Vansudia.netluôn đồng hành cùng bạn đọc trên các lĩnh vực Văn học, Lịch sử, Địa lý và mở rộng ra trên các lĩnh vực liên quan đến Triết học, Văn hóa, Vật lý, Thiên văn, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu đa dạng, đa chiều của bạn đọc ủng hộ và động viên.
Lời người dịch: Sau buổi làm việc với nhà thơ Nguyễn Tiến Thanh – Chủ tịch Hội đồng thành viên – Tổng Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục, tôi càng thêm quyết tâm trong việc sưu tầm, quy hoạch và dịch thơ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan sang thể lục bát. Các nguồn tài liệu đáng tin cậy về thơ văn của cụ đã được những người yêu quý gửi tới cho tôi trong đó có Sấm Thượng thư của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, mặc dù đã gần 500 năm với nhiều phiên bản song đây chính là một dấu mốc lớn thể hiện tài năng, tầm vóc của đức Trạng Bùng. Cũng từ một nguồn tư liệu đáng tin cậy, Phùng Khắc Khoan còn một tập thơ rất phong phú có tên Tặng thi tinh cảnh vật vịnh trong đó với những bài nổi tiếng đã được lưu truyền trong sử sách như Tây Hồ đề vịnh; Tây Hồ nhàn vịnh kỳ 1; Tây Hồ nhàn vịnh kỳ 2; Hải Dương đạo trung kỳ 1; Hải Dương đạo trung kỳ 2… càng cho thấy sự phong quang rộng lớn của một bậc đại thần nổi danh thời Lê – Trịnh trong văn chương chữ nghĩa. Ở kỳ thứ 26 này, là những bài dịch thơ trong tập Mai lĩnh sứ hoa thi tập từ những bản phiên âm và dịch nghĩa đáng tin cậy nhất.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai
MAI LĨNH SỨ HOA THI TẬP
到彭城
戲馬臺高舊跡遺, 道傍客舍柳低垂。 彭城睢水依然在, 漢楚興亡一局棋。
Phiên âm:
ĐÁO BÀNH THÀNH
Hý Mã đài cao cựu tích di, Đạo bàng khách xá liễu đê thuỳ. Bành Thành, Tuy Thuỷ y nhiên tại, Hán – Sở hưng vong nhất cục kỳ.
Dịch nghĩa:
Đài Hý Mã cao cao là di tích cũ, Những cây liễu rủ thấp ở nhà trọ bên đường. Bành Thành và Tuy Thuỷ vẫn y nguyên tồn tại, Hán và Sở hưng vong như một cuộc cờ.
Dịch thơ:
ĐÁO BÀNH THÀNH
Cao vời đài Hý Mã cao Xa trông liễu rủ xôn xao gió mừng Bành Thành, Tuy Thủy ung dung Cuộc cờ Hán – Sở hưng vong cơ trời.
Phùng Văn Khai dịch
到黃河東岸馹
黃河東岸古郵亭, 北往南來客幾經。 任是道人高眼界, 豋樓望入萬山青。
Phiên âm:
ĐÁO HOÀNG HÀ ĐÔNG NGẠN NHẬT
Hoàng Hà Đông Ngạn cổ bưu đình, Bắc vãng nam lai khách kỷ kinh. Nhiệm thị đạo nhân cao nhãn giới, Đăng lâu vọng nhập vạn sơn thanh.
Dịch nghĩa:
Đình trạm xưa ở Đông Ngạn, Hoàng Hà, Biết bao nhiêu hành khách đi Nam, về Bắc. Thoải mái tầm mắt nhìn từ trên cao của các đạo nhân, Lên lầu trông vời hàng vạn ngọn núi xanh.
Dịch thơ:
ĐÁO HOÀNG HÀ ĐÔNG NGẠN NHẬT
Cổ đình Đông Ngạn, Hoàng Hà Khách xuyên Nam, Bắc bôn ba dặm trường Phóng tầm mắt buổi sương tan Lầu cao phơ phất muôn vàn núi xanh.
Phùng Văn Khai dịch
題高祖廟
遭際風雲千載會, 經營基業五年成。 古來天下歸仁者, 角力初非與項爭。
Phiên âm:
ĐỀ CAO TỔ MIẾU
Tao tế phong vân thiên tải hội, Kinh doanh cơ nghiệp ngũ niên thành. Cổ lai thiên hạ quy nhân giả, Giác lực sơ phi dữ Hạng tranh.
Dịch nghĩa:
Gió mây gặp gỡ, vận hội tốt nghìn năm, Tạo dựng cơ nghiệp, chỉ năm năm là thành. Xưa nay thiên hạ đều đi theo người có nhân đức, Đấu sức lúc đầu, không phải bằng Hạng Võ ư.
