Thêm xuân thêm thọ, phúc đủ cả.
Dịch thơ:
BÀI HÀNH NIÊN TUỔI BỐN MƯƠI SÁU
Đời người giấc mộng hoàng hoa
Bốn mươi sáu tuổi la đà nhi nhiên
Thân như tuyết tự tham thiền
Mai ngoài song hé trăm miền báo xuân
Thi, Thư vạn quyển làu thông
Vua tôi hòa hợp niềm mong vẹn toàn
Đức lành phúc trạch an khang
Thêm xuân thêm thọ trong làn gió xuân.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([22]) Hạo nhiên: là một loại vũ khí thời xưa, nó dùng để chỉ khí khái chính đại, chí khí thẳng tiến.
([23]) Hương hỏa: 1. Tức hương hòa nhân duyên = duyên hương lửa, duyên gắn bó vốn có từ kiếp trước. 2. Hương và đèn là những vật dùng vào việc cúng bái. (Từ ngữ điển cố văn học – Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên, nxb Văn học, 1999, trang 483).
([24]) Tam sinh: ba sinh, nghĩa là nói về con người có ba kiếp sống: kiếp trước, kiếp này và kiếp sau, hương hỏa tam sinh ý nói là có duyên với nhau cả ba kiếp. (Từ ngữ điển cố văn học – Nguyễn Thạch Giang, Lữ Huy Nguyên, nxb Văn học, 1999, trang 841).
([25]) Thái lai: là quẻ “thái”.
Phùng Văn Khai dịch
—————–
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 3]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 4]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 5]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 6]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 7]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 8]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 9]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 10]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 11]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 12]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 13]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 14]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 15]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 16]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 17]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 18]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 19]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 20]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 21]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 22]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 23]
Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 24]
![Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 25] Chùm thơ Phùng Khắc Khoan do Phùng Văn Khai dịch [Kỳ 25]](https://vansudia.net/wp-content/uploads/2026/04/Ky-thu-25-tho-PKK.jpg)




