Dịch thơ:
ĐỀ CAO TỔ MIẾU
Gió mây hội ngộ ngàn năm Gồm thâu thiên hạ năm năm đã thành Đức nhuần thấm tận cao xanh Đâu như Hạng Võ cậy mình mà vong.
Phùng Văn Khai dịch
題昭烈廟
一時英傑收爲用, 三百基圖危復安。 向使天心猶祚漢, 沼吳墟魏又何難。
Phiên âm:
ĐỀ CHIÊU LIỆT MIẾU
Nhất thì anh kiệt thu vi dụng, Tam bách cơ đồ nguy phục an. Hướng sử thiên tâm do tộ Hán, Chiểu Ngô khư Nguỵ hựu hà nan.
Dịch nghĩa:
Một thời anh kiệt được thu dụng, Cơ đồ ba trăm năm đang nguy trở lại an. Nếu lòng trời còn giúp nhà Hán, Thì việc lấp Nguỵ, dìm Ngô đâu có khó khăn.
Dịch thơ:
ĐỀ CHIÊU LIỆT MIẾU
Từng xưa thu dụng anh hùng Cơ đồ, riềng mối ắt không hoang tàn Lòng trời còn giúp Hán chăng? Dìm Ngô, lấp Ngụy đạp bằng gian nguy.
Phùng Văn Khai dịch
題玄天觀
化能化化機隨感, 玄又玄玄道愈尊。 默運威灵扶社稷, 普施功德满乾坤。
Phiên âm:
ĐỀ HUYỀN THIÊN QUÁN
Hóa năng hóa hóa cơ tuỳ cảm, Huyền hựu huyền huyền đạo dũ tôn. Mặc vận uy linh phù xã tắc, Phổ thi công đức mãn càn khôn.
Dịch nghĩa:
Chuyển hóa có thể chuyển hóa được là tùy theo cảm ứng, Huyền diệu, lại thêm huyền diệu, đạo càng cao vời. Ngầm vận dụng oai linh che chở cho xã tắc, Công ơn hóa dục phổ cập khắp đất trời.
Dịch thơ:
ĐỀ HUYỀN THIÊN QUÁN
Tùy người chuyển hóa mà nên Đạo cao muôn trượng diệu huyền muôn nơi Oai linh che chở biển trời Công ơn sinh dưỡng người người ơn sâu.
Phùng Văn Khaidịch
長安早朝回
銀爥朝天紫陌長, 禁城曙色正蒼蒼。 都人未識南來使, 笑指那翁老更彊。
Phiên âm:
TRƯỜNG AN TẢO TRIỀU HỒI
Ngân chúc triêu thiên tử mạch trường, Cấm thành thự sắc chính thương thương. Đô nhân vị thức Nam lai sứ, Tiếu chỉ na ông lão cánh cường.
Dịch nghĩa:
Trời buổi sớm đuốc bạc thắp dài lối đi vào cung, Ánh sáng ban mai ở cấm thành đã rạng rỡ. Người Thành Đô chưa biết sứ thần phương Nam tới, Cười chỉ bảo ông này già nhưng khoẻ.
Dịch thơ:
TRƯỜNG AN TẢO TRIỀU HỒI
Hai hàng đuốc bạc sáng trưng Cấm thành rạng rỡ hừng đông gọi mời Sứ thần Nam quốc tới nơi Thành Đô khen tặng lão lời cốt tiên.
Phùng Văn Khai dịch
登楊將公祠堂
近水樓臺先得月, 向陽花草易為春。 古聞此語猶稱頌, 今見江西第一人。
Phiên âm:
ĐĂNG DƯƠNG TƯỚNG CÔNG TỪ ĐƯỜNG
Cận thuỷ lâu đài tiên đắc nguyệt, Hướng dương hoa thảo dị vi xuân(1) Cổ văn thử ngữ do xưng tụng, Kim kiến Giang Tây đệ nhất nhân.
Dịch nghĩa:
Lâu đài ở gần mặt nước sớm trông thấy trăng, Hoa cỏ hướng về phía mặt trời dễ được tươi tốt. Từ xưa đã nghe truyền tụng câu nói này, Nay mới thấy ở Giang Tây là người thứ nhất.
Dịch thơ:
ĐĂNG DƯƠNG TƯỚNG CÔNG TỪ ĐƯỜNG
Lâu đài sương sớm trăng lên Vầng dương vẫy gọi trăm miền cỏ cây Từ xưa truyền tụng tới nay Thực người thứ nhất Giang Tây muôn trùng.
Phùng Văn Khai dịch
——————
([1]) Hai câu thơ của Tô Lân 蘇麟 (969-1052) người Hàng Châu đời Bắc Tống.